Báo cáo: Thực trạng pháp luật về mức lương tối thiểu tại Công ty Địa ốc Fuji

Nghiên cứu thực trạng pháp luật về mức lương tối thiểu và thực tiễn áp dụng tại Công ty Địa ốc Fuji. Phân tích bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện.

Trường đại học

Đại học Vinh

Chuyên ngành

Tư vấn pháp luật lao động trong lĩnh vực quản trị nhân sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Báo cáo thu hoạch

2023

55
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và bản chất của mức lương tối thiểu

Mức lương tối thiểu là một khái niệm cơ bản trong hệ thống pháp luật lao động hiện đại. Đây là mức "sàn" thấp nhất mà người sử dụng lao động không được phép trả thấp hơn cho người lao động. Theo định nghĩa quốc tế, mức lương tối thiểu đóng vai trò là một công cụ quan trọng trong quản lý vĩ mô tiền lương và bảo vệ quyền lợi cơ bản của người lao động. Bản chất của mức lương tối thiểu là giá cả sức lao động được hình thành trên cơ sở thương lượng, thỏa thuận giữa hai bên. Nó không chỉ đảm bảo mức sống tối thiểu mà còn là động lực kích thích năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản xuất kinh doanh và góp phần giảm bất bình đẳng trong xã hội.

1.1. Định nghĩa mức lương tối thiểu và tiền lương

Trong bối cảnh kinh tế thị trường, tiền lương được coi là giá cả sức lao động, được xác định thông qua hợp đồng lao động hoặc thỏa ước lao động tập thể. Mức lương tối thiểu là mức tiền lương cơ bản mà mọi doanh nghiệp phải tuân thủ, không được trả thấp hơn. Đây là cơ chế bảo vệ quyền lợi người lao động và đảm bảo công bằng trong phân phối thu nhập lao động.

1.2. Vai trò và đặc điểm của mức lương tối thiểu

Mức lương tối thiểu có vai trò quan trọng trong việc giảm bất bình đẳng tiền lương, chống bóc lột lao động quá sức và bảo đảm mức sống cơ bản. Đặc điểm nổi bật là tính bắt buộc, áp dụng chung cho toàn bộ doanh nghiệp và được điều chỉnh định kỳ theo điều kiện kinh tế xã hội.

II. Pháp luật về mức lương tối thiểu trong doanh nghiệp

Pháp luật về mức lương tối thiểu ở Việt Nam được quy định trong Bộ Luật Lao Động và các văn bản hướng dẫn của Bộ Lao Động - Thương Binh và Xã Hội. Mức lương tối thiểu được xác định dựa trên các căn cứ như chỉ số giá tiêu dùng, năng suất lao động, tình hình phát triển kinh tế và khả năng chi trả của doanh nghiệp. Pháp luật quy định rõ các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động trong việc thực hiện mức lương tối thiểu, đồng thời bảo vệ quyền yêu cầu lương của người lao động. Nội dung pháp luật về mức lương tối thiểu bao gồm phương pháp xác định, điều chỉnh, phân vùng và hình thức thanh toán lương cho doanh nghiệp.

2.1. Căn cứ xác định mức lương tối thiểu

Mức lương tối thiểu được xác định dựa trên các căn cứ pháp lý như chỉ số lạm phát, chi phí sinh hoạt cần thiết, năng suất lao động và khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Nhà nước thực hiện điều chỉnh mức lương tối thiểu theo vùng địa lý, phù hợp với điều kiện kinh tế tại mỗi khu vực để đảm bảo tính khả thi và công bằng.

2.2. Nội dung và vai trò pháp luật

Pháp luật quy định chi tiết về phương pháp xác định, điều chỉnh mức lương tối thiểu theo từng giai đoạn. Vai trò pháp luật là đảm bảo sự công bằng giữa các bên, bảo vệ người lao động khỏi bóc lột và là cơ sở pháp lý cho thỏa thuận lao động giữa doanh nghiệpngười lao động.

III. Thực trạng áp dụng mức lương tối thiểu tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Địa ốc Fuji

Công ty Cổ phần Tập đoàn Địa ốc Fuji (Fujiland) là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bất động sản với quy mô nhân sự đáng kể. Trong quá trình áp dụng pháp luật về mức lương tối thiểu, Fujiland đã đạt được những kết quả tích cực nhất định, nhưng cũng phát hiện một số bất cập. Công ty có hệ thống quản lý tiền lương khá hoàn chỉnh, tuân thủ mức lương tối thiểu theo quy định của Nhà nước. Tuy nhiên, vẫn tồn tại những vấn đề như sự chênh lệch giữa lương cơ bản và mức lương tối thiểu, chế độ điều chỉnh lương không đều đặn và thiếu sự minh bạch trong tính toán tiền lương cho người lao động.

3.1. Tình hình hoạt động và kết quả đạt được

Fujiland đã thực hiện tương đối tốt việc tuân thủ mức lương tối thiểu theo pháp luật lao động. Công ty có quy trình tuyển dụng rõ ràng, xác định lương theo tiêu chuẩn công nghiệp. Người lao động tại Fujiland được đảm bảo mức lương không thấp hơn mức lương tối thiểu qui định, với chế độ bảo hiểm xã hội đầy đủ.

3.2. Những bất cập trong áp dụng pháp luật

Mặc dù có thành tích, Fujiland vẫn gặp những bất cập như: thiếu điều chỉnh mức lương tối thiểu định kỳ theo điều kiện thị trường, chế độ thưởng không rõ ràng và khó hiểu, không có cơ chế khiếu nại rõ ràng về tiền lương cho người lao động. Cần cải thiện tính minh bạch trong quản lý mức lương và tăng cường đối thoại với người lao động.

IV. Giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật

Để nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về mức lương tối thiểu, cần có những giải pháp toàn diện từ cả nhà nướcdoanh nghiệp. Trước tiên, pháp luật về mức lương tối thiểu cần được hoàn thiện với các quy định cụ thể hơn về phương pháp điều chỉnh mức lương, tính toán lương theo năng suất và kết quả kinh doanh. Đối với Công ty Cổ phần Tập đoàn Địa ốc Fuji, cần xây dựng chính sách tiền lương minh bạch, định kỳ điều chỉnh mức lương theo biến động kinh tế, tăng cường đối thoại với người lao động và thiết lập cơ chế khiếu nại hiệu quả. Doanh nghiệp nên nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của mức lương tối thiểu trong việc giữ chân nhân tài và tăng năng suất lao động.

4.1. Quan điểm cải cách và hoàn thiện pháp luật

Cần thực hiện cải cách pháp luật về tiền lương theo hướng: tăng cường bảo vệ quyền lợi người lao động, đảm bảo mức sống tối thiểu, giảm bất bình đẳng tiền lương. Mức lương tối thiểu phải được điều chỉnh thường xuyên phù hợp với lạm phát và điều kiện kinh tế thực tế, tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển bền vững.

4.2. Kiến nghị giải pháp nâng cao hiệu quả tại Fuji

Fuji nên xây dựng bảng lương minh bạch, công khai mức lương tối thiểu và tiêu chí xác định lương. Tăng cường điều chỉnh lương theo kết quả kinh doanh, thiết lập cơ chế đối thoại định kỳ với người lao động và nâng cao năng lực quản lý nhân sự trong lĩnh vực tiền lương.

18/12/2025
Chủ đề thực trạng pháp luật về mức lương tối thiểu và thực tiễn áp dụng tại công ty cổ phần tập đoàn địa ốc fuji

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CHUNG VỀ MỨC LƯƠNG TỐI THIỂU VÀ PHÁP LUẬT VỀ MỨC LƯƠNG TỐI THIỂU TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái quát chung về tiền lương và mức lương tối thiểu trong doanh nghiệp 1. Khái niệm về tiền lương và mức lương tối thiểu Khái niệm về tiền lương Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, sự phân bổ lao động được thực hiện dựa vào các tín hiệu của thị trường lao động, trong đó tiền lương là một trong những tín hiệu rất quan trọng được các bên đặc biệt quan tâm, quyết định đến sự ổn định, bền vững của quan hệ lao động.

Hay nói cách khác, các quyết định cung lao động phụ thuộc vào các tín hiệu tiền lương. Tiền lương là khái niệm có nội dung kinh tế, xã hội và pháp lý được nhiều ngành khoa học ngôn ngữ học, như kinh tế học, luật học… nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Theo kinh tế học, tiền lương thực chất là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa sức lao động. Theo Từ điển Tiếng Việt, "tiền lương là tiền công trả định kỳ, thường là hàng tháng, cho công nhân, viên chức".

Ưu điểm của định nghĩa này là chỉ ra được đối tượng hưởng lương và chỉ tra một trong những đặc điểm cơ bản của tiến lương (lương trả theo định kỳ thời gian). Tuy nhiên, các tác giả này sử dụng một khái niệm tương đồng (tiền công) để giải thích cho khái niệm tiền lương là chưa hợp lý.1 Điều 1 Công ước số 95 (1949) về bảo vệ tiền lương của ILO quy định: "tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập, bất luận tên gọi hay cách tính mà có thể biểu hiện bằng tiền và được ấn định bằng sự thỏa thuận giữa NLĐ và NSDLĐ, hoặc bằng pháp luật quốc gia, do NSDLĐ phải trả cho NLĐ theo một hợp đồng thuê mướn lao động, bằng viết hoặc bằng miệng, cho một công việc đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện, hoặc cho những dịch vụ đã làm hay sẽ phải làm". Với định nghĩa này, ILO đã đưa các dấu hiện cơ bản nhận biết tiền lương. Ở Việt Nam, định nghĩa tiền lương được quy định ở Khoản 1, Điều 90 Bộ luật Lao động 2019 như sau: "Tiền lương là số tiền mà NSDLĐ trả cho NLĐ theo thỏa thuận để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác" 1 GS Hoàng Phê chủ biên, Từ Điển Tiếng Việt (Viện Ngôn Ngữ Học) 10 Khái niệm về mức lương tối thiểu Lương tối thiểu được Tổ chức Lao động quốc tế quan tâm và quy định từ rất sớm, ngay trong Công ước số 26 ngày 30/5/1928, khoản 3 Điều 3 quy định: “Các mức lương tối thiểu được ấn định là bắt buộc với những người sử dụng lao động và người lao động hữu quan, những mức lương đó không thể bị hạ thấp dù là bằng thoả thuận cá nhân hay hợp đồng tập thể, trừ khi nhà chức trách cỏ thẩm quyền cho phép chung hoặc cho phép đặc biệt”.

Công ước số 131 năm 1970 của Tổ chức Lao động quốc tế về ấn định mức lương tối thiểu và Khuyến nghị số 135 kèm theo cũng đề cập “đảm bảo cho người làm công ăn lương sự đảm bảo xã hội cần thiết dưới dạng mức mức lương tối thiểu đủ sổng”. Mức lương tối thiểu chính là mức tiền lương thấp nhất đảm bảo duy trì cuộc sống ở mức tối thiểu cho người lao động. Mức tiền lương thấp nhất này mang tính bắt buộc, buộc người sử dụng lao động phải trả ít nhất là bằng chứ không được thấp hơn, nếu trả ít hơn đồng nghĩa với vi phạm pháp luật và người lao động không thể đảm bảo trang trải cho các nhu cầu sinh sống tối thiểu, đảm bảo tái sản xuất sức lao động. Ở Việt Nam, mức mức lương tối thiểu được xác định: “Mức lương tối thiểu là mức lương thấp nhất được trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế-xã hội” (khoản 1 Điều 91 Bộ luật lao động năm 2019) 1.

Bản chất của mức lương tối thiểu Dưới góc độ của một doanh nghiệp, mức lương tối thiểu trong sản xuất kinh doanh là yếu tố được tính vào chi phí sản xuất. Nó phụ thuộc vào quan hệ cung - cầu lao động trên thị trường, giá cả sinh hoạt, tập quán tiêu dùng, hiệu quả kinh doanh của từng ngành, cũng như chính sách tiền lương của mỗi doanh nghiệp. Về bản chất, mức lương tối thiểu là giá cả sức lao động được hình thành trên cơ sở giá trị sức lao động, thông qua sự thoả thuận giữa người có sức lao động và người thuê mướn, sử dụng sức lao động, đồng thời chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế trong đó có quy luật cung - cầu. Trong đó giá trị sức lao động là toàn bộ những chi phí về ăn, ở, đi lại, các chi phí thiết yếu khác nhằm bù đắp một lượng nhất định những hao phí 11 sức lao động: cơ bắp, trí tuệ, thần kinh, để duy trì sức khoẻ của bản thân người lao động trong trạng thái bình thường và tái sản xuất sức lao động cả về lượng và chất.

Xét về mặt cấu trúc, mức lương tối thiểu là một bộ phận cấu thành của tiền lương. Về bản chất mức lương tối thiểu là giá cả sức lao động được hình thành trên cơ sở giá trị sức lao động. Tuy nhiên, giá cả sức lao động ở đây được hiểu là giá cả thấp nhất của hàng hoá sức lao động. Mức lương tối thiểu không chỉ được áp dụng cho lao động giản đơn mà là khung pháp lý quan trọng, mang tính chất bắt buộc người sử dụng lao động phải trả thấp nhất là bằng chứ không được thấp hơn mức Nhà nước ấn định, tạo ra lưới an toàn bảo vệ người lao động trong quan hệ lao động.

Tuy nhiên, tùy theo điều kiện và khả năng, các doanh nghiệp có thể quy định, áp dụng mức lương tối thiểu cao hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định. Quy định này là phù hợp với yêu cầu thực tiễn, bởi mỗi doanh nghiệp đều có khả năng riêng, đồng thời chính sách tiền lương cũng là công cụ hữu hiệu để các doanh nghiệp thu hút lao động khi cần thiết, đồng thời đó cũng là cách Nhà nước tôn trọng và khuyến khích sự thỏa thuận hợp pháp giữa hai bên trên tinh thần tự nguyện. Giá trị sức lao động được coi là cơ sở tính mức lương tối thiểu bao gồm những chi phí cần thiết để duy trì sức khỏe và đảm bảo tái sản xuất sức lao động ở mức tối thiểu. Nghĩa là mức lương tối thiểu chỉ đáp ứng cho giá trị sức lao động có trình độ giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường với cường độ lao động nhẹ nhàng nhất.

Nó không thể đáp ứng được tất cả nhu cầu cuộc sống của người lao động và gia đình họ, mà chỉ đáp ứng được nhu cầu tối thiểu cần thiết để duy trì cuộc sống nhằm tái sản xuất sức lao động giản đơn và một phần tái sản xuất sức lao động mở rộng. Đây chính là một trong những lý do việc hoạch định chính sách mức lương tối thiểu qua từng thời kỳ của Nhà nước luôn được quan tâm, bàn luận, dự thảo và sửa đổi nhiều để có phương án phù hợp nhất theo từng thời kỳ. Đặc điểm của mức lương tối thiểu Từ khái niệm về mức lương tối thiểu, ta thấy mức lương tối thiểu có những đặc điểm sau: Mức lương tối thiểu được xác định tương ứng với trình độ lao động giản đơn nhất: Mức lương tối thiểu được xác định theo công việc, yêu cầu trình độ lao động giản đơn 2 Trịnh Thị Mai Hương (2019) với đề tài: “Thực trạng pháp luật về tiền lương tối thiểu ở Việt Nam” 12 nhất, nghĩa là “trình độ không qua đào tạo”. Điều đó được hiểu là người lao động chỉ yêu cầu trình độ lao động ở mức giản đơn nhất, lao động chân tay đơn thuần, chưa cần qua đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ, không đòi hỏi về tính chất kỹ thuật phức tạp mà không phụ thuộc vào khả năng lao động thực tế của người lao động đó.

Mức lương tối thiểu được xác định tương ứng với cường độ lao động nhẹ nhàng nhất diễn ra trong điều kiện bình thường: Năng suất lao động, sức khoẻ người lao động và cường độ lao động có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Cường độ lao động trực tiếp ảnh hưởng tới năng suất lao động và quyết định sức khoẻ người lao động. Trong thực tế, hiện nay chưa có quy định cụ thể nào về cường độ lao động để xác định mức lương tối thiểu. Việc hiểu “cường độ lao động nhẹ nhàng nhất” còn rất chung chung và trừu tượng.

Mức lương tối thiểu phải đảm bảo nhu cầu tiêu dùng ở mức độ tối thiểu cần thiết: Mục đích của lao động là nhằm đảm bảo nhu cầu tồn tại của bản thân và gia đình của người lao động. Đó là nhu cầu tiêu dùng ở mức độ tối thiểu về vật chất và tinh thần để tồn tại và làm việc. Bản chất của tiền lương là giá cả sức lao động dưới sự tác động của các quy luật cung - cầu trong nền kinh tế. Mục đích của tiền lương nhằm bồi thường hao phí sức lao động thông qua việc thoả mãn các nhu cầu sinh hoạt và tiêu dùng của con người: ăn, ở, mặc, học tập, sức khoẻ và những nhu cầu khác.

Tuy nhiên, mức lương tối thiểu chỉ đáp ứng nhu cầu của người lao động và người thân của họ ở mức tối thiểu cần thiết, nên những nhu cầu về an ninh, vệ sinh, đóng góp xã hội … không nằm trong cơ cấu tiền lương. Mức lương tối thiểu phải tương ứng với giá tư liệu sinh hoạt chủ yếu ở vùng có mức giá thấp nhất: Nhu cầu tiêu dùng tối thiểu của người lao động và gia đình họ cần được xác định căn cứ vào giá cả hàng hóa và dịch vụ sinh hoạt thực tế của thị trường, nhưng phải xác định giá cả tư liệu sinh hoạt như thế nào để hợp lý. Ở mỗi vùng khác nhau, mức giá sinh hoạt khác nhau. Có nơi mức giá cao, cũng có nơi mức giá thấp.

Nếu lấy giá ở vùng thấp làm chuẩn mực để tính lương tối thiểu thì e rằng sẽ không đảm bảo nhu cầu của người lao động, đồng thời hạn chế hoạt động và hiệu quả của các doanh nghiệp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ