CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MÔ HÌNH NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ 1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ 1. Khái niệm Theo quan điểm truyền thống, Ngân hàng đầu tư ( Investment Bank) là một định chế tài chính, hoạt động với chức năng chủ yếu là tư vấn và thực hiện huy động vốn trên thị trường tài chính trung và dài hạn cho khách hàng (chủ yếu là các doanh nghiệp và chính phủ) thông qua hoạt động chứng khoán. [ 2 ] Ngân hàng đầu tư thực chất là một công ty chứng khoán nhưng ở mức độ phát triển cao bởi những đặc tính vượt trội của nó.
Ngày nay, NHĐT đã mở rộng các nghiệp vụ của mình sang một số lĩnh vực khác với mức độ đa dạng và phức tạp hơn. Ngoài nghiệp vụ ngân hàng đầu tư truyền thống, ngân hàng đầu tư còn thực hiện các nghiệp vụ khác như đầu tư, nghiên cứu, quản lý đầu tư, ngân hàng bán buôn.Trong đó nghiệp vụ ngân hàng đầu tư truyền thống (phát hành chứng khoán, tư vấn mua bán sáp nhập doanh nghiệp) là hoạt động cốt lõi. [ 2 ] Như vậy, ngân hàng đầu tư thực chất là một định chế tài chính ( hay công ty tài chính được phát triển đi lên từ mô hình công ty chứng khoán) với chức năng chủ yếu là hoạt động trên thị trường vốn trung và dài hạn thông qua các nghiệp vụ đa dạng và phức tạp. Đặc biệt những nghiệp vụ này không giống như những nghiệp vụ của các ngân hàng thương mại.
Đặc điểm của ngân hàng đầu tư Hoạt động ngân hàng đầu tư có nhiều điểm khác biệt với các ngân hàng khác, đặc biệt là ngân hàng thương mại, thể hiện ở những đặc điểm của ngân hàng đầu tư: - Ngân hàng đầu tư không được nhận tiền gửi và thực hiện nghiệp vụ thanh toán. Ngân hàng đầu tư thực chất là một định chế tài chính với hoạt động chủ yếu là -2- kinh doanh rủi ro trên thị trường vốn, do đó không được phép nhận tiền gửi của khách hàng. [ 2 ] - Không chịu sự giám sát của ngân hàng trung ương mà chịu sự giám sát của Ủy ban chứng khoán quốc gia. Ngân hàng đầu tư hoạt động trên thị trường vốn, có nhiệm vụ giúp các doanh nghiệp và chính phủ phát hành các loại chứng khoán ra thị trường nhằm huy động các nguồn vốn cần thiết.
[ 2 ] - Huy động vốn trên thị trường vốn trung và dài hạn. Ngân hàng đầu tư với chức năng chính là tư vấn và thực hiện huy động nguồn vốn trên thị trường vốn cho các doanh nghiệp cũng như chính phủ. Các nguồn vốn trên thị trường vốn chủ yếu mang tính chất trung và dài hạn. Trong quá trình phát triển kinh doanh, các doanh nghiệp luôn cần các nguồn vốn, đặc biệt các nguồn vốn trung và dài hạn để tài trợ cho quá trình sản xuất kinh doanh của mình.
Tương tự, chính phủ cũng cần huy động các nguồn vốn nhàn rỗi để bù đắp thiếu hụt ngân sách nhà nước, đầu tư hệ thống cơ sở hạ tầng hay đầu tư cho y tế, giáo dục, văn hóa. Thay vì tìm kiếm các nguồn vay ngắn hạn trên thị trường tiền tệ qua kênh ngân hàng thương mại với các điều khoản vay vốn ngặt nghèo hoặc mức lãi suất không hấp dẫn, các doanh nghiệp và chính phủ có thể tìm kiếm các nguồn vốn trung dài hạn trên thị trường vốn. Chức năng của ngân hàng đầu tư 1. Chức năng nhà môi giới NHĐT là chủ thể kết nối người mua và người bán lại với nhau.
Nhà môi giới trung gian sẽ nhận một khoản phí kết nối gọi là phí môi giới. Nhà môi giới không sở hữu chứng khoán mà chỉ làm nhiệm vụ tìm kiếm kết nối người bán và người mua. Do đó, nhà môi giới không chịu rủi ro biến động tỷ giá. Các bên mua và bên bán có thể có nhà môi giới riêng biệt và các nhà môi giới có thể thay mặt các bên làm việc với nhau.
Với chức năng môi giới, ngân hàng đầu tư được trả phí cho việc tìm kiếm thông tin nhằm liên kết người bán và người mua. Hoạt động này không cần sử dụng vốn của ngân hàng và có mức độ rủi ro thấp. Chức năng nhà đầu tư và nhà tạo lập thị trường Chức năng nhà đầu tư là việc thực hiện chuyển giao sản phẩm đầu tư từ người bán sang người mua, từ người cho vay sang người đi vay bằng việc ngân hàng đầu tư mua tài sản từ người bán và bán lại cho người mua ( hoặc ngược lại). Chức năng nhà đầu tư được thực hiện thông qua vai trò nhà đầu tư thụ động và nhà đầu tư chủ động.
Vai trò nhà đầu tư thụ động được thực hiện thông qua nghiệp vụ đầu tư cho khách hàng (flow trading), thông qua đó thực hiện thêm chức năng nhà tạo lập thị trường. Vai trò nhà đầu tư chủ động được thực hiện thông qua hoạt động tự doanh, tức là việc ngân hàng chủ động nắm giữ trạng thái “ trường” hoặc “ đoản” đối với các loại sản phẩm khác nhau. Chức năng nhận ủy thác Với chức năng này, ngân hàng đầu tư có thể tham gia hai hình thức sau: - Thay mặt khách hàng thực hiện các giao dịch do khách hàng quyết định. Ngân hàng đầu tư sẽ hưởng mức phí theo tỷ lệ phần trăm của tài sản quản lý và ngoài ra còn có phí thưởng dựa theo kết quả đầu tư quản lý tài sản.
Chức năng nhà tư vấn: Đây là chức năng chính của ngân hàng đầu tư. Ngoài dịch vụ tư vấn phát hành chứng khoán và tư vấn cổ phần hóa, ngân hàng đầu tư tham gia vào các hoạt động tư vấn, mua bán, sáp nhập doanh nghiệp, tư vấn chiến lược, thành lập liên minh, liên doanh. Đối với nghiệp vụ quản lý đầu tư, ngân hàng đầu tư cũng đóng vai trò là nhà tư vấn chiến lược phân bổ tài sản đầu tư phù hợp cho khách hàng. Chức năng nhà cung cấp dịch vụ Với chức năng này, ngân hàng đầu tư cung cấp các dịch vụ nhà môi giới chính cho các quỹ đầu cơ (hedge fund).
Ngân hàng đầu tư với tư cách là nhà môi giới chính thay mặt khách hàng thực hiện giao dịch với các nhà môi giới phụ, thu xếp vốn, thanh toán, lưu ký, báo cáo. Các nghiệp vụ của ngân hàng đầu tư 1. Nghiệp vụ ngân hàng đầu tư. (Invesment Banking) Đây là nghiệp vụ cốt lõi, có truyền thống lâu đời nhất và cũng là lý do hình thành nên ngân hàng đầu tư.
Nghiệp vụ này bao gồm dịch vụ tư vấn và bảo lãnh phát hành chứng khoán cho khách hàng. Đối với khách hàng doanh nghiệp chủ yếu là chứng khoán vốn ( cổ phiếu), còn đối với chính phủ là các chứng khoán nợ ( trái phiếu). Các nghiệp vụ này chủ yếu được thực hiện trên thị trường sơ cấp. [ 2 ] Từ những dịch vụ đơn giản ban đầu, nghiệp vụ ngân hàng đầu tư dần dần được mở rộng ra, bao gồm dịch vụ tư vấn mua bán, sáp nhập doanh nghiệp, ( M&A) tư vấn tái cơ cấu doanh nghiệp.
Để thực hiện nghiệp vụ này đòi hỏi ngân hàng đầu tư phải có những chuyên gia trong lĩnh vực tài chính doanh nghiệp, những ý kiến đóng góp, những tư vấn của họ có ảnh hưởng lớn đến chiến lược của công ty và cũng là uy tín của ngân hàng đầu tư. Nghiệp vụ này thường mang về các nguồn thu nhập lớn thông qua các khoản phí tư vấn và bảo lãnh phát hành khổng lồ cho ngân hàng đầu tư. Đối với các nghiệp vụ huy động vốn, các ngân hàng đầu tư hưởng phí tư vấn và bảo lãnh phát hành ( phí phát hành). Đối với các chứng khoán vốn, phí phát hành thường nằm trong gía trị bảo lãnh phát hành, thường từ 3 – 5% tổng số vốn huy động.
Còn các dịch vụ tư vấn M&A, khoản phí thường dao động trong khoản 1 – 5% giá trị giao dịch. Giá trị giao dịch càng lớn thì tỷ lệ phần trăm phí càng càng thấp. Mảng dịch vụ này thường có mức độ rủi ro thấp vì trong mọi trường hợp thành công hay thất bại của giao dịch thì ngân hàng đầu tư đều mang về một khoản phí nhất định. Chính vì vậy, mảng tư vấn tài chính doanh nghiệp không chỉ là sân chơi của các ngân hàng đầu tư mà còn là của các công ty tư vấn tài chính lớn trên thế giới như công ty kiểm toán.
Nghiệp vụ đầu tư ( Sale & Trading) Khác với nghiệp vụ ngân hàng đầu tư, nghiệp vụ đầu tư diễn ra chủ yếu trên thị trường thứ cấp. Nghiệp vụ đầu tư bao gồm môi giới và đầu tư. -5- Môi giới: ngân hàng đầu tư đóng vai trò là trung gian nhận lệnh và khớp lệnh cho khách hàng. Nghiệp vụ này chủ yếu được áp dụng cho các sản phẩm chứng khoán niêm yết ( bao gồm các sản phẩm phái sinh: hợp đồng tương lai hay quyền chọn).
Đầu tư: bao gồm nghiệp vụ đầu tư cho khách hàng với chức năng tạo thanh khoản thị trường mà ở đó ngân hàng đầu tư đóng vai trò là nhà tạo lập thị trường và nghiệp vụ tự doanh với mục tiêu đầu cơ biến động giá chứng khoán. Hoạt động này mang tính rủi ro cao do ngân hàng mang vốn của mình đi kinh doanh. Nghiệp vụ này áp dụng đối với các sản phẩm chứng khoán giao dịch trên thị trường OTC, bao gồm chứng khoán không niêm yết, hợp đồng phái sinh không niêm yết và các sản phẩm cơ cấu. Với chức năng tạo thanh khoản, các giao dịch được thực hiện với mục tiêu tìm kiếm các khoản chênh lệch giá.
Tuy nhiên, nhằm tránh sự biến động giá mạnh, các chứng khoán thường được trao đổi, mua bán trong một thời gian ngắn. [ 2 ] Hoạt động đầu tư tự doanh mang tính rủi ro cao hơn so với hoạt động đầu tư tạo thanh khoản. Nghiệp vụ này áp dụng cho cả chứng khoán niêm yết và không niêm yết. Với mục tiêu đầu cơ biến động giá chứng khoán, các nhân viên đầu tư tìm kiếm lợi nhuận biến động giá bằng cách chủ động nắm giữ trạng thái sản phẩm và đánh cược với sự biến động thị trường.
Chính vì thế, hoạt động đầu tư tự doanh mang tính rủi ro cao hơn so với hoạt động đầu tư tạo thanh khoản. Hoạt động đầu tư thường gắn liền với bộ phận bán hàng. Các nhân viên bán hàng là những người tiếp thị, tìm kiếm và duy trì quan hệ với khách hàng lớn để mang họ đến với các nhân viên đầu tư.