Chương 1 Thông tin chính trị- xã hội và vai trò của nó trong hoạt động lãnh đạo, quản lý của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở 1.1 Thông tin chính trị- xã hội- bản chất và đặc trưng 1.1 Bản chất thông tin chính trị- xã hội Gần một thế kỷ trước đây, V.I Lênin đã khẳng định rằng không có thông tin thì không thể có tiến bộ trong bất kỳ lĩnh v ực nào c ủa khoa h ọc, kỹ thuật và sản xuất vật chất. Với sự phát triển c ủa cách m ạng khoa h ọc- kỹ thuật, con người ngày càng nhận thức thêm sâu sắc giá trị của thông tin đối với việc phát triển kinh tế, xã hội, khoa học- kỹ thuật. Ngày nay khó có thể hình dung được một hoạt động nào của con người trong sản xuất, nghiên cứu khoa học- kỹ thuật, chiến đấu cũng như trong sinh ho ạt hàng ngày mà không cần đến việc trao đổi thông tin. Ngay từ những thập niên cuối thế kỷ XX, thông tin đã trở thành khái niệm trung tâm của khoa học và thông tin trở thành đối tượng nghiên cứu trực tiếp của một số ngành khoa học cụ thể như: điều khiển học, lý thuyết thông tin và tin học…ở mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi ngành khoa học đưa ra những quan niệm về thông tin khác nhau.
7 Trong điều khiển học thông tin được biểu hiện ở tính có tổ chức, có trật tự, có cấu trúc lôgic của quá trình trong hệ thống vật ch ất. Trong s ự tương tác của một đối tượng này với một đối tượng khác có m ục đích rõ rệt. Thông tin được truyền đi thông qua các tín hiệu đã được mã hoá. Như vậy, trong điều khiển học chỉ những tín hiệu, dữ liệu nào đã được mã hóa trong các hệ thống tính toán điện tử và có ý nghĩa thực tiễn mới được coi là thông tin.
Trong lĩnh vực tin học, thông tin được xem là tất cả những gì có thể giúp con người hiểu được về đối tượng cần quan tâm nghiên cứu. Trong quản lý kinh tế, thông tin được xem là một tập hợp tin tức về đối tượng, hiện tượng và một quá trình nào đó trong hoạt động kinh tế có ý nghĩa đối với việc ra quyết định quản lý. ở mỗi góc độ tiếp cận thông tin khác nhau, các ngành khoa học đã dần làm sáng rõ b ản ch ất c ủa hi ện tượng thông tin. Thực chất thông tin là gì? Trong nghiên cứu, các nhà khoa h ọc đã không ngừng tìm hiểu và đưa ra các định nghĩa khác nhau về thông tin.
Theo quan điểm của các nhà thông tin học Liên Xô cũ thì “Thông tin là các tin tức, số liệu, khái niệm mà về mặt nội dung liên quan v ới nhau giúp thay đổi những quan niệm của chúng ta về hiện tượng và khách th ể của thế giới xung quanh”[30, tr. Theo quan điểm của V.Afanaxep: “Thông tin chính là một bộ phận tri thức được sử dụng để định hướng, để tác động tích cực, để điều khiển, nghĩa là nhằm mục đích duy trì tính đặc thù về ch ất, hoàn thi ện và phát triển hệ thống. Đó là những tri thức quay vòng vận động không ng ừng, những kiến thức được hệ thống thu thập, bảo quản, xử lý truyền đi và sử dụng(hoặc có thể sử dụng). Nói một cách khác thông tin là b ộ ph ận tác động “hoạt động” của phản ánh, của tri thức”[1, tr.
8 Theo quan điểm của N. Vinner: “Thông tin là n ội dung th ế gi ới bên ngoài được thể hiện trong sự nhận thức của con người”[12, tr. Cũng như các ngành khoa học khác, triết học đã không ng ừng ti ếp cận tới bản chất chung của thông tin. Mặc dù có nhi ều cách ti ếp c ận, nghiên cứu, nhiều cách định nghĩa khác nhau được đưa ra, song định nghĩa của A.Urơxun được xem là một định nghĩa khá xác đáng về thông tin.
Theo ông: “thông tin là cái đa dạng được phản ánh”[31, tr.25] Khi nói về tính đa dạng của thông tin, tác giả Lê Thị Duy Hoa cũng cho rằng, thông tin mang tính khách quan, bắt ngu ồn t ừ tính đa d ạng, nhiều vẻ của cấu trúc cũng như về mối quan hệ của các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan. Cái đa dạng của sự vật chỉ trở thành thông tin khi nó được tái hiện, được phản ánh ở một sự vật khác nào đó trong m ối quan hệ tác động với sự vật ban đầu. Tiếp cận nghiên cứu thông tin với tư cách là cái đa dạng được phản ánh, có thể được coi là cách tiếp cận đầy đủ và chính xác h ơn c ả d ưới lát cắt triết học. Từ cách tiếp cận trên cho ta thấy chính từ thuộc tính ph ản ánh c ủa vật chất đã lý giải được sự hình thành của thông tin.
Lý thuy ết ph ản ánh nói lên rằng: phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của hệ thống vật chất này ở hệ thống vật chất khác trong quá trình tác động qua l ại gi ữa chúng. Khi hai sự vật tương tác với nhau thì sẽ xuất hiện phản ánh, cái được phản ánh sẽ quy định nội dung phản ánh song mức độ phản ánh chính xác, đầy đủ hay không lại phụ thuộc vào vật phản ánh. Như vậy, phản ánh là thuộc tính của mọi đối tượng vật ch ất b ất k ể sự vật, hiện tượng nào trong thế giới vật chất cũng đều có năng lực tái hiện lại những đặc điểm, cấu trúc của sự vật, hiện tượng khác khi tác động vào chúng. Khi những dấu hiệu của sự vật được phản ánh lưu giữ những 9 đặc điểm, cấu trúc, thuộc tính trong sự vật phản ánh thì chúng ta gọi là thông tin về cái được phản ánh đối với cái phản ánh.
Sự vật, hiện tượng trong thế giới vật chất phong phú đa dạng, trong đó mỗi sự vật, hi ện tượng đều có những đặc điểm, thuộc tính khác nhau. Điều này làm cho sự phản ánh giữa các sự vật hay nói cách khác sự tái hiện các đặc điểm, thuộc tính của chúng cũng rất đa dạng, phong phú. Từ đó, chúng ta th ấy r ằng thông tin trong thế giới vật chất vô cùng phong phú, t ồn t ại d ưới nhi ều hình thức, song chúng đều là cái đa dạng được truyền t ải, đ ược tái t ạo giữa sự vật này với sự vật khác thông qua sự tương tác qua lại giữa chúng. Từ cách phân tích trên, có thể đi đến nh ận đ ịnh, thông tin là cái đa dạng được phản ánh khi những đặc điểm, thuộc tính, cấu trúc c ủa s ự v ật được phản ánh được tái hiện, phản ánh ở sự vật phản ánh trong quá trình tác động giữa chúng.
Với cách tiếp cận, phân tích và hệ thống hoá các quan niệm về thông tin như đã nêu, chúng tôi quan niệm rằng: Thông tin chính là sự phản ánh cái đa dạng giữa hệ thống vật chất này với hệ thống vật chất khác khi giữa chúng diễn ra quá trình tương tác lẫn nhau. Dựa trên lý luận phản ánh, các nhà kinh đi ển Mác- Lênin đã ch ỉ ra rằng, giữa thông tin và thuộc tính phản ánh c ủa th ế giới v ật ch ất có m ối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó thông tin là m ột hi ện t ượng ph ổ biến của thế giới khách quan. Giữa thông tin và phản ánh có m ối quan h ệ mật thiết. Vì phản ánh là thuộc tính phổ biến của thế gi ới v ật ch ất nên trong phản ánh vật chất đã bao hàm phản ánh thông tin.
Thu ộc tính ph ản ánh là thuộc tính vốn có sẵn trong mọi vật chất và cấp độ của sự phản ánh phụ thuộc vào kết cấu của vật chất khác nhau. Hay nói cách khác, trình độ phát triển của tổ chức vật chất quy định trình độ phản ánh. 10 Do mọi hệ thống vật chất đều có năng lực tái hi ện trong nó nh ững thuộc tính, đặc điểm, cấu trúc, mối quan hệ…của hệ thống vật ch ất khác khi tác động vào nó, đó là sự phản ánh. Tuy nhiên, trong quá trình ph ản ánh do kết cấu của vật chất khác nhau nên đặc điểm, bản chất, biểu hi ện phản ánh của các sự vật không giống nhau.
Vì vậy, chúng ta cần phải phân biệt được đâu là những hiện tượng phản ánh đầy đủ bản chất hay những hiện tượng xuyên tạc bản chất. Cái phản ánh bao giờ cũng ch ứa đ ựng những đặc điểm, tính chất, mối quan hệ…của cái được phản ánh không có cái được phản ánh thì cũng không có cái phản ánh. Những đặc đi ểm, tính chất, mối quan hệ…của cái được phản ánh được lưu giữ trong cái phản ánh được gọi là thông tin về cái được phản ánh. Song thật là sai l ầm n ếu chúng ta hiểu mọi sự phản ánh sẽ dẫn đến việc coi thông tin nh ư m ột phạm trù phổ biến, cùng thang bậc với phạm trù phản ánh.
Thông tin là kết quả của phản ánh, do sự tác động qua lại giữa ch ủ thể và khách thể phản ánh. Trong quá trình tương tác giữa chủ thể ph ản ánh và khách thể phản ánh, thì khách thể phản ánh b ộc l ộ nh ững tín hi ệu có giá trị thông tin để từ đó chủ thể phản ánh tiếp nhận, tái tạo và xử lý. Sự phản ánh này phải là sự phản ánh có “chọn lọc”. Thông tin luôn gắn với quá trình phản ánh, là một mặt của phản ánh.
Song khái niệm thông tin hẹp hơn và bị bao trùm bởi khái niệm phản ánh, vì thuộc tính phản ánh được miêu tả về mặt số lượng chính xác bởi lượng thông tin mà nó phản ánh và thông tin còn làm rõ c ơ c ấu, trình đ ộ, c ủa thuộc tính phản ánh của vật chất. Như vậy, thông tin chính là sự phản ánh cái đa dạng của sự vật. Tính đa dạng của kết cấu vật chất được phản ánh đó chính là thông tin.Afanaxep, trong cuốn Thông tin xã hội và quản lý xã hội chỉ ra rằng: “Thông tin trong trường hợp chung nhất- đó là tính đa d ạng 11 mà đối tượng này chứa đựng đối tượng khác. Đó là tính đa dạng tương hỗ, tương đối, theo quan điểm lý luận phản ánh, thông tin có th ể đ ược quan niệm như tính đa dạng được phản ánh.
Như tính đa dạng phản ánh đối tượng chứa đựng cái được phản ánh”[1, tr. Sự tác động qua l ại gi ữa các kết cấu vật chất của sự vật, giữa các sự vật với nhau làm cho chúng bộc lộ những đặc điểm, tính chất, cấu trúc…về nhau và thông tin được hình thành từ đây.