đặt vấn đề từ đó đưa ra câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu, bên cạnh đó cũng giải thích rõ hơn về ý nghĩa thực tiễn của bài nghiên cứu và cuối cùng là cấu trúc của bài. Chương 2: Tổng quan lý thuyết và thực tiễn Tổng quan bao gồm tổng quan về IBS, cơ sỡ lý thuyết nền cho bài nghiên cứu và các nghiên cứu trong nước, trên thế giới có liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu nêu các nội dung về khung phân tích, mô hình phân tích, thiết kế nghiên cứu, đưa ra cỡ mẫu, định nghĩa các biến liên quan và nêu ra phương pháp thống kê dùng trong nghiên cứu. Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu Kết quả nghiên cứu trình bày về đặc điểm mẫu thu thập, đưa ra phần trăm bệnh nhân mắc IBS, đánh giá các nhân tố tác động đến bệnh cũng như xu hướng tác động của các yếu tố đó dựa trên phương pháp nghiên cứu định lượng.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị 5 Dựa vào kết quả nghiên cứu để kết luận, nêu ra hạn chế của nghiên cứu và đề xuất giải pháp, hàm ý chính sách của nghiên cứu. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan lý thuyết 1.1 Tổng quan về bệnh Hội chứng ruột kích thích (IBS) IBS là một rối loạn chức năng mãn tính của hệ thống dạ dày-ruột. Bệnh nhân có các triệu chứng như đau bụng và thói quen ruột thay đổi, với các thể như chủ yếu là tiêu chảy (IBS-D), chủ yếu là táo bón (IBS-C), hoặc thể hiện cả hai: tiêu chảy và táo bón (IBS-M) (Lekha Saha, 2014).
Tùy thuộc vào các tiêu chuẩn chẩn đoán được sử dụng, IBS ảnh hưởng đến khoảng 11% dân số trên toàn cầu (Canavan et al. Khoảng 30% những người gặp các triệu chứng của IBS sẽ diễn giải cho bác sĩ hiểu vấn đề của họ. Trên bình diện quốc tế, tỷ lệ hiện mắc của nữ giới chiếm ưu thế hơn (Canavan et al. Dưới 25% những người bị IBS ở độ tuổi trên 50 không có liên quan đến tình trạng kinh tế xã hội (Canavan et al.
Ở đa số các nước phương Tây, tỉ lệ mắc IBS vào khoảng 20% trong khi đó ở châu Á, tỉ lệ này thay đổi từ 2.6%, trong khi ở Anh quốc, tỉ lệ này chiếm 10-22% dân số và có xu hướng ngày càng tăng, trong đó tỉ lệ nữ giới mắc bệnh cao gấp 2 lần nam giới (Canavan et al. Trong một nghiên cứu mới nhất về Hội chứng ruột kích thích của tác giả Tarek Mazzawi và cộng sự, 2017 tỷ lệ IBS chiếm 5-20% dân số thế giới. Tại Châu Âu là 11,5%, 12,1% ở Canada, 4,7% tại Mỹ, 6,9% ở Úc, 34% ở Ai Cập, 4% tại Ấn Độ và Trung Quốc từ 4,6-5,6%. (Mazzawi & El-Salhy, 2017) Theo Tổ chức Tiêu hóa thế giới (World Gastroenterology Organization, 2009), IBS ảnh hưởng tới 9-23 % dân số trên toàn thế giới và vẫn không giảm trong nhiều năm (L.
Tỷ lệ mắc IBS ở các nước có sự khác nhau đáng kể là do sự khác biệt về lối sống và cũng phụ thuộc vào tiêu chuẩn chẩn đoán được sử dụng. Tỷ lệ mắc IBS đang có xu hướng gia tăng ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, đặc biệt ở các nước có nền kinh tế đang phát triển. Ở hầu hết các nước phương Tây, tỷ lệ mắc IBS là khoảng 20% trong khi đó ở châu Á, tỷ lệ này thay đổi từ 2,9% đến 15,6% (Liu, Xiao, Zhang, & Yao, 2014). Còn ở châu Âu và Bắc Mỹ, tỷ lệ này ước tính khoảng 10-15%.
Ở Anh quốc, tỷ lệ IBS chiếm 10-22% dân số và có 6 xu hướng ngày càng tăng, trong đó tỷ lệ nữ giới mắc bệnh cao gấp 2 lần nam giới (Gastroenterology, 2006). Một nghiên cứu từ Venezuala cũng cho thấy sự khác biệt về giới tính tương tự, trong 16,8% người mắc bệnh thì có 81,6% là phụ nữ và chỉ có 18,4% là nam giới (Veitia G, 2013). Theo nghiên cứu của Agarwal, et al (2011) (Agarwal & Spiegel, 2011), những người dưới 50 tuổi dễ mắc bệnh hơn những lớn tuổi hơn. Kang (2011), IBS chiếm khoảng 28% những bệnh đường tiêu hóa và 12% trong những chăm sóc lâm sàng đầu tiên (Kang et al.
Hội chứng ruột kích thích là bệnh gây ra do sự kết hợp của 3 cơ chế: yếu tố tâm lý xã hội, thay đổi tính di động của ruột và/hoặc tăng sự nhạy cảm của ruột. Căng thẳng tâm lý và thể chất làm tăng sự co thắt đại tràng đưa đến các biểu hiện về triệu chứng của bệnh. Phương pháp chuẩn đoán lần đầu tiên được Maning và cộng sự công bố vào năm 1978 (Manning, Thompson, Heaton, & Morris, 1978). Sau đó tiêu chuẩn chẩn đoán được sửa đổi bổ sung qua thời gian, bao gồm tiêu chuẩn ROME I, ROME II (Spiller, 2000) và gần nhất và đang được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới là tiêu chuẩn ROME III được công bố vào năm 2006 (Thompson, Drossman, Talley, Walker, & Whitehead III, 2006).
Gần đây nhất tiêu chuẩn ROME IV đã được xây dựng bởi Brian E. Tuy nhiên trên lâm sàng, tiêu chuẩn ROME III vẫn là tiêu chuẩn được sử dụng phổ biến nhất. Tiêu chuẩn ROME III nói rằng bệnh nhân có triệu chứng đau bụng hoặc hoặc khó chịu xảy ra thường xuyên ít nhất 3 ngày/tháng trong vòng ít nhất 3 tháng, có xuất hiện ít nhất 2 tình trạng sau: cải thiện tình trạng sau khi đi vệ sinh; sự khỏi phát liên quan đến thay đổi số lần đjai tiện; sự khởi phát liên quan đến thay đổi hình dạng phân được. Ngoài ra, bệnh nhân không có tổn thương thực thể đường tiêu hóa.
Các yếu tố trên gộp lại có thể chẩn đoán bệnh nhân mắc IBS.1 Tóm tắt tiêu chuẩn chẩn đoán dùng để xác định IBS Tiêu chuẩn chẩn đoán Triệu chứng, dấu hiện và nghiên cứu cấp độ phòng thí nghiệm trong tiêu chuẩn Maning (1978) IBS được định nghĩa là xuất hiện các triệu chứng dưới đây, tuy nhiên thời gian xuất hiện triệu chứng và số lượng triệu chứng cần có để chẩn đoán bệnh không được đề cập trong bài báo. Tuy nhiên, ngưỡng từ 3 triệu chứng được sử dụng nhiều nhất. Kruis (1984) IBS được xác định bởi mô hình hồi quy logistic, các triệu chứng cần xuất hiện và lặp đi lặp lại trong hơn 2 năm. Rome I (1990) Đau bụng hoặc khó chịu nhẹ khi đi vệ sinh, hoặc kết hợp với sự thay đổi về tần số phân và sự nhất quán về hình dạng phân.
Cộng với ít nhất 2 triệu chứng sau đây trong ít nhất 25% các trường hợp hoặc 25% số ngày trong 3 tháng: Thay đổi tần số phân Hình dạng phân bị thay đổi Thay đổi trạng thái phân Sự xuất hiện của chất nhầy trong phân Đầy hơi hoặc căng thẳng Rome II (1999) Đau bụng hoặc khó chịu vùng bụng có hai trong ba triệu chứng dưới đây trong 12 tuần (không cần phải liên tục) trong một năm qua: - - Nhẹ nhõm khi đi vệ sinh - - Khởi phát liên quan đến sự thay đổi tần suất phân - - Khởi phát liên quan đến sự thay đổi hình dạng phân Rome III (2006) Đau bụng hoặc khó chịu xảy ra thường xuyên ít nhất 3 ngày/tháng trong vòng ít nhất 3 tháng, có xuất hiện ít nhất 2 tình trạng sau: 8 - Cải thiện tình trạng sau khi đi vệ sinh - Sự khởi phát liên quan đến thay đổi số lần đại tiện - Sự khởi phát liên quan đến thay đổi hình dạng phân Rome IV (2016) Tình trạng đau bụng xảy ra thường xuyên, trung bình ít nhất 1 ngày/tuần trong 3 tháng qua, liên quan đến hai hoặc nhiều tiêu chí sau: - Liên quan đến việc đi tiêu - Liên quan đến sự thay đổi tần số đi tiêu - Liên quan đến sự thay đổi về hình thức (hình dạng) của phân Dựa trên tiêu chuẩn chẩn đoán ROME III, IBS được chia thành 3 nhóm bệnh nhân: (1) IBS với triệu chứng táo bón là chủ yếu (IBS-C); (2) IBS với triệu chứng tiêu chảy là chủ yếu (IBS-D); (3) IBS hỗn hợp với cả 2 triệu chứng tiêu chảy và táo bón (IBS-M). Tùy thuộc vào từng loại IBS mà cách biểu hiện của mỗi bệnh nhân có thể khác nhau theo thời gian. Dựa trên các báo cáo ca lâm sàng thì các triệu chứng như đau bụng, căng thẳng, đau cơ, sự cấp bách để đi tiêu, đầy hơi hoặc cảm giác ốm nặng là các biểu hiện phổ biến của bệnh. Sự phức tạp và đa dạng trong triệu chứng của IBS làm cho việc điều trị trở nên khó khăn, mặc dù đã có những đánh giá và hướng dẫn điều trị IBS để làm giảm tối đa các triệu chứng bệnh.
Nhiều bệnh nhân mắc IBS đã phải điều trị y khoa trong nhiều năm với các chẩn đoán khác nhau vì thiếu sự quan tâm hoặc bị thất vọng sâu sắc bởi các bác sĩ điều trị. Có thể đó là một sự kỳ thị của chính bệnh nhân tạo ra, đây được xem là một thực thể bệnh tâm thần, hoặc do thiếu hụt các tiêu chuẩn chẩn đoán trên lâm sàng. Một vài nghiên cứu y khoa đã hỗ trợ làm gia tăng sự tự tin của bệnh nhân 9 thông qua việ lắng nghe bệnh nhân, giải thích chi tiết cho bệnh nhân về sinh lý bệnh, các biểu hiện tự nhiên của bệnh, cách quản lý bệnh và tiên lượng của bệnh (Owens, Nelson, & Talley, 1995). Việc điều trị IBS, cần kết hợp nhiều yếu tố từ biện pháp không dùng thuốc đến biện pháp dùng thuốc với mục tiêu hạn chế số lần, thời gian xảy ra triệu chứng đối với bệnh nhân.
Biện pháp điều trị không dùng thuốc như tập thể dục, thay đổi chế độ dinh dưỡng, điều trị tâm lý như thôi mien được đưa ra trong nhiều nghiên cứu. Cụ thể việc thay đổi chế độ dinh dưỡng được quan tâm nhiều và hướng dẫn mới nhất về chế độ dinh dưỡng cho bệnh nhân IBS được công bố năm 2016 (McKenzie et al.2 Cơ sỡ lý thuyết về kinh tế học của IBS Để ước tính các yếu tố quyết định đến IBS, nghiên cứu áp dụng lý thuyết của Becker (1981) và lý thuyết của Grossman (1972). Theo Grossman (1972), vốn sức khoẻ là một thành tố của vốn con người. Sức khoẻ được mỗi cá nhân yêu cầu vì sức khoẻ tham gia trực tiếp vào hàm lợi ích của mỗi cá nhân, nhưng cũng vì sức khoẻ xác định tổng thời gian có được dành cho những hoạt động thị trường và phi thị trường.
Mỗi cá nhân thừa hưởng một kho sức khoẻ ban đầu mất giá trị với thời gian nhưng có thể được tăng lên bằng việc đầu tư, sử dụng những dịch vụ chăm sóc y tế và thời gian dành cho sức khoẻ. Giáo dục làm tăng năng suất của đầu tư phi hàng hoá về sức khoẻ.