Luận văn: Quản lý nhà nước về xây dựng Nông thôn mới kinh tế tại huyện Quế Sơn

Luận văn phân tích thực trạng quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới kinh tế tại Quế Sơn, đề xuất các giải pháp và kiến nghị thiết thực.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2021

86
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan chương trình xây dựng nông thôn mới kinh tế Quế Sơn

Chương trình xây dựng nông thôn mới (NTM) là một chủ trương chiến lược, thể hiện sự quan tâm nhất quán của Đảng và Nhà nước đối với khu vực nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam, chương trình này được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, với mục tiêu cốt lõi là phát triển kinh tế, coi đây là khâu đột phá để cải thiện toàn diện đời sống người dân. Luận văn “Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực kinh tế từ thực tiễn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam” của tác giả Phạm Văn Công (2021) đã cung cấp một cái nhìn sâu sắc về quá trình này. Huyện Quế Sơn, một huyện trung du với dân số nông thôn chiếm tới 82% (thống kê năm 2019), bắt đầu triển khai chương trình từ một xuất phát điểm thấp. Tuy nhiên, với sự chỉ đạo quyết liệt và các giải pháp đồng bộ, địa phương đã đạt được những thành tựu đáng kể. Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới không chỉ tập trung vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng mà còn chú trọng vào việc tái cơ cấu sản xuất, nâng cao giá trị gia tăng và tạo ra sinh kế bền vững. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng một nông thôn hiện đại, văn minh, bảo tồn bản sắc văn hóa và rút ngắn khoảng cách phát triển so với khu vực thành thị. Quá trình này đòi hỏi sự tham gia của cả hệ thống chính trị và đặc biệt là vai trò chủ thể của người dân, những người trực tiếp thụ hưởng thành quả. Việc phân tích thực tiễn tại Quế Sơn cung cấp những bài học kinh nghiệm quý báu cho việc hoàn thiện chính sách và nhân rộng các mô hình hiệu quả, góp phần vào sự thành công chung của chương trình trên cả nước.

1.1. Mục tiêu cốt lõi của chương trình mục tiêu quốc gia

Mục tiêu hàng đầu của chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới là tổ chức lại sản xuất, nâng cao thu nhập và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân nông thôn. Theo Nghị quyết số 26-NQ/TW, chương trình hướng đến việc xây dựng một nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững. Điều này bao gồm việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, áp dụng khoa học công nghệ, và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất hiệu quả. Mục tiêu không chỉ dừng lại ở các chỉ số kinh tế mà còn bao trùm các lĩnh vực văn hóa, xã hội, môi trường và an ninh quốc phòng, tạo nên một sự phát triển hài hòa và toàn diện.

1.2. Đặc điểm kinh tế huyện Quế Sơn Quảng Nam nổi bật

Quế Sơn là huyện trung du của tỉnh Quảng Nam, có những đặc điểm kinh tế huyện Quế Sơn, Quảng Nam mang tính đặc thù. Kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, lâm nghiệp với địa hình đa dạng gồm cả đồi núi và đồng bằng nhỏ hẹp. Đây vừa là lợi thế để phát triển các mô hình kinh tế đa dạng, nhưng cũng là thách thức do đất đai manh mún, dễ bị xói mòn. Theo luận văn, giá trị sản xuất nông - lâm nghiệp - thủy sản năm 2019 đạt 1.247 tỷ đồng. Huyện đã xác định phát triển sản xuất là khâu đột phá, tập trung vào các sản phẩm chủ lực và từng bước hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, tạo tiền đề cho công cuộc phát triển kinh tế nông thôn huyện Quế Sơn.

II. Thực trạng và thách thức xây dựng nông thôn mới Quế Sơn

Giai đoạn 2015-2019 chứng kiến những nỗ lực vượt bậc của huyện Quế Sơn trong công cuộc xây dựng NTM. Thực trạng xây dựng nông thôn mới tại địa phương cho thấy nhiều kết quả tích cực. Đến cuối giai đoạn, huyện đã có 5 xã đạt chuẩn NTM, bình quân mỗi xã đạt 14,84 tiêu chí, tăng 2,74 tiêu chí so với năm 2015. Tổng nguồn vốn huy động đạt trên 358 tỷ đồng, tập trung chủ yếu vào phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội, làm thay đổi rõ rệt bộ mặt nông thôn. Đời sống người dân được cải thiện, thu nhập bình quân đầu người năm 2018 đạt 31 triệu đồng và tỷ lệ hộ nghèo giảm từ trên 12% (năm 2015) xuống còn 6,36% (năm 2018). Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, Quế Sơn vẫn đối mặt với không ít thách thức. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, sản xuất nông nghiệp vẫn còn nhỏ lẻ. Một trong những khó khăn lớn nhất là việc hoàn thành và duy trì tiêu chí thu nhập, đòi hỏi phải có những giải pháp đột phá và bền vững hơn. Việc huy động nguồn lực xây dựng NTM, đặc biệt là vốn ngoài ngân sách, còn hạn chế. Nhận thức và sự tham gia chủ động của một bộ phận người dân chưa cao, đôi khi còn tâm lý trông chờ, ỷ lại vào sự đầu tư của nhà nước. Những thách thức này đòi hỏi sự quyết tâm chính trị cao hơn và các giải pháp quản lý hiệu quả hơn trong giai đoạn tiếp theo.

2.1. Kết quả đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế xã hội

Một trong những thành tựu nổi bật nhất là sự đầu tư mạnh mẽ vào phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội. Các công trình giao thông nông thôn, thủy lợi, trường học, trạm y tế được nâng cấp và xây dựng mới, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất và sinh hoạt. Hệ thống điện, đường, trường, trạm được hoàn thiện đã kết nối các vùng, thúc đẩy giao thương và rút ngắn khoảng cách giữa các địa phương. Tuy nhiên, áp lực về vốn đầu tư hạ tầng là rất lớn, đòi hỏi cần có cơ chế quản lý và huy động vốn hiệu quả hơn, tránh tình trạng nợ đọng trong xây dựng cơ bản.

2.2. Khó khăn trong việc nâng cao thu nhập bình quân đầu người

Tiêu chí thu nhập được xem là một trong những tiêu chí khó đạt và khó duy trì nhất. Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, việc nâng cao thu nhập bình quân đầu người vẫn là một thách thức lớn. Nguyên nhân chính là do sản xuất nông nghiệp còn manh mún, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, giá cả thị trường bấp bênh. Các mô hình kinh tế hiệu quả chưa được nhân rộng, và việc chuyển đổi sang các ngành nghề phi nông nghiệp diễn ra còn chậm. Để giải quyết vấn đề này, cần có các chính sách hỗ trợ sản xuất, kết nối thị trường và đào tạo nghề cho lao động nông thôn một cách thực chất.

III. Giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Quế Sơn

Để giải quyết bài toán thu nhập và phát triển bền vững, giải pháp then chốt là thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp một cách mạnh mẽ và hiệu quả. Luận văn của Phạm Văn Công đã chỉ ra, huyện Quế Sơn đã và đang tập trung chỉ đạo, triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Thay vì tập trung vào cây lúa truyền thống, huyện đã khuyến khích nông dân chuyển đổi khoảng 600ha đất lúa kém hiệu quả sang trồng các loại cây màu có giá trị kinh tế cao hơn như bắp lai, mè, đậu phụng. Các mô hình này cho thu nhập cao hơn từ 25-40 triệu đồng/ha/năm. Song song với trồng trọt, lĩnh vực chăn nuôi cũng được chú trọng phát triển theo quy mô trang trại, gia trại. Hiện huyện có 13 trang trại và 41 gia trại mang lại lợi nhuận cao, góp phần đáng kể vào việc nâng cao thu nhập bình quân đầu người. Yếu tố quyết định thành công của quá trình này là việc hình thành các mô hình kinh tế hiệu quả ở nông thôn và tăng cường liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản. Sự ra đời của các hợp tác xã kiểu mới và sự hợp tác giữa nông dân với doanh nghiệp đã mở ra hướng đi mới, giúp ổn định đầu ra và nâng cao vị thế của người nông dân trong chuỗi giá trị.

3.1. Phát triển kinh tế trang trại hợp tác xã kiểu mới

Mô hình kinh tế trang trại, hợp tác xã (HTX) được xem là động lực quan trọng trong việc tổ chức lại sản xuất. Các trang trại chăn nuôi quy mô lớn giúp áp dụng tiến bộ kỹ thuật, kiểm soát dịch bệnh và nâng cao năng suất. Các HTX kiểu mới, như HTX Nông nghiệp Quế Long, không chỉ cung cấp dịch vụ đầu vào mà còn đứng ra làm đầu mối thu gom, chế biến và kết nối thị trường. Vai trò của HTX trong việc xây dựng thương hiệu sản phẩm địa phương, như thương hiệu "Gà tre Đèo Le", là minh chứng rõ nét cho hiệu quả của hình thức tổ chức sản xuất này.

3.2. Vai trò của liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản

Phá vỡ thế sản xuất nhỏ lẻ, tự phát là yêu cầu cấp thiết. Giải pháp hiệu quả là đẩy mạnh liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản giữa nông dân và doanh nghiệp. Tại Quế Sơn, mô hình liên kết sản xuất lúa giống theo phương thức bao tiêu đầu ra trên diện tích 200ha mỗi năm đã giúp nông dân tăng thêm thu nhập đáng kể. Mối liên kết "4 nhà" (Nhà nước - Nhà khoa học - Nhà nông - Nhà doanh nghiệp) giúp giảm thiểu rủi ro, ổn định sản xuất và đảm bảo lợi ích hài hòa cho các bên tham gia, tạo ra một chuỗi giá trị nông sản bền vững.

IV. Bí quyết huy động nguồn lực phát triển OCOP tại Quế Sơn

Thành công của chương trình xây dựng NTM không thể thiếu việc huy động nguồn lực xây dựng NTM một cách đa dạng và hiệu quả. Theo Quyết định 800/QĐ-TTg, các nguồn lực bao gồm vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng, vốn doanh nghiệp và sự đóng góp của cộng đồng. Tại Quế Sơn, tổng nguồn vốn huy động trong 3 năm đạt trên 358 tỷ đồng. Trong đó, ngân sách nhà nước đóng vai trò "vốn mồi", kích thích và hỗ trợ, còn sức mạnh nội sinh từ người dân và doanh nghiệp là yếu tố quyết định. Người dân đóng góp bằng ngày công lao động, hiến đất làm đường, trong khi doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất, kinh doanh trên địa bàn. Một trong những giải pháp phát triển kinh tế Quế Sơn mang tính đột phá là việc triển khai chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) Quế Sơn. Chương trình này không chỉ giúp phát triển các sản phẩm đặc trưng, có lợi thế của địa phương mà còn là công cụ hữu hiệu để tái cơ cấu kinh tế nông thôn. Bằng việc tiêu chuẩn hóa sản phẩm, xây dựng thương hiệu và xúc tiến thương mại, OCOP giúp nâng cao giá trị nông sản, tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho người dân. Đây là hướng đi đúng đắn để biến tiềm năng, lợi thế của địa phương thành những sản phẩm hàng hóa có sức cạnh tranh cao trên thị trường.

4.1. Triển khai chương trình mỗi xã một sản phẩm OCOP hiệu quả

Việc triển khai chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) Quế Sơn được xem là nhiệm vụ trọng tâm. Huyện đã chỉ đạo các xã rà soát, lựa chọn các sản phẩm có tiềm năng để xây dựng và phát triển. Các sản phẩm này được hỗ trợ về quy trình sản xuất, thiết kế bao bì, xây dựng câu chuyện sản phẩm và quảng bá thương hiệu. Sự thành công của các sản phẩm OCOP sẽ tạo ra sức lan tỏa, khuyến khích các hộ sản xuất khác tham gia, hình thành nên một hệ sinh thái sản phẩm địa phương phong phú và chất lượng.

4.2. Chính sách thu hút đầu tư và đa dạng hóa nguồn vốn

Để giảm phụ thuộc vào ngân sách, huyện cần có chính sách cởi mở để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Việc cải thiện môi trường kinh doanh, đơn giản hóa thủ tục hành chính, và có các cơ chế ưu đãi về đất đai, thuế... là rất cần thiết. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích sự đóng góp của cộng đồng, con em xa quê và các tổ chức xã hội. Việc đa dạng hóa nguồn vốn đảm bảo cho chương trình được triển khai một cách bền vững và toàn diện.

V. Đánh giá tác động của nông thôn mới đến kinh tế Quế Sơn

Chương trình xây dựng NTM đã tạo ra những tác động của nông thôn mới đến kinh tế địa phương một cách sâu sắc và toàn diện. Những con số thống kê từ luận văn gốc là minh chứng rõ ràng nhất. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân hàng năm giai đoạn 2015-2019 đạt 16,17%, một con số ấn tượng. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ. Quan trọng hơn, những thành tựu kinh tế đã trực tiếp cải thiện đời sống người dân. Thu nhập bình quân đầu người ước đạt 36 triệu đồng vào năm 2020, vượt chỉ tiêu đề ra. Kết quả nổi bật nhất là công tác giảm nghèo bền vững tại Quế Sơn. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ 12,12% năm 2015 xuống chỉ còn 4,31% vào cuối năm 2019. Đây không chỉ là sự thay đổi về con số mà còn là sự thay đổi về chất lượng cuộc sống, cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục của người dân được nâng lên. Diện mạo nông thôn Quế Sơn đã thực sự "thay da đổi thịt" với hệ thống hạ tầng ngày càng đồng bộ, môi trường sống được cải thiện. Những kết quả này khẳng định chủ trương xây dựng NTM là hoàn toàn đúng đắn, mang lại lợi ích thiết thực cho người dân.

5.1. Kết quả giảm nghèo bền vững và thay đổi diện mạo nông thôn

Thành tựu về giảm nghèo bền vững tại Quế Sơn là kết quả tổng hợp của nhiều giải pháp, từ hỗ trợ sản xuất, cho vay vốn ưu đãi đến đào tạo nghề và giới thiệu việc làm. Chương trình không chỉ giúp các hộ thoát nghèo mà còn tạo ra các điều kiện để họ vươn lên làm giàu chính đáng. Song song đó, việc đầu tư vào hạ tầng đã làm thay đổi hoàn toàn diện mạo các xã, thôn. Những con đường bê tông sạch đẹp, những ngôi nhà khang trang, các công trình văn hóa thể thao... đã mang lại sức sống mới cho vùng quê.

5.2. Phân tích số liệu tăng trưởng kinh tế và thu nhập người dân

Các số liệu cho thấy một bức tranh kinh tế tích cực. Giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng năm 2020 ước đạt 3.948 tỷ đồng, tăng 2.003 tỷ đồng so với năm 2015. Lĩnh vực thương mại - dịch vụ cũng tăng trưởng mạnh mẽ. Sự tăng trưởng này là nền tảng vững chắc cho việc nâng cao thu nhập bình quân đầu người. Sự cải thiện thu nhập không chỉ đến từ sản xuất nông nghiệp mà còn từ các hoạt động phi nông nghiệp, cho thấy sự chuyển dịch lao động và cơ cấu kinh tế đang đi đúng hướng.

VI. Phương hướng phát triển kinh tế nông thôn bền vững ở Quế Sơn

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, hành trình xây dựng NTM tại Quế Sơn vẫn còn ở phía trước, với mục tiêu cao hơn là phát triển bền vững và xây dựng các xã NTM nâng cao, kiểu mẫu. Để hiện thực hóa mục tiêu này, các giải pháp phát triển kinh tế Quế Sơn trong giai đoạn tới cần tập trung vào chiều sâu. Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện công tác quản lý nhà nước, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ cơ sở, đảm bảo các chính sách được thực thi một cách hiệu quả và minh bạch. Trọng tâm của phát triển kinh tế nông thôn huyện Quế Sơn là tiếp tục đẩy mạnh tái cơ cấu nông nghiệp gắn với thị trường, ứng dụng công nghệ cao và xây dựng các chuỗi giá trị nông sản chủ lực. Cần nhân rộng các mô hình liên kết sản xuất hiệu quả, thu hút mạnh mẽ hơn nữa doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, chế biến sâu. Phát triển các sản phẩm OCOP phải đi vào thực chất, gắn với việc bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển du lịch cộng đồng. Tầm nhìn dài hạn là xây dựng một nền kinh tế nông thôn đa dạng, không chỉ dựa vào nông nghiệp mà còn phát triển mạnh mẽ công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, tạo ra nhiều việc làm tại chỗ, giữ chân lao động trẻ và xây dựng Quế Sơn trở thành một miền quê đáng sống.

6.1. Kiến nghị hoàn thiện quản lý nhà nước về xây dựng NTM

Luận văn đề xuất cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách, đặc biệt là các chính sách về đất đai, tín dụng và thu hút đầu tư để tạo động lực mạnh mẽ hơn cho phát triển. Cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chương trình, đảm bảo các nguồn lực được sử dụng đúng mục đích, hiệu quả. Nâng cao vai trò của cộng đồng trong việc giám sát và tham gia vào quá trình ra quyết định là yếu tố then chốt để đảm bảo tính bền vững.

6.2. Tầm nhìn xây dựng xã NTM nâng cao và kiểu mẫu tương lai

Mục tiêu không dừng lại ở việc đạt chuẩn 19 tiêu chí. Tầm nhìn của Quế Sơn là hướng tới xây dựng các xã đạt chuẩn "NTM nâng cao" và "Khu dân cư NTM kiểu mẫu". Điều này đòi hỏi các tiêu chí về kinh tế, văn hóa, môi trường phải ở một cấp độ cao hơn. Kinh tế phải phát triển theo hướng kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh; đời sống văn hóa tinh thần của người dân phải thực sự phong phú và môi trường sống phải trong lành, an toàn. Đây là mục tiêu cao hơn, đòi hỏi sự nỗ lực và sáng tạo không ngừng.

04/10/2025
Luận văn quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực kinh tế từ thực tiễn huyện quế sơn tỉnh quảng nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRONG LĨNH VỰC KINH TẾ 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò quản lý nhà nước đối với xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực kinh tế 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về kinh tế Kinh tế (economic) theo nghĩa kinh tế học, đó là tiết kiệm, là sự lựa chọn trong việc sử dụng vốn, tài nguyên để đạt lợi ích nhất.

Kinh tế dùng để chỉ toàn bộ các hoạt động sản xuất, trao đổi, phân phối, lưu thông và tiêu dùng trong một khoảng thời gian nhất định của cả một cộng đồng dân cư, một quốc gia để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người trong một xã hội với một nguồn lực có hạn. Tuy nhiên, theo nghĩa đầy đủ nhất, kinh tế được hiểu đó là hoạt động sản xuất của cải vật chất, là toàn bộ phương thức sản xuất và trao đổi của một chế độ xã hội; là tổng hòa các mối quan hệ sản xuất (quan hệ sở hữu, quan hệ tổ chức, quản lý và quan hệ phân phối, lưu thông sản phẩm xã hội), dựa trên một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất, tạo nên kết cấu kinh tế của chế độ xã hội hay cơ sở hạ tầng kinh tế của xã hội. (Lê Thị Thu Thảo, 2015) Theo Mác và Ăng-ghen, sản xuất vật chất là cơ sở cho sự phát triển của xã hội loài người. Việc chuyển từ nấc thang phát triển xã hội này sang nấc thang phát triển xã hội khác, trước hết gắn liền với sự phát triển của phương thức sản xuất vật chất; Theo Chủ nghĩa Mác: phương thức sản xuất vật chất quy định những quá trình sinh hoạt chính trị, xã hội nói chung.

Nói đến kinh tế là nói đến lợi ích kinh tế, hiệu quả kinh tế và sự phát triển của lực lượng sản xuất gắn liền với mỗi thành viên tham gia quá trình sản xuất và tái sản xuất, cũng như lợi ích của mỗi tập đoàn, giai cấp, nhóm xã hội. Phát triển kinh tế được hiểu là quá trình tích lũy và tăng tiến của nền 9 kinh tế. Khái niệm phát triển kinh tế có nội dung phản ánh rộng hơn so với khái niệm tăng trưởng kinh tế. Phát triển kinh tế là bao hàm tăng trưởng kinh tế; sự hoàn chỉnh thể chế, cơ cấu kinh tế; và thu nhập của đời sống.

Nếu như “tăng trưởng kinh tế” dùng để chỉ sự gia tăng về mặt lượng của các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp (GDP, GDP/đầu người hoặc GNP, GNP/đầu người…); thì “phát triển kinh tế” vừa bao hàm quá trình gia tăng về mặt lượng của nền kinh tế, vừa bao hàm sự biến đổi về mặt chất của nền kinh tế – xã hội, mà điển hình là sự chuyển dịch CCKT theo hướng CNH,HĐH và nâng cao mức sống toàn dân, trình độ phát triển văn minh xã hội… 1. Khái niệm về xây dựng nông thôn mới Xây dựng NTM là một cuộc vận động chuyển biến cách mạng của cộng đồng cư dân ở khu vực nông thôn để họ đồng tâm hiệp lực vừa xây dựng phát triển toàn diện về lĩnh vực sản xuất nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ; vừa đảm bảo cải thiện thu nhập và đời sống nông dân, tạo lập được nếp sống văn hóa, bảo vệ môi trường sinh thái và giữ vững ổn định an ninh nông thôn; vừa xây dựng gia đình, thôn, xã văn minh, sạch đẹp. (Lê Thị Thu Thảo, 2015) Nước ta trong giai đoạn hiện nay, chương trình nhiệm vụ xây dựng NTM được xem là một cuộc vận động chuyển biến lớn, thể hiện sự nhất quán quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước để tạo dựng một nông thôn hiện đại, văn minh, phát triển toàn diện và không ngừng cải thiện nâng cao đời sống người nông dân Việt Nam. Xây dựng NTM là chương trình có hệ mục tiêu, quan điểm, nội dung cơ bản và các nhiệm vụ giải pháp cùng với phương thức thực hiện một cách cụ thể (Vũ Văn Phúc, 2012).

Như vậy: Xây dựng NTM được hiểu là quá trình xây dựng nông thôn đạt mười chín tiêu chí theo quy định của Bộ tiêu chí QG về NTM, nhằm tạo dựng một nông thôn văn minh, hiện đại và phát triển toàn diện, không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống người nông dân. Quản lý nhà nước đối với xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực kinh tế Quản lý nhà nước về khu vực nông thôn được hiểu đó là sự tác động hướng đích và tổ chức điều hành bằng công cụ quyền lực Nhà nước thông qua hệ thống chính sách, pháp luật và bộ máy quản lý cùng nhân sự của mình để tác động lên các quá trình kinh KT-XH ở khu vực nông thôn nhằm hiện thực hóa các mục tiêu phát triển KT-XH đã đề ra” (Học viện Hành chính Quốc gia, 2008). Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới là một nội dung quan trọng của quản lý nhà nước, bao gồm sự tập hợp mọi hoạt động của hệ thống cơ quan nhà nước để tác động vào nông nghiệp - nông dân - nông thôn nhằm thực hiện các nội dung và mục tiêu phấn đấu trong xây dựng nông thôn mới theo hướng phát triển nền kinh tế bền vững, bảo đảm cuộc sống người dân ở khu vực nông thôn nước ta ngày một tốt đẹp hơn và tạo lập môi trường ổn định cho sự phát triển đất nước. (Lê Thị Thu Thảo, 2015) Mặt khác, theo tiêu chí số 10, 11, 12 và 13 về kinh tế trong Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 (được ban hành theo Quyết định 1980/QĐ-TTg ngày 17 tháng 10 năm 2016), xã được công nhận đạt tiêu chí về kinh tế phải đáp ứng các điều kiện: Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn đến năm 2020 ≥ 45 triệu đồng/người; Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giai đoạn 2016-2020 ≤ 6%; Tỷ lệ người có việc làm trên dân số trong độ tuổi lao động có khả năng tham gia lao động ≥ 90%; Xã có hợp tác xã hoạt động theo đúng quy định của Luật Hợp tác xã năm 2012 hoặc Xã có mô hình liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản chủ lực đảm bảo bền vững.

(Quyết định số 1980/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ) Như vậy, quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực kinh tế là khái niệm dùng để chỉ sự tác động của các cơ quan quản lý nhà nước có chức năng thông qua các công cụ pháp lý và cơ chế chính sách, tổ chức bộ 11 máy cùng đội ngũ nhân sự của mình vào khu vực nông nghiệp - nông dân - nông thôn để hiện thực hóa các nội dung, mục tiêu xây dựng NTM trong lĩnh vực kinh tế nhằm phát triển kinh tế nông thôn, mang lại đời sống ấm no hạnh phúc cho người nông dân, góp phần rút ngắn khoảng cách phát triển giữa đô thị và nông thôn Việt Nam. Đặc điểm quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực kinh tế - Chương trình nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế vốn là chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước ta đóng vai trò quan trọng có ý nghĩa chiến lược của công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc XHCN, góp phần nâng cao không ngừng đời sống nhân dân và thay đổi tích cực diện mạo xã hội nông thôn. Chính quyền nhà nước các cấp với chức năng quản lý điều hành của mình là điều tiết và khắc phục mặt trái của kinh tế thị trường trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế, góp phần vào việc hiện thực hóa các mục tiêu phát triển bền vững kinh tế - xã hội. - Xây dựng nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế là chương trình hành động được thí điểm trong lĩnh vực kinh tế, vừa làm mô hình vừa đúc rút các kinh nghiệm.

Vì vậy, trên cơ sở của Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới thì yêu cầu khách quan đối với công tác quản lý nhà nước của chính quyền các cấp về xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực kinh tế cần linh hoạt để đáp ứng sự phù hợp với đặc điểm của địa bàn khu vực, lĩnh vực. - Những chủ thể của công tác quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế có sự đa dạng, nên yêu cầu cao và đồng bộ trong hoạt động phối hợp để thực hiện đạt kết quả. Nhiệm vụ của quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này dựa trên cơ sở Nhà nước phân giao cho UBND các cấp tổ chức thực hiện. Ở cấp huyện, Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn là cơ quan đầu mối để tổ chức thực hiện, còn các phòng ban chuyên môn (theo phạm vi 12 lĩnh vực có liên quan của mình) là thành viên phối hợp thực hiện.

Với lĩnh vực kinh tế, chính quyền các cấp (cấp Trung ương đến cấp huyện) giao cho ngành Công Thương cùng cấp; và Phòng Kinh tế huyện thực thi chức năng quản lý nhà nước về xây dựng NTM trong lĩnh vực kinh tế. Ở tuyến huyện, Phòng Kinh tế cùng phối hợp với Phòng Nông nghiệp, Ban chỉ đạo cấp huyện thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới tổ chức thực hiện những nội dung về tiêu chí kinh tế. Vai trò quản lý nhà nước đối với xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực kinh tế - Thực thi chức năng quản lý nhà nước đối với xây dựng NTM ở lĩnh vực kinh tế. - Chương trình nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế là chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước ta đóng vai trò quan trọng có ý nghĩa chiến lược của công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc XHCN, góp phần nâng cao không ngừng đời sống nhân dân và thay đổi tích cực diện mạo xã hội nông thôn.

Ở vị trí vai trò của lĩnh vực kinh tế, nó tác động mạnh đến các phương diện của đời sống xã hội, một mặt là để đưa đất nước ta về cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại và hội nhập kinh tế quốc tế; một mặt khác, nó giúp thu hẹp khoảng cách trong phát triển kinh tế giữa nông thôn - thành thị. Vì vậy trong quá trình quản lý nhà nước đối với xây dựng NTM ở lĩnh vực kinh tế, bên cạnh phải có sự hỗ trợ đắc lực của nhà nước thì quá trình hoạt động này cũng đòi hỏi một cách khách quan cần có sự chung tay tham gia tích cực của nông dân với tư cách là chủ thể trung tâm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ