Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết, phương pháp và địa bàn nghiên cứu. Chương 2: Luật tục về sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của người Cơ-tu trước năm 1975. Luật tục về sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên của người Cơ-tu từ sau năm 1975 đến nay. Vận dụng luật tục trong sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên - Một số vấn đề đặt ra.
11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT, PHƢƠNG PHÁP VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Nghiên cứu ở nước ngoài về luật tục trong việc sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên Nghiên cứu luật tục về sử dụng và bảo vệ TNTN của các nhóm cư dân địa phương, bộ lạc hay dân tộc bản địa ở các quốc gia, đặc biệt ở châu Á và châu Phi được các học giả tiếp cận dưới nhiều góc độ.
Mỗi cách tiếp cận đưa ra một cách lý giải về nguyên nhân hay đưa ra các giải pháp nhằm điều hòa các mối quan hệ xã hội giữa những người có liên quan với nhau về loại TNTN nào đó để đạt được sự ổn định xã hội và phát triển bền vững. Trước tiên, dưới góc độ TTĐP, vai trò của luật tục ở phương diện quản lý bền vững TNTN được nhiều nghiên cứu chỉ ra và đang ngày càng được thừa nhận rộng rãi hơn. Dưới góc độ này thì luật tục về sử dụng, bảo vệ TNTN được xem là những quy định, quy tắc truyền thống trong thiết chế quản lý TNTN. Theo quan điểm của F.Berkes thì chúng là một trong những lớp nội dung của khái niệm tri thức sinh thái truyền thống [Berkes, 2008].
Tác giả này còn xây dựng khung phân tích tri thức sinh thái truyền thống bao gồm: a) Hiểu biết về cảnh quan, các loài động thực vật, về đất đai; b) Các thực hành quản lý nguồn TNTN; c) Thiết chế xã hội trong quản lý các nguồn TNTN (bộ máy quản lý và quy định liên quan) và d) Thế giới quan (hệ thống về niềm tin và thực hành tín ngưỡng liên quan) - yếu tố có vai trò quyết định trong việc nhìn nhận môi trường và gán cho nó ý nghĩa nhất định. Tuy được phân tách thành 4 lớp để cung cấp cái nhìn vừa khái quát vừa cụ thể trong nghiên cứu tri thức sinh thái truyền thống nhưng trên thực tế chúng có mối quan hệ qua lại với nhau. Tham chiếu các lớp trong khung khái niệm này, luật tục về quản lý tài nguyên của các cộng đồng địa phương chính là lớp phân tích thứ 3 (c): gắn với thiết chế xã hội và các quy định về khai thác, sử dụng và bảo vệ TNTN. Trong các dự án phát triển người ta thường chú trọng quá nhiều vào nội dung a và b nhằm sử dụng những 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hiểu biết của người địa phương để phục vụ cho việc triển khai dự án nhưng lại ít chú ý hoặc bỏ qua nội dung quan trọng về quản lý TNTN của các động đồng địa phương đó là thiết chế quản lý tài nguyên cũng như niềm tin và thực hành tín ngưỡng liên quan.
Chính vì vậy, vô hình trung đã làm giảm đi hiệu quả của phương thức quản lý TNTN truyền thống, xu hướng này bị phê phán vì đã tách TTĐP ra khỏi bối cảnh kinh tế - chính trị - xã hội nơi tri thức đó hình thành và phát triển [Sillitoe, 1998; Briggs, 2005]. Bởi vì, việc quản lý các nguồn TNTN không chỉ đơn thuần dựa trên các tri thức khoa học và phục vụ mục đích kinh tế mà còn phải đáp ứng các nhu cầu về văn hóa, tinh thần và điều hòa mối quan hệ xã hội trong cộng đồng. Chính vì thế, cần có cách tiếp cận rộng hơn và xem xét tới các khía cạnh văn hóa xã hội của cộng đồng địa phương trong vấn đề quản lý tài nguyên. “Nếu không nhìn nhận như thế, thì các cơ chế quản lý sẽ trở thành sự áp đặt không thích hợp” [Kalland, 2010, tr.
Bên cạnh đó, luật tục thực sự tồn tại trong cộng đồng, được biểu hiện thông qua những quy tắc trong hành vi và những giới hạn văn hóa (cấm kỵ xã hội, tín ngưỡng) về khai thác tài nguyên, điều đó giúp họ thích nghi và tồn tại [Orebech và cộng sự, 2005, tr. Nghiên cứu của R.Roy về luật tục các dân tộc bản địa ở châu Á cho rằng luật tục hình thành từ xa xưa trong đời sống hàng ngày, được điều chỉnh, sàng lọc qua thời gian. Vì thế, dưới góc độ của những cư dân này, luật tục gắn liền với văn hóa tộc người, nó luôn vận động và được cộng đồng tự giác tuân thủ. Nhưng dưới góc độ của các nhà lập pháp và quản lý/người ngoài cuộc, luật tục của các dân tộc, nhóm cư dân là luật bất thành văn, thường bị coi là tĩnh tại, xưa cũ chính vì thế nó lạc hậu và xếp thứ yếu so với luật pháp thành văn của nhà nước.
Đặc điểm xã hội chung của những nhóm cư dân này là chưa có sự xuất hiện của nhà nước, đời sống xã hội được vận hành dựa trên luật tục. Chính vì thế, khi xã hội sau này được khoác lên chiếc áo nhà nước và pháp luật đã gây tác động tới việc thực hành luật tục, tới đời sống cộng đồng. Tác giả này phân chia thành hai loại luật tục chính, thứ nhất là những luật tục liên quan tới đời sống cá nhân (kết hôn, ly hôn, thừa kế,…) và thứ hai là luật tục liên quan tới TNTN (quyền sở hữu đất đai, sử dụng 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com rừng, nước và các nguồn TNTN khác). Kết quả nghiên cứu ở một số nước châu Á (Ấn Độ, Malaysia, Nhật Bản…) cho thấy, trong bối cảnh luật pháp nhà nước, luật tục về vấn đề sở hữu đất đai, tiếp cận rừng đứng trước hiện trạng bị lề hóa, bị mai một, đặc biệt là quyền truyền thống về tài nguyên.
Trong một số trường hợp, nơi luật tục được nhà nước công nhận, bảo vệ, duy trì thiết chế xã hội truyền thống thì những thực hành trong luật tục được bảo tồn mạnh mẽ (người Naga và Mizo ở vùng Đông bắc Ấn Độ), nhưng cũng có trường hợp luật tục bị mai một và dần biến mất dưới sức ép của chính sách quản lý của nhà nước (trường hợp của người Ainu ở Nhật Bản) [Roy, 2005]. Như vậy, nghiên cứu này đã chỉ ra rằng yếu tố tác động lớn nhất làm thay đổi luật tục về TNTN của các cộng đồng bản địa đó là sự xuất hiện của thể chế quản lý tài nguyên của quốc gia. Bên cạnh đó, việc phát triển kinh tế, tính di dộng của dân cư cũng được xem là những yếu tố quan trọng tác động tới luật tục của cư dân địa phương. Và kết quả nghiên cứu này cũng cho rằng sự “bảo hộ” của luật pháp nhà nước là yếu tố cốt lõi giúp duy trì hoặc làm mai một luật tục nói chung, luật tục về TNTN nói riêng.
Vai trò của luật tục với tư cách là thiết chế địa phương trong sử dụng, quản lý TNTN cũng được đề cập tới. Như các nghiên cứu về quản lý rừng vùng cao Đông Phi đã chỉ ra rằng thiết chế truyền thống địa phương thể hiện những vai trò tích cực qua quá trình sinh tồn và phát triển của cộng đồng cư dân bản địa [Mowo và cộng sự, 2011]. Hay nghiên cứu về sự thay đổi trong quản trị rừng qua 150 năm ở Ethiopia cũng cho thấy, sự thấu hiểu sự quản trị tài nguyên truyền thống, khả năng thích ứng và năng động của nó qua thời gian là điều mấu chốt để phát triển các cách tiếp cận bền vững trong quản lý rừng [Wakjira, Fischer và Pinard, 2013]. Vì thế, cần có sự tích hợp các thiết chế truyền thống - thiết chế phi chính thức vào thiết chế chính thức trong quản lý các nguồn TNTN.
Và một số nghiên cứu đã chỉ ra cách tích hợp cụ thể, chẳng hạn như bản đồ hóa hệ thống đất đai truyền thống [Sirait và cộng sự, 1994], hay phát huy vai trò, trao quyền cho cá nhân quan trọng trong cộng đồng như thủ lĩnh bộ lạc ở một số quốc gia châu Phi [Ubink và Quan, 2008]. Mặc dù có vai trò quan trọng như thế nhưng trong một số trường hợp, quản lý 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com TNTN dựa vào luật tục lại bị giới hạn khi đặt trong bối cảnh phát triển phức tạp hơn, đa dạng hơn như sự gia tăng dân số, di dân, tài nguyên cạn kiệt, tác động của các chiều kích hiện đại hóa, kinh tế thị trường.như trong kết quả nghiên cứu về luật tục ở một số nước châu Á như đã đề cập ở trên [Roy, 2005]. Vì vậy, cũng có ý kiến cho rằng, không nên quá nhấn mạnh hoặc tuyệt đối hóa sức mạnh của luật tục trong quản lý TNTN [Berkes, 2008]. Chính vì thế, cần có sự nghiên cứu đầy đủ về bối cảnh văn hóa, xã hội và thực trạng luật tục của cộng đồng địa phương khi tích hợp luật tục vào hệ thống luật pháp quốc gia.
Các nghiên cứu dưới góc độ sinh thái chính trị đã nhấn mạnh tới những động thái từ bên ngoài (sự can thiệp của nhà nước, sự phát triển của kinh tế hàng hóa và hội nhập) như là những yếu tố quan trọng tác động tới mối quan hệ giữa các bên liên quan trong quản lý và sử dụng tài nguyên. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng hệ quả của việc lờ đi các quy tắc quản trị của cộng đồng địa phương và áp đặt một cách cứng nhắc các quy định theo cách tiếp cận từ trên xuống - thường là cơ chế quản lý của nhà nước - thường dẫn đến những xung đột về lợi ích liên quan tới các quyền về tài nguyên, đứt gãy về văn hóa, dẫn tới bất ổn về chính trị cũng như làm cho tình trạng suy thoái tài nguyên trầm trọng thêm [Bryant, 1992; McElwee, 2004]. Những hệ quả của việc phá vỡ các quy tắc quản lý truyền thống theo luật tục diễn ra ở nhiều nước châu Á và châu Phi, nơi các nguồn TNTN đang bị suy giảm nghiêm trọng. Một nghiên cứu ở vườn quốc gia Madhupur ở Bangladesh cũng chỉ ra rằng các thiết chế phi chính thức của cộng đồng trong quản lý tài nguyên đã bị thay đổi và chối bỏ bởi sự can thiệp của chính quyền.
Điều đó càng làm tăng khoảng cách giữa chính quyền và người dân, gây nên xung đột về sở hữu đất đai và suy thoái tài nguyên [Rahman và cộng sự, 2014].