Luận văn hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên Học viện Báo chí

Nghiên cứu hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên ngành báo chí truyền thông tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền chi tiết và chuẩn xác.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

112
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên

Hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí phản ánh quá trình tương tác giữa công chúng và các kênh truyền thông đại chúng. Đối với sinh viên chuyên ngành báo chí truyền thông, hành vi này mang tính đặc thù sâu sắc. Đây vừa là nhu cầu cập nhật tin tức thường nhật, vừa là phương thức học tập nghiệp vụ then chốt. Quá trình tiếp nhận bao gồm nhiều giai đoạn liên hoàn từ chú ý, chọn lọc, giải mã nội dung đến phản hồi và lưu trữ thông tin. Sinh viên tiếp cận đa dạng loại hình như báo in, báo điện tử, phát thanh và truyền hình. Trong đó, môi trường kỹ thuật số tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận nhanh chóng mọi lúc mọi nơi. Nghiên cứu lý thuyết cho thấy hành vi này chịu sự chi phối của động cơ nội tại và bối cảnh đào tạo chuyên nghiệp. Việc tìm hiểu rõ cơ sở lý thuyết giúp xác định các quy luật tiếp nhận thông tin của nhóm công chúng đặc thù. Từ đó, các nhà nghiên cứu có thể xây dựng khung phân tích chuẩn xác cho các khảo sát thực nghiệm tại cơ sở đào tạo.

1.1. Khái niệm và cơ sở lý luận tiếp nhận báo chí

Khái niệm tiếp nhận sản phẩm báo chí chỉ sự tương tác có ý thức giữa độc giả và thông điệp truyền thông. Sinh viên chuyên ngành tiếp cận báo chí không chỉ để giải trí đơn thuần. Hoạt động này gắn liền với mục tiêu rèn luyện tư duy phản biện và tích lũy tri thức chuyên môn. Khung lý thuyết tiếp nhận nhấn mạnh vai trò chủ động của người đọc trong việc kiến tạo ý nghĩa văn bản. Quá trình tiếp nhận diễn ra qua các bước lựa chọn ấn phẩm, giải mã biểu đạt ngôn từ và chuyển hóa thông tin thành nhận thức cá nhân. Mức độ tiếp nhận chịu ảnh hưởng từ trình độ chuyên môn của sinh viên.

1.2. Các yếu tố chi phối hành vi tiếp nhận thông tin

Nhiều yếu tố tác động trực tiếp đến hành vi đọc và theo dõi tin tức của người học. Các yếu tố chủ quan bao gồm sở thích cá nhân, thói quen đọc, động cơ học tập và mức độ quan tâm chuyên ngành. Các yếu tố khách quan gồm yêu cầu từ chương trình đào tạo, mức độ phát triển công nghệ truyền thông và chất lượng ấn phẩm báo chí. Ngoài ra, quỹ thời gian rảnh rỗi và điều kiện kinh tế cá nhân cũng quyết định tần suất tiếp xúc với sản phẩm báo chí. Sự kết hợp giữa các yếu tố này định hình phong cách tiếp nhận riêng biệt của mỗi cá nhân sinh viên.

II. Thực trạng tiếp nhận sản phẩm báo chí tại Học viện Báo chí

Khảo sát thực tế tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền chỉ ra nhiều nét đặc trưng trong hành vi của sinh viên. Báo điện tử và mạng xã hội là hai kênh truyền thông được sinh viên sử dụng với tần suất cao nhất. Tỷ lệ tiếp cận báo in truyền thống có xu hướng giảm mạnh do tính cơ động của thiết bị di động. Về không gian tiếp nhận, sinh viên chủ yếu đọc báo tại nơi ở, giảng đường hoặc bất kỳ địa điểm thuận tiện nào. Thời lượng dành cho việc đọc báo phân bố rải rác trong ngày, tập trung nhiều vào các khung giờ nghỉ ngơi buổi tối. Mục đích đọc báo chủ yếu nhằm phục vụ bài tập học phần, mở rộng kiến thức xã hội và cập nhật xu hướng đời sống. Nghiên cứu cũng ghi nhận sự phân hóa rõ nét về loại thông tin được quan tâm. Các chuyên mục thời sự, chính trị, văn hóa và công nghệ thu hút lượng lớn bạn đọc trẻ chuyên ngành truyền thông.

2.1. Tần suất và loại hình báo chí sinh viên lựa chọn

Sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền ưu tiên sử dụng báo mạng điện tử nhờ tính tương tác và tốc độ cập nhật nhanh. Phần lớn sinh viên dành từ ba mươi phút đến hai tiếng mỗi ngày để tiếp cận tin tức. Các trang tin chính thống và báo điện tử uy tín luôn giữ vị trí hàng đầu trong danh mục theo dõi. Hình thức tiếp nhận đa phương tiện như video ngắn, podcast và infographic ngày càng được ưa chuộng. Xu hướng này phản ánh sự chuyển đổi hành vi mạnh mẽ theo dòng chảy truyền thông số hiện đại.

2.2. Sự khác biệt theo ngành đào tạo và năm học

Số liệu khảo sát cho thấy mức độ đọc báo có sự khác biệt rõ rệt giữa các nhóm sinh viên. Sinh viên chuyên ngành báo chí có tần suất đọc báo thường xuyên cao hơn so với sinh viên ngành truyền thông đại chúng. Xét theo năm học, sinh viên năm thứ hai đạt mức độ tiếp nhận cao nhất do bắt đầu học các môn nghiệp vụ cơ sở. Sinh viên năm nhất tiếp cận ít hơn vì chủ yếu học kiến thức đại cương. Sinh viên năm cuối thường tập trung vào thực tập và tìm kiếm việc làm nên thời lượng đọc báo giảm dần đáng kể.

III. Giải pháp nâng cao hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí sinh viên

Nâng cao chất lượng tiếp nhận sản phẩm báo chí đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa nhiều chủ thể. Cơ sở đào tạo cần đổi mới chương trình giảng dạy theo hướng gắn liền lý thuyết với thực hành phân tích tác phẩm báo chí. Giảng viên nên giao các bài tập tình huống đòi hỏi sinh viên phải theo dõi liên tục các sự kiện thời sự. Các cơ quan báo chí cần phát triển nội dung đa dạng, tối ưu hóa giao diện di động để thu hút công chúng trẻ tuổi. Bên cạnh đó, các tòa soạn có thể xây dựng chuyên trang hoặc chương trình hợp tác với các học viện đào tạo. Về phía người học, việc xây dựng thói quen đọc báo khoa học và có chọn lọc là điều kiện tiên quyết. Sinh viên cần chủ động rèn luyện kỹ năng kiểm chứng nguồn tin và phân tích đa chiều thông điệp truyền thông. Những giải pháp này sẽ tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển chuyên môn báo chí.

3.1. Giải pháp định hướng từ cơ quan báo chí và nhà trường

Học viện cần nâng cấp hệ thống tư liệu số tại thư viện để tạo điều kiện tra cứu thuận lợi cho sinh viên. Nhà trường nên tổ chức thường xuyên các hội thảo chuyên đề kết nối sinh viên với các nhà báo giàu kinh nghiệm. Đồng thời, cơ quan báo chí cần đa dạng hóa các định dạng báo chí hiện đại như megastory hay dữ liệu tương tác. Sự tương tác hai chiều giữa tòa soạn và độc giả sinh viên giúp tạo nguồn cảm hứng nghề nghiệp bền vững cho người học trong suốt quá trình đào tạo.

3.2. Phương pháp phát triển kỹ năng tiếp nhận chủ động

Mỗi sinh viên cần tự thiết lập thời gian biểu đọc báo cố định mỗi ngày để duy trì thói quen tích cực. Việc lựa chọn các nguồn tin chính thống giúp bảo đảm tính chính xác của kiến thức tích lũy. Sinh viên nên tích cực tham gia thảo luận về các tác phẩm báo chí tiêu biểu trong nhóm học tập. Kỹ năng tư duy phản biện cần được rèn luyện thường xuyên qua việc phân tích cấu trúc bài viết và quan điểm của tác giả, từ đó hình thành phản xạ chuyên môn sắc bén.

IV. Ứng dụng nghiên cứu hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí sinh viên

Đề tài luận văn mang lại giá trị học thuật quan trọng đối với chuyên ngành báo chí học. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng tin cậy về hành vi công chúng sinh viên tại Việt Nam. Nghiên cứu đã làm sáng tỏ mối liên hệ giữa môi trường đào tạo và thói quen tiếp nhận thông điệp truyền thông đại chúng. Về mặt ứng dụng, các phát hiện nghiên cứu hỗ trợ trực tiếp cho công tác đổi mới phương pháp giảng dạy tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền. Các tòa soạn báo chí cũng có thêm căn cứ thực tiễn để điều chỉnh chiến lược tiếp cận độc giả trẻ tuổi. Trong bối cảnh chuyển đổi số, việc hiểu rõ hành vi tiếp nhận giúp tối ưu hóa phương thức phân phối nội dung báo chí. Đây là tiền đề thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền báo chí nước nhà trong tương lai.

4.1. Đóng góp lý luận cho nghiên cứu báo chí truyền thông

Luận văn góp phần bổ sung và hoàn thiện hệ thống lý luận về tiếp nhận truyền thông của nhóm công chúng đặc thù. Khung lý thuyết và mô hình yếu tố ảnh hưởng cung cấp công cụ hữu ích cho các nghiên cứu tiếp theo. Công trình khẳng định vai trò của việc tiếp cận liên ngành giữa xã hội học truyền thông và tâm lý học tiếp nhận. Những luận điểm này tạo cơ sở khoa học vững chắc cho việc nghiên cứu hành vi truyền thông số trong môi trường học thuật hiện đại.

4.2. Khả năng ứng dụng thực tiễn trong công tác đào tạo

Kết quả khảo sát hỗ trợ các trường đại học xây dựng chương trình đào tạo báo chí sát thực tế hơn. Giảng viên có thể ứng dụng số liệu để thiết kế các học phần thực hành phù hợp với thói quen đọc của sinh viên. Đồng thời, các nhà quản lý cơ quan báo chí có thể áp dụng phát hiện này vào việc phát triển sản phẩm truyền thông số thu hút thế hệ trẻ, tạo cầu nối hiệu quả giữa đào tạo và thực tiễn tòa soạn.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Lv ths bch hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên ngành báo chí truyền thông ở học viện báo chí và tuyên truyền

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI TIẾP NHẬN SẢN PHẨM BÁO CHÍ CỦA SINH VIÊN NGÀNH BÁO CHÍ - TRUYỀN THÔNG 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Hành vi tiếp nhận Hành vi Hành vi luôn đóng vai trò quan trọng trong các nghiên cứu liên quan đến con người. Hiện nay, chưa có khải niệm về hành vi thống nhất mà mỗi nghiên cứu đều đưa ra những khái niệm về hành vi khác nhau.

Thuyết Hành vi của Watson bàn về hành vi con người là những tổ hợp phản ứng của cơ thể để trả lời các kích thích tác động vào cơ thể. Theo ông, để nghiên cứu hay điều khiển hành vi nói chung và hành vi con người nói riêng cần dựa vào yếu tố đầu trong công thức S (stimulation: kích thích) → R (react: phản ứng) [57]. Trong Từ điển Tâm lý học do Corsini chủ biên, khái niệm hành vi được hiểu theo nghĩa rộng như sau: “Hành vi là những hành động, phản ứng, những tương tác đáp lại kích thích bên trong và bên ngoài, bao gồm những cử chỉ quan sát được một cách khách quan, những cử chỉ thuộc về nội tâm và quá trình vô thức” [43]. Theo Đại Từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên thì hành vi được hiểu là “Cách ứng xử trong một hoàn cảnh nhất định, được biểu hiện bằng lời nói, cử chỉ, hành động nhất định” [39, tr.

Trong luận văn của Nguyễn Thị Ngọc Huế, tác giả cho rằng “Hành vi là những cảm xúc, suy nghĩ của con người có những tính chất tương đối nhất thời, những cách ứng xử ra bên ngoài của một người trong một hoàn cảnh cụ thể, nhất định mà ta có thể quan sát được” [17]. Theo Từ điển Thuật ngữ Tâm lý học, tác giả Vũ Dũng lại cho rằng “Hành vi là sự tương tác với môi trường có ở động vật trên cơ sở tính tích cực bên ngoài (vận động) và bên trong (tâm lý) của chúng. Tính tích cực có định hướng của cơ thể sống đảm bảo thực hiện các tiếp xúc với thế giới bên ngoài” [6, tr. 13 Qua tổng hợp các khái niệm của các tác giả trên, chúng tôi định nghĩa “Hành vi là những hoạt động có mục đích được biểu hiện ra bên ngoài của chủ thể đối với thế giới xung quanh nhằm đáp lại các kích thích bên trong của cơ thể”.

Hành vi tiếp nhận Theo Đại Từ điển Tiếng Việt thì tiếp nhận là đón nhận cái gì đó từ người khác hoặc từ nơi khác chuyển đến [39, tr. Tiếp nhận thông tin là một quá trình quan trọng trong quá trình hoạt động của truyền thông đại chúng. Có thể nói, hành vi tiếp nhận thông tin từ các phương tiện truyền thông đại chúng là yếu tố đầu tiên trong cả quá trình kể từ khi thông điệp được truyền đi cũng như quá trình công chúng tiếp nhận, xử lý để định hướng cho hành vi của mình. Nói cách khác, đây là quá trình quan trọng đầu tiên diễn ra trong quá trình giao tiếp đại chúng.

Trong báo chí, muốn tiếp nhận được thông tin thì tất yếu phải lựa chọn thông tin. Quy luật này diễn ra đối với cả hai loại hình truyền tải thông tin và tiếp nhận thông tin. Hành vi lựa chọn thông tin như thế nào sẽ quyết định đến hiệu quả tiếp nhận thông tin của công chúng hay hiệu quả thông điệp mà nhà truyền thông phát đi [13]. Từ phân tích trên, khái niệm hành vi tiếp nhận được hiểu là những hoạt động có mục đích được biểu hiện ra bên ngoài của chủ thể khi đón nhận cái gì đó từ người khác hoặc từ nơi khác chuyển đến nhằm đáp lại các kích thích bên trong cơ thể.

Sản phẩm báo chí Theo điều 3 của Luật Báo chí năm 2016 thì báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vấn đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo xuất bản định kỳ và phát hành truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình Báo in, Báo nói, Báo hình, Báo điện tử [28]. Trong nghiên cứu này, báo chí được hiểu theo điều 3 của Luật Báo chí năm 2016. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu, chúng tôi chỉ thực hiện trên loại hình báo in (bản giấy, bản trực tuyến) và báo điện tử. Báo in là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, tranh, ảnh, thực hiện bằng phương tiện in để phát hành đến bạn đọc, gồm báo in, tạp chí in.

Đây là khái niệm đối với báo in bản giấy. Tuy nhiên, dưới sự phát triển của khoa học công nghệ, để thu hút sự quan 14 tâm của công chúng, các cơ quan báo chí đã đưa những trang báo in dưới dạng hình ảnh lên trên không gian mạng. Do vậy, trong luận văn này, nghiên cứu khảo sát cả hai phương thức chuyển tải của loại hình báo in là bản giấy và bản trực tuyến (xin xem phụ lục 1). Báo điện tử là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được truyền dẫn trên môi trường mạng, gồm báo điện tử và tạp chí điện tử.

Theo Đại Từ điển tiếng Việt, sản phẩm có nghĩa là “cái do con người lao động tạo ra” [39, tr. Như vậy, nói đến sản phẩm tức là đề cập đến một vật, một việc đã trải qua một quá trình biến đổi, vận động hoặc lao động nhất định để trở thành một thứ hoàn chỉnh. Trong lĩnh vực báo chí, người ta thường dùng khái niệm sản phẩm báo chí để chỉ những tác phẩm báo chí đã được hoàn thiện của các kênh truyền thông đại chúng, sau đó đưa đi in (đối với báo in), phát sóng (đối với truyền hình và phát thanh) hoặc đưa lên mạng internet (đối với báo điện tử). Điều đó có nghĩa sản phẩm báo chí đã được xã hội hóa thông tin, chỉ tồn tại có ý nghĩa trong mối quan hệ nhà báo - sản phẩm báo chí - công chúng.

Đó là cách hiểu theo nghĩa hẹp, với nghĩa sản phẩm đơn lẻ. Theo quan niệm của tác giả Tạ Ngọc Tấn (2004): “Trong thông tin báo chí, sản phẩm báo chí hoàn chỉnh (tờ báo, bản tin, chương trình phát thanh, truyền hình) giữ vai trò phương tiện giao tiếp giữa chủ thể và khách thể thông tin. Sản phẩm báo chí là những ấn phẩm hoàn chỉnh thuộc báo in, các chương trình phát thanh, chương trình truyền hình hoặc các trang thông tin, báo điện tử chứa đựng nhiều loại tác phẩm nhằm chuyển tải thông tin đến cho công chúng. Sản phẩm báo chí là ấn phẩm, phụ trương của báo in; nội dung hoàn chỉnh của báo điện tử; bản tin thông tấn; kênh phát thanh, kênh truyền hình; chuyên trang của báo điện tử (Luật Báo chí năm 2016).

Trong khuôn khổ luận văn này, sản phẩm báo chí được hiểu là những ấn phẩm hoàn chỉnh về nội dung cũng như hình thức chuyển tải. Sinh viên ngành báo chí - truyền thông Theo số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê, hiện nay, cả nước có hơn 1,5 triệu sinh viên đang theo học các trường đại học, cao đẳng, trung cấp [33]. 15 Sinh viên là người học tập tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp. Ở đó, họ được truyền đạt kiến thức, kỹ năng về một ngành nghề, chuẩn bị cho công việc sau này.

Họ được xã hội công nhận qua những bằng cấp đạt được trong quá trình học. Sinh viên có tuổi đời còn trẻ, thường từ 18 đến 25 tuổi, dễ thay đổi, chưa định hình rõ rệt về nhân cách, ưa các hoạt động giao tiếp, có tri thức, đang được đào tạo chuyên môn. Vì thế dễ tiếp thu cái mới, thích cái mới, thích sự tìm tòi và sáng tạo. Đây cũng là tầng lớp vẫn khá nhạy cảm với các vấn đề chính trị - xã hội.

Từ cách tiếp cận của Báo chí học, sinh viên là nhóm công chúng - đối tượng trẻ có nhu cầu tiếp nhận thông tin nhiều hơn để nâng cao và hoàn thiện nhận thức, thái độ và kỹ năng sống, trang bị kiến thức toàn diện và thích ứng với môi trường sống mới. Họ là những nhóm đối tượng sống tập trung trong môi trường đặc thù chủ yếu với mối quan hệ xã hội gần gũi như thầy/cô - trò, bạn bè, cư dân lân cận và với tâm lý hướng mạnh vào khả năng hội nhập với môi trường và cộng đồng trên phạm vi ngày càng rộng lớn hơn. Đó là nhóm công chúng nhạy bén với tình hình thời cuộc và môi trường, yêu thích lao động… Nhóm công chúng sinh viên cũng có những hoàn cảnh, điều kiện sống đặc thù là phần đông trong số họ mới sống xa gia đình và bắt đầu hình thành lớp bạn bè mới trong sinh viên; phụ thuộc vào điều kiện kinh tế và nếp sống của gia đình… Do đó, phần lớn ít có điều kiện để thỏa mãn nhu cầu sống, nhất là nhu cầu tiếp nhận sản phẩm báo chí. Sinh viên ngành báo chí - truyền thông là người học ngành Báo chí và ngành Truyền thông tại trường đại học.

Trong nghiên cứu này, chính họ là những sinh viên theo học chuyên ngành báo in, báo phát thanh, báo truyền hình…và chuyên ngành truyền thông đại chúng, truyền thông quốc tế… Đối với ngành Báo chí, sinh viên được đào tạo theo bốn loại hình báo chí truyền thống là báo in, báo phát thanh, báo truyền hình, báo điện tử. Sinh viên được đào tạo kỹ năng sáng tạo tác phẩm báo chí; kỹ năng tổ chức và sản xuất tác phẩm và sản phẩm báo chí; kỹ năng biên tập; kỹ năng làm video, audio, chụp ảnh… Đối với ngành Truyền thông, sinh viên được đào tạo kỹ năng tổ chức nội dung và sản xuất các sản phẩm truyền thông đa phương tiện; nghiên cứu và ứng dụng truyền 16 thông đa phương tiện; thiết kế, thực hiện dự án phát triển truyền thông đa phương tiện… Như vậy, sinh viên sau khi ra trường có khả năng thực hiện các kỹ năng nghiệp vụ của nhà báo tại các tòa soạn báo, tạp chí, hãng tin, đài phát thanh, đài truyền hình, báo mạng điện tử; làm chuyên môn trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị đòi hỏi kiến thức, kỹ năng ngành báo chí. Cụ thể: - Có năng lực hoạt động nghiệp vụ báo chí để có thể hội nhập bình đẳng trong hoạt động nghề nghiệp trong khu vực và thế giới. - Có khả năng làm việc tại các cơ quan báo chí - truyền thông.

- Có khả năng thích ứng rộng để có thể thực hiện các chức trách công tác tại các cơ quan đơn vị có liên quan đến truyền thông như: các cơ quan văn hóa - tư tưởng; các cơ quan, tổ chức truyền thông vận động xã hội; các bộ phận thông tin tổng hợp của các cơ quan, đơn vị, tổ chức chính trị - xã hội… [15].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ