Luận án tiến sĩ luật tục của người cơ tu về sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên ở huyện tây giang tỉnh quảng nam

Luận án tiến sĩ phân tích luật tục của người Cơ Tu trong việc sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên tại huyện Tây Giang, Quảng Nam.

Chuyên ngành

Dân tộc học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2019

229
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT, PHƢƠNG PHÁP VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.2. Nghiên cứu ở nước ngoài về luật tục trong việc sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

1.3. Nghiên cứu ở trong nước về luật tục trong việc sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

1.4. Các nghiên cứu về người Cơ-tu và luật tục của người Cơ-tu ở Việt Nam

1.5. Cơ sở lý thuyết và phƣơng pháp nghiên cứu

1.6. Phương pháp nghiên cứu

1.7. Khái quát về ngƣời Cơ-tu và địa bàn nghiên cứu

1.7.1. Khái quát về người Cơ-tu

1.7.2. Giới thiệu địa bàn nghiên cứu

1.8. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: LUẬT TỤC VỀ SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN CỦA NGƢỜI CƠ-TU TRƢỚC NĂM 1975

2.1. Luật tục, thiết chế bhươl và các quan hệ sở hữu, sử dụng tài nguyên thiên nhiên

2.1.1. Khái quát về luật tục của người Cơ-tu

2.1.2. Thiết chế bhươl

2.1.3. Các quan hệ sở hữu, sử dụng tài nguyên thiên nhiên

2.2. Luật tục sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

2.2.1. Tổ chức không gian cư trú và luật tục sử dụng, bảo vệ đất đai

2.2.2. Luật tục sử dụng và bảo vệ tài nguyên rừng

2.2.3. Luật tục sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước

2.2.4. Sự vi phạm luật tục và các hình thức xử phạt

2.3. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: LUẬT TỤC VỀ SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN CỦA NGƢỜI CƠ-TU TỪ SAU NĂM 1975 ĐẾN NAY

3.1. Bối cảnh mới tác động đến sự thay đổi luật tục của ngƣời Cơ-tu

3.1.1. Sự thay đổi trong thiết chế chính trị bhươl/làng

3.1.2. Quan hệ mới trong sở hữu tài nguyên và sự ra đời của bộ máy quản lý nhà nước về tài nguyên rừng ở địa phương

3.1.3. Thay đổi về tổ chức không gian cư trú

3.1.4. Thay đổi về kinh tế - xã hội

3.2. Sự thay đổi của luật tục về sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên từ sau năm 1975 đến nay

3.2.1. Sự thay đổi của luật tục về sử dụng, bảo vệ đất đai

3.2.2. Sự thay đổi của luật tục về sử dụng và bảo vệ tài nguyên rừng

3.2.3. Sự thay đổi của luật tục về sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước

3.3. Tiểu kết chương 3

4. CHƯƠNG 4: VẬN DỤNG LUẬT TỤC TRONG SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN - MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA

4.1. Luật tục của ngƣời Cơ-tu trong bối cảnh hiện tại: Điểm mạnh và hạn chế

4.2. Thách thức và cơ hội của việc vận dụng luật tục trong quản lý tài nguyên thiên nhiên

4.2.1. Thách thức

4.2.2. Triển vọng xây dựng mô hình cộng đồng quản lý tài nguyên dựa vào luật tục

4.3. Tiểu kết chương 4

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về Luật tục người Cơ Tu trong bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

Luật tục của người Cơ-Tu là một phần quan trọng trong văn hóa và đời sống của cộng đồng này. Tại huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam, luật tục không chỉ quy định cách thức sử dụng tài nguyên thiên nhiên mà còn thể hiện mối quan hệ giữa con người với môi trường. Những quy tắc này đã được hình thành qua hàng thế kỷ và đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Việc nghiên cứu luật tục giúp hiểu rõ hơn về cách thức mà người Cơ-Tu quản lý và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, từ đó có thể áp dụng vào các chính sách phát triển bền vững.

1.1. Khái quát về người Cơ Tu và văn hóa của họ

Người Cơ-Tu là một trong những dân tộc thiểu số tại Việt Nam, với nền văn hóa phong phú và đa dạng. Họ sống chủ yếu ở các vùng núi, nơi có hệ sinh thái rừng phong phú. Văn hóa Cơ-Tu gắn liền với các hoạt động nông nghiệp và lâm nghiệp, trong đó luật tục đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.

1.2. Vai trò của luật tục trong quản lý tài nguyên thiên nhiên

Luật tục của người Cơ-Tu không chỉ là những quy định về hành vi mà còn là những giá trị văn hóa sâu sắc. Nó giúp cộng đồng duy trì sự cân bằng giữa việc sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường. Những quy tắc này thường được truyền lại qua các thế hệ và có ảnh hưởng lớn đến cách thức quản lý tài nguyên thiên nhiên.

II. Thách thức trong việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên tại Tây Giang

Mặc dù luật tục của người Cơ-Tu đã giúp bảo vệ tài nguyên thiên nhiên trong nhiều năm, nhưng hiện nay, cộng đồng đang phải đối mặt với nhiều thách thức. Sự thay đổi trong chính sách quản lý tài nguyên, áp lực từ phát triển kinh tế và biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng đến khả năng thực hiện luật tục. Việc nhận thức và thích ứng với những thay đổi này là rất cần thiết để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.

2.1. Tác động của chính sách quản lý nhà nước

Chính sách quản lý tài nguyên thiên nhiên của nhà nước có thể tạo ra những xung đột với luật tục của người Cơ-Tu. Việc áp dụng các quy định từ trên xuống có thể làm giảm hiệu quả của luật tục trong việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.

2.2. Biến đổi khí hậu và ảnh hưởng đến tài nguyên

Biến đổi khí hậu đang gây ra những thay đổi lớn trong môi trường sống của người Cơ-Tu. Những hiện tượng như hạn hán, lũ lụt có thể làm giảm khả năng sản xuất nông nghiệp và ảnh hưởng đến nguồn nước, từ đó tác động đến việc thực hiện luật tục.

III. Phương pháp bảo vệ tài nguyên thiên nhiên theo luật tục Cơ Tu

Người Cơ-Tu đã phát triển nhiều phương pháp bảo vệ tài nguyên thiên nhiên dựa trên luật tục. Những phương pháp này không chỉ hiệu quả mà còn phù hợp với điều kiện tự nhiên và văn hóa của cộng đồng. Việc áp dụng các phương pháp này có thể giúp tăng cường khả năng bảo vệ tài nguyên thiên nhiên trong bối cảnh hiện đại.

3.1. Quy tắc sử dụng tài nguyên rừng

Luật tục quy định rõ ràng về cách thức sử dụng tài nguyên rừng, bao gồm việc khai thác gỗ và các sản phẩm rừng khác. Những quy định này giúp bảo vệ rừng và duy trì sự đa dạng sinh học.

3.2. Bảo vệ nguồn nước và đất đai

Người Cơ-Tu có những quy tắc nghiêm ngặt về việc bảo vệ nguồn nước và đất đai. Những quy định này không chỉ giúp duy trì chất lượng môi trường mà còn đảm bảo sinh kế cho cộng đồng.

IV. Ứng dụng thực tiễn của luật tục trong bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

Việc áp dụng luật tục trong bảo vệ tài nguyên thiên nhiên đã mang lại nhiều kết quả tích cực cho cộng đồng người Cơ-Tu. Những thành công này không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của tài nguyên thiên nhiên. Các mô hình quản lý tài nguyên dựa vào luật tục đang được nhân rộng và có thể trở thành mô hình tham khảo cho các cộng đồng khác.

4.1. Kết quả từ việc áp dụng luật tục

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc áp dụng luật tục trong quản lý tài nguyên thiên nhiên đã giúp giảm thiểu xung đột và nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường. Các cộng đồng đã có thể duy trì sự cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ tài nguyên.

4.2. Mô hình cộng đồng quản lý tài nguyên

Mô hình cộng đồng quản lý tài nguyên dựa vào luật tục đang được triển khai tại nhiều địa phương. Mô hình này không chỉ giúp bảo vệ tài nguyên mà còn tạo ra cơ hội cho cộng đồng tham gia vào quá trình quản lý và phát triển bền vững.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của luật tục Cơ Tu

Luật tục của người Cơ-Tu về bảo vệ tài nguyên thiên nhiên có vai trò quan trọng trong việc duy trì sự bền vững của môi trường. Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả, cần có sự hỗ trợ từ chính sách và sự tham gia của cộng đồng. Tương lai của luật tục phụ thuộc vào khả năng thích ứng với những thay đổi trong môi trường và xã hội.

5.1. Tầm quan trọng của việc bảo tồn luật tục

Bảo tồn luật tục không chỉ là bảo vệ văn hóa mà còn là bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Những quy tắc này cần được duy trì và phát triển để đáp ứng với những thách thức hiện tại.

5.2. Hướng đi cho phát triển bền vững

Để phát triển bền vững, cần có sự kết hợp giữa luật tục và chính sách quản lý nhà nước. Việc này sẽ giúp tạo ra một môi trường thuận lợi cho việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và phát triển cộng đồng.

23/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết, phương pháp và địa bàn nghiên cứu. Chương 2: Luật tục về sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của người Cơ-tu trước năm 1975. Luật tục về sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên của người Cơ-tu từ sau năm 1975 đến nay. Vận dụng luật tục trong sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên - Một số vấn đề đặt ra.

11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT, PHƢƠNG PHÁP VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Nghiên cứu ở nước ngoài về luật tục trong việc sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên Nghiên cứu luật tục về sử dụng và bảo vệ TNTN của các nhóm cư dân địa phương, bộ lạc hay dân tộc bản địa ở các quốc gia, đặc biệt ở châu Á và châu Phi được các học giả tiếp cận dưới nhiều góc độ.

Mỗi cách tiếp cận đưa ra một cách lý giải về nguyên nhân hay đưa ra các giải pháp nhằm điều hòa các mối quan hệ xã hội giữa những người có liên quan với nhau về loại TNTN nào đó để đạt được sự ổn định xã hội và phát triển bền vững. Trước tiên, dưới góc độ TTĐP, vai trò của luật tục ở phương diện quản lý bền vững TNTN được nhiều nghiên cứu chỉ ra và đang ngày càng được thừa nhận rộng rãi hơn. Dưới góc độ này thì luật tục về sử dụng, bảo vệ TNTN được xem là những quy định, quy tắc truyền thống trong thiết chế quản lý TNTN. Theo quan điểm của F.Berkes thì chúng là một trong những lớp nội dung của khái niệm tri thức sinh thái truyền thống [Berkes, 2008].

Tác giả này còn xây dựng khung phân tích tri thức sinh thái truyền thống bao gồm: a) Hiểu biết về cảnh quan, các loài động thực vật, về đất đai; b) Các thực hành quản lý nguồn TNTN; c) Thiết chế xã hội trong quản lý các nguồn TNTN (bộ máy quản lý và quy định liên quan) và d) Thế giới quan (hệ thống về niềm tin và thực hành tín ngưỡng liên quan) - yếu tố có vai trò quyết định trong việc nhìn nhận môi trường và gán cho nó ý nghĩa nhất định. Tuy được phân tách thành 4 lớp để cung cấp cái nhìn vừa khái quát vừa cụ thể trong nghiên cứu tri thức sinh thái truyền thống nhưng trên thực tế chúng có mối quan hệ qua lại với nhau. Tham chiếu các lớp trong khung khái niệm này, luật tục về quản lý tài nguyên của các cộng đồng địa phương chính là lớp phân tích thứ 3 (c): gắn với thiết chế xã hội và các quy định về khai thác, sử dụng và bảo vệ TNTN. Trong các dự án phát triển người ta thường chú trọng quá nhiều vào nội dung a và b nhằm sử dụng những 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hiểu biết của người địa phương để phục vụ cho việc triển khai dự án nhưng lại ít chú ý hoặc bỏ qua nội dung quan trọng về quản lý TNTN của các động đồng địa phương đó là thiết chế quản lý tài nguyên cũng như niềm tin và thực hành tín ngưỡng liên quan.

Chính vì vậy, vô hình trung đã làm giảm đi hiệu quả của phương thức quản lý TNTN truyền thống, xu hướng này bị phê phán vì đã tách TTĐP ra khỏi bối cảnh kinh tế - chính trị - xã hội nơi tri thức đó hình thành và phát triển [Sillitoe, 1998; Briggs, 2005]. Bởi vì, việc quản lý các nguồn TNTN không chỉ đơn thuần dựa trên các tri thức khoa học và phục vụ mục đích kinh tế mà còn phải đáp ứng các nhu cầu về văn hóa, tinh thần và điều hòa mối quan hệ xã hội trong cộng đồng. Chính vì thế, cần có cách tiếp cận rộng hơn và xem xét tới các khía cạnh văn hóa xã hội của cộng đồng địa phương trong vấn đề quản lý tài nguyên. “Nếu không nhìn nhận như thế, thì các cơ chế quản lý sẽ trở thành sự áp đặt không thích hợp” [Kalland, 2010, tr.

Bên cạnh đó, luật tục thực sự tồn tại trong cộng đồng, được biểu hiện thông qua những quy tắc trong hành vi và những giới hạn văn hóa (cấm kỵ xã hội, tín ngưỡng) về khai thác tài nguyên, điều đó giúp họ thích nghi và tồn tại [Orebech và cộng sự, 2005, tr. Nghiên cứu của R.Roy về luật tục các dân tộc bản địa ở châu Á cho rằng luật tục hình thành từ xa xưa trong đời sống hàng ngày, được điều chỉnh, sàng lọc qua thời gian. Vì thế, dưới góc độ của những cư dân này, luật tục gắn liền với văn hóa tộc người, nó luôn vận động và được cộng đồng tự giác tuân thủ. Nhưng dưới góc độ của các nhà lập pháp và quản lý/người ngoài cuộc, luật tục của các dân tộc, nhóm cư dân là luật bất thành văn, thường bị coi là tĩnh tại, xưa cũ chính vì thế nó lạc hậu và xếp thứ yếu so với luật pháp thành văn của nhà nước.

Đặc điểm xã hội chung của những nhóm cư dân này là chưa có sự xuất hiện của nhà nước, đời sống xã hội được vận hành dựa trên luật tục. Chính vì thế, khi xã hội sau này được khoác lên chiếc áo nhà nước và pháp luật đã gây tác động tới việc thực hành luật tục, tới đời sống cộng đồng. Tác giả này phân chia thành hai loại luật tục chính, thứ nhất là những luật tục liên quan tới đời sống cá nhân (kết hôn, ly hôn, thừa kế,…) và thứ hai là luật tục liên quan tới TNTN (quyền sở hữu đất đai, sử dụng 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com rừng, nước và các nguồn TNTN khác). Kết quả nghiên cứu ở một số nước châu Á (Ấn Độ, Malaysia, Nhật Bản…) cho thấy, trong bối cảnh luật pháp nhà nước, luật tục về vấn đề sở hữu đất đai, tiếp cận rừng đứng trước hiện trạng bị lề hóa, bị mai một, đặc biệt là quyền truyền thống về tài nguyên.

Trong một số trường hợp, nơi luật tục được nhà nước công nhận, bảo vệ, duy trì thiết chế xã hội truyền thống thì những thực hành trong luật tục được bảo tồn mạnh mẽ (người Naga và Mizo ở vùng Đông bắc Ấn Độ), nhưng cũng có trường hợp luật tục bị mai một và dần biến mất dưới sức ép của chính sách quản lý của nhà nước (trường hợp của người Ainu ở Nhật Bản) [Roy, 2005]. Như vậy, nghiên cứu này đã chỉ ra rằng yếu tố tác động lớn nhất làm thay đổi luật tục về TNTN của các cộng đồng bản địa đó là sự xuất hiện của thể chế quản lý tài nguyên của quốc gia. Bên cạnh đó, việc phát triển kinh tế, tính di dộng của dân cư cũng được xem là những yếu tố quan trọng tác động tới luật tục của cư dân địa phương. Và kết quả nghiên cứu này cũng cho rằng sự “bảo hộ” của luật pháp nhà nước là yếu tố cốt lõi giúp duy trì hoặc làm mai một luật tục nói chung, luật tục về TNTN nói riêng.

Vai trò của luật tục với tư cách là thiết chế địa phương trong sử dụng, quản lý TNTN cũng được đề cập tới. Như các nghiên cứu về quản lý rừng vùng cao Đông Phi đã chỉ ra rằng thiết chế truyền thống địa phương thể hiện những vai trò tích cực qua quá trình sinh tồn và phát triển của cộng đồng cư dân bản địa [Mowo và cộng sự, 2011]. Hay nghiên cứu về sự thay đổi trong quản trị rừng qua 150 năm ở Ethiopia cũng cho thấy, sự thấu hiểu sự quản trị tài nguyên truyền thống, khả năng thích ứng và năng động của nó qua thời gian là điều mấu chốt để phát triển các cách tiếp cận bền vững trong quản lý rừng [Wakjira, Fischer và Pinard, 2013]. Vì thế, cần có sự tích hợp các thiết chế truyền thống - thiết chế phi chính thức vào thiết chế chính thức trong quản lý các nguồn TNTN.

Và một số nghiên cứu đã chỉ ra cách tích hợp cụ thể, chẳng hạn như bản đồ hóa hệ thống đất đai truyền thống [Sirait và cộng sự, 1994], hay phát huy vai trò, trao quyền cho cá nhân quan trọng trong cộng đồng như thủ lĩnh bộ lạc ở một số quốc gia châu Phi [Ubink và Quan, 2008]. Mặc dù có vai trò quan trọng như thế nhưng trong một số trường hợp, quản lý 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com TNTN dựa vào luật tục lại bị giới hạn khi đặt trong bối cảnh phát triển phức tạp hơn, đa dạng hơn như sự gia tăng dân số, di dân, tài nguyên cạn kiệt, tác động của các chiều kích hiện đại hóa, kinh tế thị trường.như trong kết quả nghiên cứu về luật tục ở một số nước châu Á như đã đề cập ở trên [Roy, 2005]. Vì vậy, cũng có ý kiến cho rằng, không nên quá nhấn mạnh hoặc tuyệt đối hóa sức mạnh của luật tục trong quản lý TNTN [Berkes, 2008]. Chính vì thế, cần có sự nghiên cứu đầy đủ về bối cảnh văn hóa, xã hội và thực trạng luật tục của cộng đồng địa phương khi tích hợp luật tục vào hệ thống luật pháp quốc gia.

Các nghiên cứu dưới góc độ sinh thái chính trị đã nhấn mạnh tới những động thái từ bên ngoài (sự can thiệp của nhà nước, sự phát triển của kinh tế hàng hóa và hội nhập) như là những yếu tố quan trọng tác động tới mối quan hệ giữa các bên liên quan trong quản lý và sử dụng tài nguyên. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng hệ quả của việc lờ đi các quy tắc quản trị của cộng đồng địa phương và áp đặt một cách cứng nhắc các quy định theo cách tiếp cận từ trên xuống - thường là cơ chế quản lý của nhà nước - thường dẫn đến những xung đột về lợi ích liên quan tới các quyền về tài nguyên, đứt gãy về văn hóa, dẫn tới bất ổn về chính trị cũng như làm cho tình trạng suy thoái tài nguyên trầm trọng thêm [Bryant, 1992; McElwee, 2004]. Những hệ quả của việc phá vỡ các quy tắc quản lý truyền thống theo luật tục diễn ra ở nhiều nước châu Á và châu Phi, nơi các nguồn TNTN đang bị suy giảm nghiêm trọng. Một nghiên cứu ở vườn quốc gia Madhupur ở Bangladesh cũng chỉ ra rằng các thiết chế phi chính thức của cộng đồng trong quản lý tài nguyên đã bị thay đổi và chối bỏ bởi sự can thiệp của chính quyền.

Điều đó càng làm tăng khoảng cách giữa chính quyền và người dân, gây nên xung đột về sở hữu đất đai và suy thoái tài nguyên [Rahman và cộng sự, 2014].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ