CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1. Tổng quan nghiên cứu liên quan đến đề tài Nghiệp vụ ngân hàng đầu tư về cơ bản bao gồm các nghiệp vụ bảo lãnh phát hành trên thị trường vốn, tư vấn tài chính doanh nghiệp, tư vấn mua bán và sáp nhập doanh nghiệp, tư vấn quản lý tài sản… Trong xu thế hội nhập kinh tế và sự phát triển kinh - tế xã hội ngày càng sâu rộng, các dịch vụ ngân hàng đầu tư đang dần trở nên phổ biến ở các quốc gia trên thế giới, không chỉ bó hẹp tại các quốc gia phát triển như Mỹ hay Châu Âu. Các nghiên cứu về hoạt động của các ngân hàng đầu tư thể hiện trên hai khía cạnh vĩ mô và vi mô. Ở góc độ vĩ mô, đó là học giả tập trung vào nghiên cứu mối liên hệ giữa thị trường và sự phát triển của dịch vụ ngân hàng đầu tư, vai trò của ngân hàng đầu tư cũng như nhu cầu phát triển dịch vụ ngân hàng đầu tư.
Trong khi đó, ở cấp độ nhỏ hơn, các nghiên cứu cố gắng đánh giá hiệu quả của loại hình dịch vụ này, đặc biệt là mối liên hệ giữa các cấp độ nhà tư vấn, phí tư vấn với tính thành công của giao dịch. Về phương pháp nghiên cứu, để đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng đầu tư, các nghiên cứu đã đánh giá thông qua mô hình lý thuyết và mô hình thực nghiệm. Biến số thường được sử dụng là phí dịch vụ ngân hàng đầu tư, các tỷ số thể hiện hiệu quả hoạt động như nợ, tỷ lệ vốn cổ phần, các chỉ tiêu sinh lời ROE, ROA… Saunders và Srinivansan (2001) đã lần đầu tiên xem xét mối quan hệ giữa phí dịch vụ tư vấn với hiệu quả của thương vụ M&A dựa trên các chỉ tiêu về nợ, vốn cổ phần và mức độ tin cậy giữa bên tư vấn với khách hàng. Các tác giả tìm thấy bằng chứng về việc nếu tiếp tục thuê đội tư vấn trước đó, phí họ phải trả sẽ cao hơn trong khi nếu thay đổi sang nhà tư vấn mới chưa từng có lịch sử hợp tác, công ty có thể tiết kiệm chi phí.
Thêm vào đó, các công ty bên mua thường có xu hướng chuyển bên tư vấn nếu nhà tư vấn hiện có không phải là công ty top đầu. Tuy nhiên, nghiên cứu lại không tìm thấy sự khác biệt đáng kể giữa phí tư vấn cao hay thấp với hiệu quả hoạt động của thương vụ. Ở một góc nhìn khác, Capizzi, Vincenzo and Giovannini, Renato and Giovannini, Renato and Chiesi, Gian Marco (2011) phân tích thực nghiệm trên một mẫu gồm 150 doanh nghiệp có sử dụng dịch vụ tư vấn tài chính. Các công ty lớn có hoạt động kinh doanh phức tạp, rộng khắp trên nhiều lĩnh vực thường có nhu cầu tư vấn hoạt động để có thể bao quát tất cả các khía cạnh một cách đầy đủ, sâu sắc nhất.
Với tiền đề đó, các tác giả đã nghiên cứu mối tương quan giữa cấu trúc sở hữu và chất lượng quản trị với nhu cầu sử dụng các dịch vụ tư vấn ngân hàng đầu tư cụ thể. Cuối cùng, các tác giả kết 4 luận, không tìm thấy mối liên hệ phổ quát giữa hiệu quả hoạt động kinh doanh của bên thuê tư vấn với bên cung cấp giải pháp tư vấn chuyên sâu. Đối với lĩnh vực quản lý gia sản, ở một số nước phát triển, có thể được cung cấp bởi các quỹ lẫn các ngân hàng đầu tư. Tuy nhiên, xung đột lợi ích dường như sâu sắc hơn tại các ngân hàng đầu tư so với các quỹ tương hỗ hay quỹ phòng hộ.
Nghiên cứu của Berzins, Liu và Trzcinka (2013) sử dụng dữ liệu giai đoạn 1990 - 2008 của 23 ngân hàng đầu tư lớn trên thế giới nhưng không bao gồm các ngân hàng đã phá sản do khủng hoảng 2008. Dù trong giai đoạn này, về hiệu quả hoạt động của các tài sản được quản lý bởi ngân hàng đầu tư và các quỹ tương hỗ là không mấy khác biệt; những xung đột về lợi ích là hiện hữu và có thể dẫn đến thiệt hại kinh tế cho nhà đầu tư. Trong quá trình tư vấn, tư vấn về giá cũng được coi là một dịch vụ ngân hàng đầu tư mà được cạnh tranh bởi các định chế tài chính cùng cung cấp dịch vụ. Sự cạnh tranh thể hiện ở các yếu tố như: phí tư vấn, độ chính xác của giá trị tài sản được tư vấn giá, các gợi ý khuyến nghị, khả năng phân phối giấy tờ có giá, sức mạnh tạo lập thị trường, khả năng phát hành nợ và danh tiếng trên thị trường.
Do vậy, tư vấn giá không chỉ có các thương vụ M&A mà còn ở các giao dịch phát hành cổ phiếu như phát hành riêng lẻ hay phát hành lần đầu ra công chúng. Nghiên cứu của Ellis, Michaely và O’Hara (2011) khai thác các mức độ cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng đầu tư dựa trên mẫu thu thập theo tháng của 885 công ty niêm yết trên sàn Nasdaq từ tháng 1 năm 1996 đến tháng 3 năm 2002 cùng với một mẫu gồm 4365 giao dịch phát hành giai đoạn 1996-2003 tại Mỹ. Các tác giả chỉ ra rằng, danh tiếng thực sự giúp cho các ngân hàng đầu tư thu hút khách hàng mà không cần quá nhiều quảng cáo, cũng không cần đưa ra quá nhiều các khuyến nghị có triển vọng hay thậm chí tăng phí tư vấn. Tuy vậy, các ngân hàng đầu tư hoạt động tích cực vẫn có thể thu hút khách hàng từ những nhà cung cấp dịch vụ khác không có xu hướng thu hút khách hàng do tự mãn với danh tiếng sẵn có.
Kết quả thực nghiệm này khá tương đồng với nghiên cứu trước đó của Anand và Galetovic (2006) về cấu trúc và sự cạnh tranh thị trường ngân hàng đầu tư. Các tác giả xây dựng mô hình lý thuyết, nhấn mạnh mối quan hệ chính là một trong hai đặc trưng chủ đạo của thị trường ngân hàng đầu tư, bên cạnh tính cạnh tranh. Phân tích cho thấy cách cân bằng thị trường điều chỉnh để các mối quan hệ được duy trì khi đối mặt với sự cạnh tranh như vậy. Các ngân hàng được chứng minh là có thể thiết lập các mối quan hệ mà không có quyền lực độc quyền cục bộ hoặc tổng hợp.
Mô hình hợp lý hóa hai quy luật kinh nghiệm khác nhau của cấu trúc thị trường: sự bất biến của mức độ tập trung thị trường với quy mô thị trường; và cấu trúc thị trường hình tháp với sự độc quyền bao gồm những người chơi có quy mô tương tự ở phía trên và một số lượng lớn các ngân hàng nhỏ ở phía dưới. Phân tích cũng có thể làm sáng tỏ tổ chức công nghiệp của các ngành dịch vụ chuyên nghiệp khác. 5 Sự phát triển của dịch vụ ngân hàng đầu tư một phần dựa trên sự bất cân xứng thông tin giữa bên phát hành và bên cung ứng vốn. David Paron (1982) đã phát triển một mô hình đo lường nhu cầu về dịch vụ ngân hàng đầu tư dưới góc độ là nhà tư vấn và nhà phân phối có thông tin về thị trường vốn tốt hơn nhà phát hành (doanh nghiệp) và nhà phát hành không thể theo dõi quá trình phân phối các giấy tờ có giá được mở rộng thông qua các ngân hàng.
Theo tác giả, một hợp đồng được xem là tối ưu khi các quyết định về giá chào được giao cho chủ ngân hàng có thông tin tốt hơn để giải quyết các vấn đề về lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo đức do sự bất cân xứng về thông tin gây ra và vấn đề về khả năng quan sát được đặc trưng. Tác giả thể hiện quan điểm về nhu cầu tích cực đối với các dịch vụ tư vấn và phân phối của ngân hàng đầu tư và đưa ra lời giải thích về việc định giá thấp của các vấn đề mới. Trên góc nhìn vĩ mô, ngân hàng đầu tư được đánh giá có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế (Raza, Farhan và Akram (2011), Tuch. Raza, Farhan và Akram (2011) đã so sánh hiệu quả tài chính của khối ngân hàng đầu tư tại Parkistan giai đoạn 2006-2009 dựa trên các biến hiệu quả kinh doanh (ROE, ROCE, EPS, ROA…) hay biến thanh khoản (hệ số thanh toán hiện thời, hệ số nợ trên tổng nguồn vốn, tổng tài sản, tổng vốn chủ sở hữu).
Phân tích số liệu của 7 trong tổng số 9 ngân hàng đầu tư thuộc mẫu nghiên cứu cho thấy, mỗi ngân hàng có một yếu tố đặc trưng riêng cạnh tranh so với các đối thủ trên thị trường. Dù được thực hiện với phương pháp khá đơn giản nhưng nghiên cứu này đã mở ra tương đối các công trình tập trung vào hiệu quả tài chính và so sánh hiệu quả hoạt động của các ngân hàng đầu tư tại các quốc gia như Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất, Kenya, Ghana, Nigeria… Nghiên cứu của Balluck(2015) lại phân tích những thử thách và triển vọng của dịch vụ ngân hàng đầu tư trong mối liên hệ với nền kinh tế và hệ thống tài chính. Ngân hàng đầu tư đóng vai trò quan trọng với thị trường vốn và đóng góp vào sự hiệu quả của chức năng cung ứng vốn trên thị trường tài chính. Tuy vậy, khi có khủng hoảng tài chính diễn ra, việc đánh giá lại những tiềm ẩn trong lĩnh vực này là cần thiết, nhất là về quy mô ngày càng mở rộng của ngành cũng như các mối quan hệ, liên kết phức tạp vốn có giữa những hoạt động của các ngân hàng đầu tư.
Từ đó giúp các nhà hoạch định chính sách có chiến lược phù hợp nhằm đảm bảo sự an toàn của hệ thống tài chính. Một công trình khác về ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính cũng cho thấy các ngân hàng đầu tư trên toàn cầu đều thực sự bị ảnh hưởng nặng nề bởi cuộc suy thoái 2008 bắt nguồn từ bong bóng bất động sản dưới chuẩn tại Mỹ (Wójcik, D., và Pažitka, V. Hoạt động ngân hàng đầu tư dã thu hẹp đáng kể, cả về lãnh thổ địa lý lẫn doanh thu, lợi nhuận. Nếu xét về doanh thu, những ngân hàng lớn thiệt hại lớn nhất trong khi tại Châu Á, các ngân hàng đầu tư dường như tận dụng ưu thế vốn tại 6 địa phương tốt hơn.
Cuộc khủng hoảng này cũng thay đổi đáng kể diện mạo của thị trường ngân hàng đầu tư toàn cầu và phần nào sắp xếp lại bản đồ địa kinh tế chính trị thế giới. Về tương quan giữa sự phát triển của ngân hàng đầu tư với thị trường chứng khoán, nổi bật có công trình của Anand, B.