Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG LỐI SỐNG VĂN HÓA CỦA HẠ SĨ QUAN, BINH SĨ Ở ĐƠN VỊ CƠ SỞ QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM 1. Quan niệm về lối sống văn hóa và thực chất xây dựng lối sống văn hóa của hạ sĩ quan, binh sĩ ở đơn vị cơ sở Quân đội nhân dân Việt Nam 1. Quan niệm về lối sống văn hóa của hạ sĩ quan, binh sĩ ở đơn vị cơ sở Quân đội nhân dân Việt Nam Khái niệm lối sống đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Tuỳ theo góc độ tiếp cận vấn đề mà có những quan niệm khác nhau.
Theo nghĩa chung nhất: Lối sống là tổng hoà các phương thức hoạt động sống căn bản của các dân tộc, các giai cấp, tập đoàn xã hội và các cá nhân, được quy định bởi một phương thức sản xuất nhất định và được biểu hiện ra trong mọi hành vi của con người trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Theo quan niệm trên có thể hiểu: Lối sống là một phạm trù khái quát toàn bộ những hoạt động sống ổn định của con người được vận hành theo một bảng giá trị xã hội nào đó. Lối sống là sự tổng hoà những tính chất cơ bản nhất của các mối quan hệ giữa vật chất và tinh thần, cá nhân và xã hội, dân tộc và quốc tế. Đó là sự phản ánh những hoạt động của chủ thể (dân tộc, giai cấp, nhóm xã hội, cá nhân) trong quá trình thích nghi và biến đổi hoàn cảnh.
Lối sống là một kiểu sống nhất định, được hình thành khách quan trong một xã hội, một giai cấp hay một tập đoàn. Bất cứ cá nhân nào cũng có những đặc điểm riêng, nhưng là một thành viên của xã hội, một tập đoàn nên trong ý thức, trong hành vi giao tiếp của cá nhân bao giờ cũng làm cho cái trong đời sống riêng của mình thành cái trong đời sống của thành viên xã hội 12 hay của tập đoàn. Nói cách khác, lối sống chính là biểu hiện của cái xã hội trong cái cá nhân. Có lối sống của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định, nhưng cũng có nhiều lối sống trong một hình thái kinh tế - xã hội.
Vì vậy, mới có sự khác nhau về lối sống của giai cấp phong kiến, giai cấp tư sản, với lối sống của giai cấp công nhân. Lối sống chịu sự quy định của phương thức sản xuất xã hội và toàn bộ những điều kiện sống của con người. Nhưng, sự quy định đó phải thông qua hoạt động của chủ thể và mang những dấu ấn của các chủ thể. Tuy nhiên, không được đồng nhất giữa lối sống với phương thức sản xuất.
Phạm vi của lối sống rộng hơn phạm vi của phương thức sản xuất. Vì, ngoài hoạt động sản xuất, con người còn có nhiều hoạt động phong phú khác như hoạt động chính trị - xã hội, hoạt động tư tưởng - văn hoá, hoạt động bồi dưỡng sức khoẻ và rèn luyện phẩm chất cá nhân. Quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử cho rằng để sống và tồn tại thì con người phải sản xuất ra đời sống vật chất và tinh thần của chính mình: “Sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, như thế con người đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất của mình”. Do vậy, khi bàn về lối sống, trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” C.Ăngghen có viết: “Phương thức mà con người sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho mình, phụ thuộc trước hết vào tính chất của chính những tư liệu sinh hoạt mà con người thấy có sẵn và phải tái sản xuất ra.
Không nên nghiên cứu phương thức sản xuất ấy đơn thuần theo khía cạnh nó là sự tái sản xuất ra sự tồn tại thể xác của các cá nhân. Mà hơn thế, nó là một phương thức hoạt động nhất định của những cá nhân ấy, một hình thức nhất định của hoạt động sống của họ, một phương thức sinh sống nhất định của họ. Hoạt động sống của họ như thế nào thì họ là như thế ấy. Do đó, họ là như thế nào, điều đó ăn khớp với sản xuất của họ, với cái mà họ sản xuất ra cũng như với cách họ sản xuất.
Do đó, những cá nhân là như thế nào, điều đó phụ thuộc vào những điều kiện vật chất 13 của sự sản xuất của họ” [3, tr. Như vậy, theo C.Ăngghen thì những hoạt động nhằm duy trì, bảo vệ và tái sản xuất ra sự sống đó chính là hoạt động sống và hoạt động ấy nằm trong phương thức con người sản xuất những tư liệu sinh hoạt cần thiết của mình, tức là phương thức sản xuất. Lối sống của con người một mặt được quyết định bởi quan hệ của con người với tự nhiên, bởi trình độ kỹ thuật và năng xuất lao động của con người, tức là trạng thái của lực lượng sản xuất; mặt khác, lối sống còn chịu sự quy định bởi tính chất quan hệ sản xuất, bởi chế độ kinh tế - xã hội. Như vậy, lối sống là một phạm trù rộng hơn so với các phạm trù “lẽ sống” “mức sống” và “nếp sống.
Trong khái niệm lối sống vừa có khía cạnh kinh tế bao hàm khái niệm “mức sống”, nhưng lại vừa có khía cạnh tâm lý - xã hội có liên quan tới những đặc điểm hành vi giao tiếp của cá nhân, tập đoàn xã hội và như vậy lại có liên quan tới khái niệm “lẽ sống”, “nếp sống”. Do vậy, có thể phân biệt khái niệm “lối sống” với một số khái niệm khác liên quan, gần gũi với nó: Mức sống: là phạm trù dùng để đánh giá các nhu cầu vật chất, tinh thần của con người đã được thoả mãn. Thông thường mức sống phản ánh trình độ của con người đạt được trong hoạt động sản xuất, phản ánh khía cạnh kinh tế, phúc lợi xã hội của con người. Lối sống là khái niệm rộng hơn mức sống, mức sống là một chỉ báo của lối sống, nên không thể đồng nhất hai khái niệm này.
Cùng một mức sống nhưng có lối sống khác nhau, thậm chí trái ngược nhau. Lẽ sống: là một phạm trù dùng để nói lên mặt ý thức của lối sống, nó có vai trò dẫn dắt, định hướng cho một lối sống nhất định. Lẽ sống chính là sự lựa chọn chủ quan của con người về một lối sống, là sự phản ánh cái tất yếu khách quan vào đầu óc con người. Nếp sống: là mặt ổn định của lối sống, bao gồm những cách thức, quy ước đã trở thành thói quen trong sản xuất, trong sinh hoạt và trong tổ chức đời sống xã hội, nếp sống lâu đời có thể sẽ trở thành phong tục, tập quán.
Vì thế mà Giáo sư Vũ Khiêu có viết: “ Nếp sống là toàn bộ những thói quen được hình thành trong cuộc sống 14 hàng ngày, những thói quen đã trở thành nếp trong sản xuất, chiến đấu, trong mọi quan hệ xã hội và trong quan hệ riêng tư của mỗi con người. Những thói quen ấy còn được gọi là tập quán”[4, tr. Nếp sống hình thành trên cơ sở lối sống, do đó nghiên cứu lối sống của cá nhân hay nhóm xã hội phải nghiên cứu nếp sống của họ. Có thể có các cách phân loại khác nhau về lối sống.
Theo hình thái kinh tế - xã hội, có lối sống phong kiến, lối sống tư sản, lối sống xã hội chủ nghĩa; theo tính giai cấp có lối sống nông dân, tri thức, thương gia; theo đặc trưng lao động, nghề nghiệp có lối sống nghệ sỹ, lối sống quân nhân, lối sống sinh viên; theo đặc điểm vùng lãnh thổ có lối sống đô thị, nông thôn, miền núi…Dựa trên tiêu chí văn hoá của lối sống có lối sống văn hoá, lối sống vô văn hoá hay lối sống thiếu văn hoá… Văn hóa là khái niệm thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, nội hàm của nó rất phong phú. Dưới góc độ triết học, các nhà khoa học quan niệm: Văn hoá tồn tại trong tổng thể những sản phẩm do con người sáng tạo ra. Tất nhiên, không phải bất cứ cái gì con người tạo ra cũng là văn hoá, mà chỉ trong những sản phẩm phản ánh, chứa đựng những cái chân, thiện, mỹ. Hơn nữa, văn hoá không phải là bản thân sản phẩm, mà chỉ là “dấu ấn” biểu hiện trình độ sáng tạo, trình độ người trên đó mà thôi.
Do vậy, phạm trù văn hoá bao gồm cả lĩnh vực văn hoá vật chất, lĩnh vực văn hoá tinh thần và lĩnh vực văn hoá tổ chức xã hội. Văn hoá tồn tại trong tổng thể các quan hệ người, không những là quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội (và với người khác) mà còn là quan hệ giữa con người với chính bản thân mình. Tuy nhiên, chỉ có các quan hệ nhân văn của con người mới được bao hàm trong phạm trù văn hoá, và bao giờ quan hệ nhân văn cũng giữ vai trò chi phối, chế ước, quyết định quan hệ bản năng. Thành thử, hạt nhân của văn hoá chính là tổng hoà các quan hệ nhân văn chứa đựng bản chất người trong quá trình phát triển, hoàn thiện 15 không ngừng.
Và dưới góc độ này, phạm trù văn hoá bao gồm cả văn hoá cá nhân và văn hoá cộng đồng ở các cấp độ rộng hẹp khác nhau. Văn hoá biểu hiện ra như những hệ giá trị nhân văn bao gồm hệ tư tưởng khoa học; sự khôn ngoan, hiểu biết, mặt bằng dân trí; chuẩn mực, cách thức ứng xử, giao tiếp; phong tục, tập quán, thói quen sinh sống; hình thái sinh hoạt vật chất, hình thái sinh hoạt tinh thần. có tính khuôn mẫu nhất định. Những hệ giá trị đó được con người sáng tạo và phát triển trong quá trình quan hệ với tự nhiên, xã hội và chính mình, đánh dấu trình độ hoàn thiện bản chất người trong lịch sử và chi phối trở lại đời sống cộng đồng.
Có thể nói, các hệ giá trị nhân văn khác nhau luôn hình thành nên các nền văn hoá và các môi trường văn hoá mang bản sắc khác nhau. Cái đỉnh điểm, cái “thăng hoa” của văn hoá là trí tuệ được kết tinh trong quá trình tư duy của con người. Xã hội càng văn minh thì trí tuệ con người càng trở thành chìa khoá của sự phát triển văn hoá, mặc dù văn hoá không chỉ bao gồm trí tuệ. Chính vì có trí tuệ mà con người trở thành động vật văn hoá duy nhất, và cũng do đó mà các nền văn hoá dù hết sức phong phú, đa dạng và mang bản sắc riêng cũng có thể mở thông với nhau.