Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Triết học của nghiên cứu sinh Thanongsone Sibounheuang mang tiêu đề "Vai trò của thông tin, tư liệu và thư viện đối với sự phát triển của khoa học xã hội Lào hiện nay", được bảo vệ năm 2014 tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam. Đây là công trình nghiên cứu học thuật tiếp cận hoạt động thông tin, tư liệu và thiết chế thư viện dưới lăng kính triết học và khoa học luận, đặt trong bối cảnh cụ thể của sự phát triển khoa học xã hội tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Theo lập luận của tác giả, thông tin là nguồn tài nguyên đặc biệt, một trong những nguồn lực then chốt cho sự phát triển của mỗi quốc gia, đồng thời là công cụ điều hành sản xuất và quản lý xã hội. Mọi quan hệ và hoạt động của con người đều dựa trên các hình thức giao lưu thông tin. Thiết chế thư viện giữ vai trò lưu trữ chủ yếu và chuyển giao thông tin, tri thức, cung cấp "vốn văn hóa" cho sự phát triển kinh tế - xã hội.
Tại Lào, trình độ phát triển kinh tế - xã hội còn thấp do những điều kiện lịch sử và địa lý đặc thù. Hoạt động thông tin, tư liệu và thư viện chịu tác động sâu sắc từ các thời kỳ lịch sử trước đây:
- Thời kỳ Pháp thuộc: Thư viện được xây dựng nhưng trình độ dân trí của người dân bản xứ còn thấp nên việc khai thác, sử dụng thông tin và tư liệu bị hạn chế.
- Thời kỳ chịu ảnh hưởng của Mỹ: Hệ thống thư viện được mở rộng tới các tỉnh lỵ, song phần lớn tài liệu được lưu trữ bằng tiếng Anh, tạo ra rào cản ngôn ngữ đối với người sử dụng.
Trong giai đoạn hiện đại, Lào đối mặt với nhiều vấn đề thực tiễn về mặt xã hội và con người, đòi hỏi sự tham mưu, luận giải của khoa học xã hội. Tuy nhiên, công tác thông tin, tư liệu và thư viện tại Lào bộc lộ nhiều bất cập, tư liệu còn sơ sài và thiếu một hệ thống chính sách bài bản. Khoảng trống nghiên cứu lớn nhất được tác giả chỉ rõ là: tại Lào, hầu như chưa có công trình nghiên cứu nào ở tầm lý luận vĩ mô, đặc biệt từ khía cạnh triết học, giải quyết mối quan hệ giữa thông tin, tư liệu, thư viện với sự phát triển của khoa học xã hội. Các nghiên cứu hiện có nếu có đề cập thì chỉ dừng lại ở các báo cáo thống kê nội bộ mang tính sự vụ.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ vai trò của thông tin, tư liệu và thư viện đối với sự phát triển của khoa học xã hội ở Lào hiện nay; chỉ ra các vấn đề và nguyên nhân từ phía thông tin, tư liệu trong quan hệ với khoa học xã hội; từ đó đề xuất hệ thống định hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thông tin, tư liệu và thư viện, đáp ứng nhu cầu phát triển khoa học xã hội và xã hội Lào.
Để thực hiện mục đích trên, luận án xác định 3 nhiệm vụ cơ bản:
- Chỉ ra vai trò của thông tin, tư liệu và thư viện đối với sự phát triển của khoa học xã hội.
- Nêu lên một số vấn đề về thực trạng, vai trò của thông tin, tư liệu và thư viện đối với sự phát triển của khoa học xã hội Lào gần 40 năm qua.
- Đưa ra những định hướng, giải pháp thúc đẩy việc phát huy vai trò thông tin, tư liệu và thư viện đối với khoa học xã hội, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự phát triển khoa học xã hội ở Lào hiện nay.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ giữa thông tin, tư liệu và thư viện với sự phát triển của khoa học xã hội, tập trung vào vai trò của thông tin - tư liệu - thư viện đối với khoa học xã hội.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu được định vị chủ yếu tại nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Các dữ liệu, kinh nghiệm tại Việt Nam được sử dụng nhằm mục đích so sánh, đối chiếu và rút ra bài học.
- Phạm vi thời gian: Tập trung khảo sát trong khoảng 40 năm (từ năm 1975 sau khi thành lập nước CHDCND Lào đến thời điểm bảo vệ luận án năm 2014).
- Phạm vi lý luận: Giới hạn trong các quan điểm của triết học, khoa học luận và thư viện học, không đi sâu vào các khía cạnh thuần túy kỹ thuật của công nghệ thông tin.
| Tiêu chí |
Nội dung xác định trong luận án |
| Cơ sở đào tạo |
Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam |
| Tác giả |
Thanongsone Sibounheuang |
| Năm bảo vệ |
2014 |
| Ngành học |
Triết học |
| Hướng tiếp cận |
Định tính, phân tích triết học, tổng hợp văn bản, lịch sử - lôgic |
| Bố cục văn bản |
4 chương (1 chương tổng quan và 3 chương nội dung), gồm 8 tiết |
| Mốc thời gian khảo sát |
Khoảng 40 năm (1975 - 2014) |
| Địa bàn trọng tâm |
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào (có đối chiếu với Việt Nam) |
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án được tác giả phân chia một cách hệ thống theo 4 nguồn ngữ liệu chính: tài liệu tiếng Nga (bao gồm Liên Xô trước đây), tài liệu tiếng Anh, tài liệu tiếng Việt và tài liệu tiếng Lào.
1. Nguồn tài liệu tiếng Nga và tài liệu dịch từ tiếng Nga
Tác giả điểm lại hệ thống nghiên cứu triết học về thông tin nở rộ từ giữa thế kỷ XX tại Liên Xô cũ và Bulgaria dựa trên nền tảng lý luận phản ánh:
- Các nghiên cứu bản thể luận và nhận thức luận: I. Boga-chep-va I.E (1971), Vật chất, phản ánh, nhận thức (Nxb Đại học Voronhet); công trình Các vấn đề phương pháp luận, logic học và phương pháp luận của sự nghiên cứu khoa học (Nxb Đại học Leningrad, 1970); Cu-xnhin-vê-ep (1964), Các phạm trù triết học của nhận thức và khoa học hiện đại; Lecto-roxiti- Vê a (1980), Chủ thể, khách thể, nhận thức (Nxb Khoa học); A.D Ursul (1975), Vấn đề thông tin trong khoa học hiện đại; Tôđô Páplốp (1973), Phản ánh, thông tin, điều khiển.
- Khoa học thông tin và quản lý: Xi-Vi-Rốp V.I (thập niên 1970), Những vấn đề phương pháp luận của khoa học thông tin; V. Afanaxep (1979), Thông tin xã hội và quản lí xã hội. Các công trình này đặt nền tảng cho việc nhìn nhận thông tin như một thuộc tính phản ánh của vật chất và công cụ quản lý xã hội.
- Về văn bản quy phạm pháp luật: Tác giả dẫn chứng Luật Liên bang Nga về thông tin, tin học hóa và bảo vệ thông tin ban hành năm 1995 (gồm 5 chương, 25 điều) quy định việc chuẩn hóa và liên kết tài nguyên thông tin thư viện.
- Mối quan hệ giữa thông tin và nghiên cứu khoa học: Bài viết của G. Gol'dgamar, "Mối quan hệ giữa quá trình thông tin và các giai đoạn nghiên cứu khoa học" (Nguyễn Hữu Hùng dịch), chỉ ra rằng cán bộ khoa học cần thông tin ngắn gọn, tổng hợp, và cơ quan thông tin phải tham gia hỗ trợ từ trước khi đề tài nghiên cứu được phê duyệt kế hoạch. Tác phẩm Thông tin KHXH. Cải tổ (1988) của Viện sĩ V. Vinogradov nêu rõ các chức năng cơ bản, hệ thống ấn phẩm và vấn đề tự động hóa công tác thông tin khoa học xã hội.
2. Nguồn tài liệu tiếng Anh và quốc tế
- Nghiên cứu quản lý thông tin: Parvez Ahmad và Mohd Yaseen (2009) trong bài "The Role of the Library and Information science professionals as managers: a comparative analysis" (Electronic Journal of Academic and Special Librarianship) so sánh năng lực chuyên môn giữa chuyên gia khoa học thông tin - thư viện (LIS) với các nhà quản lý tổ chức.
- Mối quan hệ với phát triển bền vững và quốc gia: Athena Michael với bài viết về thư viện và tính bền vững ở các nước đang phát triển; bài báo trên tạp chí Library Philosophy and Practice (2009) dẫn luận điểm của Bordbar và Noruzi (2006) khẳng định năng lực sử dụng thông tin là nguồn sức mạnh cho sự phát triển của quốc gia trong thế kỷ XXI.
- Thư viện khoa học xã hội: Nghiên cứu của Witt mang tên "Revolution in science and the role of social sciences libraries" (IFLA 144) phân tích mối quan hệ giữa dịch vụ thông tin thư viện với cấu trúc xã hội trong việc sản sinh tri thức; các khuyến cáo và tài liệu của Hiệp hội Thư viện Thế giới (IFLA).
3. Nguồn tài liệu tiếng Việt
Tác giả khảo cứu lượng lớn tài liệu xuất bản tại Việt Nam trong vòng 20 năm tính đến thời điểm thực hiện luận án:
- Giáo trình và chuyên khảo chuyên ngành: Nguyễn Minh Hiệp (2008), Cơ sở khoa học thông tin và thư viện (Nxb ĐHQG TP. Hồ Chí Minh), phân tích 3 giai đoạn quản lý của ngành: quản lý tài liệu, quản lý thông tin và quản lý tri thức. Đoàn Phan Tân (2000), Phan Văn (2001) với các cuốn Thông tin học (Nxb ĐHQG Hà Nội).
- Tiếp cận từ khoa học kỹ thuật và lý thuyết thông tin: Hồ Văn Quân (2005), Lý thuyết thông tin, khẳng định tín hiệu là phần xác, thông tin là phần hồn, và lưu trữ là một trạng thái truyền tin đặc biệt từ hiện tại đến tương lai. Đặng Văn Chuyết và Hà Quốc Trung (2011), Lý thuyết thông tin, phân tách rạch ròi khái niệm tín hiệu, thông tin và dữ liệu. Các giáo trình tin học đại cương của Hàn Viết Thuận (2009) và Nguyễn Đức Mận (2010) mô tả chu trình dữ liệu nhập - xử lý - thông tin xuất.
- Luận án triết học liên quan: Luận án của Lê Thị Duy Hoa (2002) về tiếp nhận và xử lý thông tin của tư duy con người; Luận án của Nguyễn Thị Hương Lan (2008) về tác động xã hội của công nghệ thông tin.
- Các bài báo triết học chuyên sâu: Lê Thị Duy Hoa (1999) trên Tạp chí Triết học xác định thông tin là "cái đa dạng được phản ánh" từ góc độ bản thể luận và nhận thức luận. Phùng Văn Thiết (2005) trên Tạp chí Triết học trình bày mô hình "tháp thông tin" (Dữ liệu -> Thông tin -> Tri thức -> Trí tuệ) và phân loại tri thức hiện với tri thức ngầm. Nguyễn Hữu Đễ (2005) phân tích vai trò của thông tin xã hội trong quản lý.
- Các bài viết về thông tin khoa học và tổ chức thư viện: Vương Thanh Hương (2011) về thông tin khoa học giáo dục; Trần Thị Quý (2009, 2011) về tính liên ngành của thông tin học; Vũ Văn Sơn (2010) về mô hình đào tạo LIS; Nghiêm Xuân Huy (2010) về năng lực thông tin (information literacy) của cán bộ nghiên cứu; Nguyễn Như Diệm (1993) về quan hệ giữa thông tin khoa học và nghiên cứu khoa học; Mạch Quang Thắng (2005), Đặng Thị Thanh Hà và Trần Mạnh Tuấn (2011), Phạm Văn Vu (2010), Lê Văn Viết (2012), Nguyễn Thị Hạnh (2012). Kỷ yếu các hội thảo khoa học tại ĐH KHXH&NV TP.HCM, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (Ninh Bình, 2013), và Vụ Thư viện (Bộ VHTTDL, 2013).
4. Nguồn tài liệu tiếng Lào và thực tiễn tại Lào
- Rà soát các luận án tiến sĩ: Tác giả rà soát 23 luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Lào bảo vệ tại Việt Nam từ năm 1990 đến năm 2012 (gồm các tác giả: Bun phon Bunhanit, Kăm Phởi Phăn Tha Chon, Su Văn Phêng Bup Pha nu vông, Thong Salit Mangnomek, Kan Nha Sy La vong, In Phon Nhốt Xa Vông, Sỉ Bun hương Phan Da Vong, Xỉ lửa Bun Khăm, Khăm Pheng Say Sôm Pheng, Bunchom Vông phết, Khăm Mặn Chăn Tha Lăng Sỷ, Phăn Đuông Chít Vông Sa, Xỉnh Khăm Phôm Ma Xay, Vi Xúc Phôm Phi Thắc, Bun ma Kết Kê Sỏn, On Keo Phom Ma Kon, Đệt Ta Kon Phi la Păn Đệt, Sỏn Tha Nu Thăm Ma Vông, Viêng Thoong Sỉ Phăn Đon, Khăm Phả Phim Ma Sỏn, Bun Thoong Chít Ma Ni, Thong Băn Sẻng A Phon, Sủn Thon Xay Nha Chắc, Sỏn Xay Văn Na Lạt). Tất cả các luận án này đều thuộc các chuyên ngành xã hội học, quản lý kinh tế, chính trị học, xây dựng Đảng, chủ nghĩa duy vật biện chứng và lịch sử, thẩm mỹ học... Chưa có luận án nào nghiên cứu về thông tin, tư liệu, thư viện đối với khoa học xã hội.
- Khảo cứu quốc tế về Lào: Tác giả Jaffe Yee Yeow-fei (1999) tại Đại hội IFLA lần thứ 65 khẳng định không có ấn phẩm chuyên ngành thư viện thông tin nào được xuất bản ở Lào do thiếu hiệp hội và trường đào tạo. Báo cáo của Barbro Thomas (Thư viện Quốc gia Thụy Điển, 2009) chỉ ra dịch vụ thư viện công cộng ở Lào có chất lượng thấp, chủ yếu phục vụ học sinh làm bài tập. Dự án tàu thư viện ("Laos literacy and library boats") dọc sông Mê Kông ghi nhận thực trạng số lượng sách trong thư viện quá nghèo nàn.
- Văn kiện và pháp lý của Lào: Các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, VIII, IX của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào về khuyến đọc, khuyến học; Luật Thư viện Lào ban hành năm 2011 (gồm 9 chương, 55 điều).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết:
Các tài liệu của Lào hoàn toàn vắng bóng các công trình lý luận triết học về thông tin thư viện. Các tài liệu của Việt Nam và quốc tế tập trung vào hai thái cực: hoặc nghiên cứu triết học nhận thức luận trừu tượng chung chung, hoặc đi sâu vào kỹ thuật nghiệp vụ thư viện học và tin học ứng dụng. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: hệ thống hóa cơ sở triết học về thông tin, tư liệu, thư viện và vận dụng trực tiếp vào việc giải quyết thực trạng phát triển của khoa học xã hội Lào.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và khung khái niệm
- Hệ tư tưởng và đường lối: Chủ nghĩa Mác - Lênin, lý luận phản ánh khách quan; các quan điểm chỉ đạo trong văn kiện Đại hội VII, VIII, IX của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào về phát triển văn hóa, giáo dục và khoa học xã hội.
- Khái niệm bản chất thông tin: Luận án kế thừa quan niệm triết học của A.D Ursul, Lê Thị Duy Hoa và Phùng Văn Thiết, xác định bản chất của thông tin là "cái đa dạng được phản ánh". Thông tin bắt nguồn từ tính đa dạng khách quan của thế giới, nhưng chỉ trở thành thông tin hiện thực khi thông qua sự phản ánh của chủ thể nhận thức.
- Mô hình tháp thông tin và tri thức: Vận dụng mô hình 4 cấp độ: Dữ liệu (Data) -> Thông tin (Information) -> Tri thức (Knowledge) -> Trí tuệ (Wisdom). Đồng thời phân biệt tri thức hiện (lưu trữ ngoài con người qua sách, tư liệu, thiết bị số) và tri thức ngầm (tồn tại trong tư duy, kinh nghiệm của nhà khoa học).
- Mô hình chu trình lao động khoa học: Luận án phân tích hoạt động nghiên cứu khoa học qua 3 khâu:
- Khâu chuẩn bị tìm tin, dữ liệu và phân tích sơ bộ tài liệu.
- Khâu nghiên cứu sáng tạo ra tri thức mới.
- Khâu phổ biến kết quả nghiên cứu vào đời sống (công bố, xuất bản, chuyển giao).
Trong chu trình này, khâu thứ nhất và khâu thứ ba thuộc phạm vi của công tác thông tin, tư liệu. Từ đó, tác giả khẳng định công tác thông tin, tư liệu là một dạng lao động khoa học có tổ chức.
- Mô hình 3 giai đoạn quản lý thư viện: Kế thừa từ Nguyễn Minh Hiệp, luận án nhìn nhận sự phát triển của lĩnh vực thông tin thư viện qua: Quản lý tài liệu -> Quản lý thông tin -> Quản lý tri thức.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án hoàn toàn đi theo hướng định tính, kết hợp phương pháp luận triết học với các phương pháp liên ngành khoa học xã hội:
- Phương pháp lịch sử - lôgic: Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của thiết chế thư viện, tư liệu tại Lào qua các thời kỳ (thời phong kiến, thời Pháp thuộc, thời kỳ chịu ảnh hưởng của Mỹ, và giai đoạn từ năm 1975 đến nay).
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Bóc tách các định nghĩa, thuộc tính của thông tin, phân loại tài liệu, từ đó tổng hợp thành các luận điểm triết học về chức năng xã hội của thông tin.
- Phương pháp hệ thống hóa: Xem xét thông tin, tư liệu và thư viện như một hệ thống hoàn chỉnh tác động qua lại với hệ thống khoa học xã hội.
- Phương pháp so sánh - đối chiếu: Đối chiếu thực trạng hệ thống thư viện, chính sách thông tin của Lào với Việt Nam và các khuyến cáo của quốc tế (IFLA, UNESCO) để rút ra bài học kinh nghiệm.
- Phương pháp khảo cứu tư liệu văn bản: Nghiên cứu các văn kiện chính trị, văn bản pháp luật (Luật Thư viện Lào 2011, Luật Thông tin Liên bang Nga 1995, Nghị định 159/2004/NĐ-CP của Chính phủ Việt Nam).
Nguồn tư liệu và dữ liệu thực tế
Luận án sử dụng các nguồn tư liệu thứ cấp đáng tin cậy bao gồm:
- Báo cáo nghiệp vụ của Thư viện Quốc gia Lào, Viện Khoa học Xã hội Quốc gia Lào, Thư viện Trung tâm Đại học Quốc gia Lào.
- Báo cáo của các tổ chức quốc tế: World Bank, UNDP, IMF, Thư viện Quốc gia Thụy Điển (dự án của Barbro Thomas).
- Dữ liệu thứ cấp từ đề tài nghiên cứu hợp tác "Đất nước Lào, xã hội Lào và sự phát triển của con người Lào" (2011) do Viện Khoa học Xã hội Việt Nam và Viện Khoa học Xã hội Quốc gia Lào phối hợp thực hiện.
- Số liệu thống kê từ các cơ quan nhà nước của Lào.
| Nhóm phương pháp |
Kỹ thuật thao tác cụ thể |
Nguồn tư liệu kiểm chứng |
| Phân tích văn bản & pháp lý |
Khảo cứu câu chữ, điều khoản, bối cảnh ban hành chính sách |
Luật Thư viện Lào 2011; Nghị định 159/2004/NĐ-CP; Văn kiện Đại hội Đảng NDCM Lào VII, VIII, IX |
| Lịch sử - Lôgic |
Dựng lại tiến trình hoạt động thư viện Lào từ trước 1975 đến 2014 |
Báo cáo Thư viện Quốc gia Lào; tài liệu nghiên cứu lịch sử văn hóa Lào |
| Tổng thuật học thuật |
Điểm luận điểm của các tác giả theo 4 khối ngôn ngữ |
Các công trình của A.D Ursul, Vinogradov, Nguyễn Minh Hiệp, Phùng Văn Thiết, Barbro Thomas |
| Phân tích dữ liệu thứ cấp |
Đối chiếu các chỉ số xã hội, đánh giá hiện trạng dịch vụ |
Báo cáo của WB, UNDP, IMF; đề tài hợp tác Viện KHXH Việt Nam - Lào (2011) |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 1 dành toàn bộ dung lượng để hệ thống hóa tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài. Tác giả phân tích chi tiết các xu hướng tiếp cận thông tin trong giới học thuật quốc tế và trong nước:
- Phân tích khuynh hướng triết học Liên Xô và Đông Âu: Đi sâu vào bản chất phản ánh của thông tin, xem xét thông tin trong mối quan hệ với điều khiển học và nhận thức luận.
- Phân tích khuynh hướng quản trị thông tin của các nước phương Tây: Tập trung vào kỹ năng của chuyên gia thông tin thư viện (LIS), vai trò của thư viện trong phát triển bền vững và việc cải cách giáo dục đại học.
- Phân tích các nghiên cứu tại Việt Nam: Phân chia thành hai nhánh rõ rệt gồm nhánh giáo trình nghiệp vụ thư viện - thông tin học (Nguyễn Minh Hiệp, Đoàn Phan Tân, Phan Văn) và nhánh tin học - lý thuyết truyền thông (Hồ Văn Quân, Đặng Văn Chuyết, Hàn Viết Thuận). Bên cạnh đó là các bài viết nghiên cứu triết học chuyên biệt về thông tin xã hội và nền kinh tế tri thức (Lê Thị Duy Hoa, Phùng Văn Thiết, Nguyễn Hữu Đễ).
- Đánh giá thực trạng nghiên cứu tại Lào: Rà soát 23 luận án tiến sĩ của lưu học sinh Lào tại Việt Nam, khẳng định sự thiếu vắng hoàn toàn các nghiên cứu lý luận về thông tin thư viện. Rút ra kết luận ở tiểu kết chương: Hoạt động thông tin, thư viện dù ngày càng hiện đại hóa về mặt công nghệ thì bản chất triết học không thay đổi, nó luôn giữ vai trò là phương thức, công cụ cho nhận thức, sáng tạo và phát triển xã hội của con người.
Chương 2: Vai trò của thông tin, tư liệu và thư viện đối với sự phát triển của khoa học xã hội
Chương này tập trung xác lập hệ thống khái niệm và khung phân tích lý luận triết học:
- Các khái niệm cơ bản: Tác giả truy nguyên từ "Tin" (gốc Latin informatio - giải thích, tạo hình dáng, truyền đạt ý tưởng). Làm rõ khái niệm thông tin khoa học (thông tin có độ chính xác cao, được kiểm nghiệm bằng phương pháp khoa học), phân biệt với thông tin đại chúng (mass media - thông tin diện rộng, phản ánh hiện tượng bề ngoài, chưa đủ độ tin cậy cho nghiên cứu). Định nghĩa thông tin khoa học xã hội dựa theo The American Heritage Science Dictionary là thông tin hình thành từ các ngành nghiên cứu xã hội con người và các quan hệ xã hội (xã hội học, tâm lý học, kinh tế, nhân chủng học, chính trị, lịch sử, nhân văn).
- Khái niệm tư liệu và thư viện: Tư liệu là vật mang tin (giấy, băng từ, đĩa quang...). Thư viện có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cổ Bibliothêka (bliô: sách, thêka: nơi bảo quản). Trích dẫn định nghĩa thư viện của UNESCO (1970) và Tuyên ngôn Thư viện công cộng của UNESCO (1994).
- Năm thuộc tính cơ bản của thông tin:
- Tính giao lưu: Sức sống của thông tin nằm ở tần suất trao đổi; thông tin không được phổ biến là thông tin chết.
- Tính khối lượng: Đo lường bằng hàm lượng tri thức; lưu trữ là trạng thái truyền tin đặc biệt từ hiện tại sang tương lai.
- Tính chất lượng: Thể hiện ở tính chính xác, khách quan, cập nhật và tính dễ hiểu (khả hội).
- Tính giá trị: Xác định bởi tính riêng biệt ("độc") và tính dự báo (chiến lược); mang quyền lực tổ chức xã hội.
- Tính giá thành: Cấu thành từ lao động trí tuệ (nghiên cứu, xử lý) và các yếu tố vật chất (thiết bị, vật mang tin).
- Phân loại thông tin: Phân chia theo quy mô/giá trị (thường thức, tác nghiệp, chiến lược); theo nội dung (khoa học - kỹ thuật, kinh tế, pháp luật, văn hóa - xã hội); theo đối tượng (đại chúng, chuyên gia); theo mức độ xử lý (cấp 1: thông tin gốc, cấp 2: tín hiệu chỉ dẫn, cấp 3: tổng hợp phân tích); theo hình thức (nói, chữ viết, đa phương tiện).
- Mối quan hệ hữu cơ: Luận án chứng minh thông tin, tư liệu và thư viện có quan hệ mật thiết. Công tác thông tin, tư liệu là một dạng lao động khoa học, tham gia trực tiếp vào khâu chuẩn bị dữ liệu và khâu phổ biến kết quả nghiên cứu.
| 5 thuộc tính của thông tin |
Biểu hiện cụ thể theo luận án |
Ý nghĩa đối với nghiên cứu KHXH |
| 1. Tính giao lưu |
Thể hiện qua tần suất luân chuyển, phổ biến |
Thông tin được trích dẫn nhiều chứng minh giá trị học thuật cao |
| 2. Tính khối lượng |
Đo bằng tín hiệu/vật mang tin; lưu trữ là truyền tin đến tương lai |
Lưu trữ thư viện bảo tồn tích lũy tri thức qua các thế hệ |
| 3. Tính chất lượng |
Độ trung thực, khách quan, cập nhật, mức độ dễ tiếp nhận |
Bảo đảm kết quả nghiên cứu KHXH không bị sai lệch dữ liệu |
| 4. Tính giá trị |
Tính độc báo, tính dự báo chiến lược, quyền lực tổ chức |
Hỗ trợ hoạch định chính sách xã hội và định hướng phát triển |
| 5. Tính giá thành |
Kết tinh lao động trí tuệ xử lý và chi phí vật chất bảo quản |
Quyết định tính chất hàng hóa thông tin và chính sách cung cấp |
Chương 3: Thực trạng vai trò của thông tin, tư liệu và thư viện đối với sự phát triển của khoa học xã hội Lào gần 40 năm qua
Chương 3 tập trung vào bức tranh thực tế tại Lào từ năm 1975 đến 2014 dựa trên các nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tác động từ yếu tố lịch sử: Di sản thuộc địa để lại mạng lưới thư viện nghèo nàn. Rào cản tiếng Pháp trong quá khứ và tiếng Anh trong giai đoạn sau khiến đại đa số cán bộ và người dân không tiếp cận được nguồn tin khoa học.
- Thực trạng hệ thống thư viện và tài nguyên thông tin:
- Báo cáo của Thư viện Quốc gia Thụy Điển (Barbro Thomas, 2009) đánh giá dịch vụ thư viện công cộng tại Lào có chất lượng thấp, nguồn tài chính hạn hẹp, tài liệu nghèo nàn, chủ yếu phục vụ học sinh phổ thông làm bài tập, chưa đáp ứng chức năng nghiên cứu chuyên sâu.
- Các dự án khảo sát quốc tế (dự án tàu thư viện Luang Prabang) ghi nhận số lượng đầu sách trong các thư viện tại Lào ở mức rất thấp ("shocked at how few books there were").
- Nguồn tài liệu viết bằng tiếng Lào vô cùng khan hiếm; công tác lưu trữ văn bản, dữ liệu điều tra xã hội học ở tình trạng yếu kém, phân tán.
- Thực trạng khoa học xã hội Lào: Đội ngũ cán bộ nghiên cứu KHXH tại Lào còn mỏng, phương tiện làm việc thiếu thốn. Do thiếu tư liệu khoa học cập nhật và các nghiên cứu cơ bản, khoa học xã hội Lào gặp lúng túng trong việc tư vấn, luận giải các vấn đề bức thiết về văn hóa, con người và biến đổi xã hội nảy sinh trong quá trình chuyển đổi kinh tế.
- Thực trạng thể chế: Trước năm 2011, hoạt động thông tin thư viện tại Lào thiếu hành lang pháp lý thống nhất. Sự ra đời của Luật Thư viện năm 2011 (với 9 chương, 55 điều; quy định chính sách nhà nước tại Điều 4 và xác định ngày truyền thống Thư viện Quốc gia Lào 9/4 tại Điều 49) là bước tiến pháp lý quan trọng nhất, mở đường cho việc tổ chức lại hệ thống.
Chương 4: Định hướng và giải pháp phát huy vai trò của thông tin, tư liệu và thư viện đối với khoa học xã hội ở Lào hiện nay
Chương 4 đề xuất hệ thống giải pháp xuất phát từ mục tiêu thứ ba của luận án:
- Định hướng chiến lược: Bám sát đường lối đổi mới của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (các văn kiện Đại hội VII, VIII, IX) về khuyến đọc, khuyến học, xem phát triển thông tin là bộ phận cấu thành của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và con người Lào.
- Nhóm giải pháp về thể chế và chính sách: Cụ thể hóa các điều khoản của Luật Thư viện 2011 thành các văn bản dưới luật; tăng cường ngân sách nhà nước đầu tư cho việc bổ sung tài liệu, đặc biệt là nguồn tài liệu khoa học xã hội; xây dựng quy chế chia sẻ thông tin giữa các cơ quan.
- Nhóm giải pháp về nguồn nhân lực: Khắc phục tình trạng thiếu hụt đào tạo chuyên môn thông tin thư viện (LIS) như Jaffe Yee Yeow-fei đã cảnh báo. Đề xuất thành lập khoa hoặc bộ môn đào tạo LIS tại các trường đại học của Lào; tổ chức các chương trình bồi dưỡng năng lực thông tin (information literacy) cho đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học xã hội nhằm nâng cao kỹ năng tìm kiếm, xử lý và đánh giá nguồn tin.
- Nhóm giải pháp về tổ chức mạng lưới và công nghệ: Hiện đại hóa cơ sở vật chất, từng bước ứng dụng công nghệ thông tin và xây dựng thư viện số; phát triển các trung tâm thông tin chuyên ngành tại Viện Khoa học Xã hội Quốc gia Lào, Thư viện Trung tâm Đại học Quốc gia Lào; tăng cường liên kết thư viện các tỉnh và xây dựng các trung tâm học liệu vùng.
- Hợp tác quốc tế: Mở rộng liên kết, trao đổi tư liệu khoa học với các cơ quan thông tin, thư viện của Việt Nam (Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) và các tổ chức quốc tế (IFLA, UNESCO) để khai thác các nguồn tài trợ và tài nguyên số.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học
- Tính chất mở đường: Luận án là công trình nghiên cứu tiến sĩ đầu tiên được thực hiện về lĩnh vực thông tin - tư liệu - thư viện ở Lào, đồng thời là luận án triết học đầu tiên nghiên cứu về lĩnh vực này tại Lào.
- Hệ thống hóa lý luận triết học: Khái quát một cách có hệ thống vai trò của thông tin, tư liệu và thư viện đối với sự phát triển của khoa học xã hội từ lập trường triết học duy vật biện chứng và lý luận phản ánh; xác lập bản chất lao động khoa học của công tác thông tin tư liệu trong chu trình 3 khâu của nghiên cứu khoa học.
- Làm rõ các thuộc tính và giá trị: Phân tích sâu sắc 5 thuộc tính của thông tin và khẳng định mối quan hệ hữu cơ giữa thông tin khoa học xã hội với sự phát triển con người, quản lý xã hội và kinh tế tri thức trong điều kiện của một quốc gia đang phát triển.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Khái quát lịch sử và thực trạng: Tái hiện bức tranh lịch sử hoạt động thông tin thư viện tại Lào; chỉ rõ những hệ lụy từ rào cản ngôn ngữ và dân trí thời Pháp thuộc và thời Mỹ đối với thói quen sử dụng thư viện; đánh giá khách quan thực trạng nghèo nàn về tài liệu, yếu kém về lưu trữ và sự thiếu hụt ấn phẩm chuyên ngành tại Lào trong gần 40 năm qua.
- Đánh giá thực trạng khoa học xã hội Lào: Phân tích thẳng thắn những hạn chế, lạc hậu của khoa học xã hội Lào hiện nay do thiếu hụt nguồn thông tin tư liệu kiểm chứng và cập nhật.
- Đề xuất giải pháp khả thi: Xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ từ thể chế (thực thi Luật Thư viện 2011), phát triển nhân lực (đào tạo LIS, nâng cao năng lực thông tin cho cán bộ nghiên cứu) đến đầu tư công nghệ và liên kết quốc tế, cung cấp luận cứ khoa học để kiến nghị lên các cơ quan lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước Lào.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Hạn chế về nguồn tư liệu thực tế tại Lào: Công tác lưu trữ văn bản và thống kê số liệu tại Lào trong giai đoạn nghiên cứu còn phân tán, yếu kém; các tài liệu viết bằng tiếng Lào về lý luận thông tin thư viện hoàn toàn vắng bóng; việc tiếp cận các báo cáo nội bộ gặp nhiều khó khăn.
- Hạn chế về khai thác tài liệu quốc tế: Tác giả tự nhận định do trình độ ngoại ngữ và điều kiện nghiên cứu, nguồn tài liệu tiếng Anh chỉ mới khai thác được ở các nguồn mở, các bài báo online và tài liệu của IFLA, chưa thể tiếp cận sâu các chuyên khảo hẹp của quốc tế.
- Phạm vi tiếp cận lý thuyết: Do định vị là một luận án triết học, tác giả chỉ tập trung vào các vấn đề phương pháp luận, bản thể luận và nhận thức luận vĩ mô, không đi sâu phân tích các khía cạnh kỹ thuật chuyên sâu của tin học hay nghiệp vụ chi tiết của thư viện học hiện đại.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng khảo sát định lượng quy mô lớn về nhu cầu thông tin của các nhóm đối tượng nghiên cứu khoa học xã hội tại Lào khi hệ thống thống kê quốc gia hoàn thiện hơn.
- Nghiên cứu sâu về các mô hình thư viện số (digital library) và giải pháp xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa tài liệu cổ, tài liệu bản ngữ tiếng Lào.
- Nghiên cứu xây dựng chương trình khung đào tạo chuyên ngành khoa học thông tin - thư viện (LIS) bậc đại học đầu tiên tại Lào.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng và các lĩnh vực chuyên môn:
- Đối với các nhà hoạch định chính sách tại Lào: Luận án cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn để các cơ quan quản lý văn hóa, giáo dục và khoa học của Lào hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành Luật Thư viện năm 2011; xây dựng chiến lược đầu tư công cho mạng lưới thư viện công cộng và thư viện nghiên cứu.
- Đối với các cơ quan nghiên cứu khoa học xã hội Lào: Viện Khoa học Xã hội Quốc gia Lào và Đại học Quốc gia Lào có thể tham khảo mô hình tổ chức trung tâm thông tin tư liệu, chu trình quản lý tri thức và giải pháp liên kết mạng lưới để nâng cao chất lượng đề tài nghiên cứu.
- Đối với nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Triết học, Thư viện học: Chương tổng quan tình hình nghiên cứu cung cấp một thư mục phong phú về các công trình triết học Liên Xô, Việt Nam và quốc tế về lý luận phản ánh, bản chất thông tin và mô hình tháp thông tin.
- Đối với các chương trình hợp tác Việt - Lào: Luận án là tài liệu tham khảo quan trọng để các viện nghiên cứu và thư viện tại Việt Nam (Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam, Thư viện Quốc gia Việt Nam) xây dựng các dự án hỗ trợ, trao đổi tư liệu và đào tạo cán bộ thông tin - thư viện cho Lào.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu như thế nào?
Luận án nghiên cứu mối quan hệ giữa thông tin, tư liệu, thư viện với sự phát triển của khoa học xã hội Lào trong khoảng 40 năm (từ 1975 đến 2014). Phạm vi lý luận tập trung vào góc độ triết học, khoa học luận và thư viện học. Địa bàn khảo sát chính là Lào, có đối chiếu với kinh nghiệm của Việt Nam để rút ra bài học.
2. Dưới góc độ triết học, bản chất của thông tin và sức sống của thông tin được tác giả luận giải ra sao?
Kế thừa các quan điểm của A.D Ursul, Lê Thị Duy Hoa và Phùng Văn Thiết, luận án xác định thông tin về bản chất là "cái đa dạng được phản ánh", bắt nguồn từ tính đa dạng khách quan nhưng chỉ tồn tại khi được chủ thể tiếp nhận phản ánh. Tác giả khẳng định sức sống của thông tin nằm ở "tính giao lưu" (tần suất trao đổi, phổ biến và sử dụng); thông tin không được quảng bá và luân chuyển là thông tin chết.
3. Vì sao công tác thông tin, tư liệu được khẳng định là một dạng lao động khoa học?
Luận án chia hoạt động nghiên cứu khoa học thành 3 khâu: (1) Chuẩn bị tìm tin, dữ liệu; (2) Nghiên cứu sáng tạo tri thức mới; (3) Phổ biến kết quả nghiên cứu. Công tác thông tin, tư liệu trực tiếp đảm nhiệm khâu thứ nhất và khâu thứ ba. Đây là hoạt động có tổ chức do cán bộ thông tin thực hiện nhằm mục đích nâng cao hiệu quả nghiên cứu và đưa tri thức vào đời sống, do đó hoàn toàn mang bản chất của lao động khoa học.
4. Lịch sử trước đây đã để lại những trở ngại gì cho hoạt động thư viện tại Lào?
Thời Pháp thuộc, mạng lưới thư viện được thành lập nhưng trình độ dân trí bản xứ thấp khiến việc tiếp cận tư liệu bị hạn chế. Thời kỳ Mỹ, thư viện mở rộng tới các tỉnh lỵ nhưng tài liệu chủ yếu bằng tiếng Anh, tạo nên rào cản ngôn ngữ đối với người sử dụng. Hậu quả lịch sử để lại là số lượng tài liệu bằng tiếng Lào rất ít ỏi, thói quen đọc và khai thác thông tin khoa học trong xã hội chưa phát triển.
5. Văn bản pháp lý cao nhất về ngành thư viện tại Lào được ghi nhận trong luận án là gì?
Đó là Luật Thư viện Lào được Nhà nước Lào ban hành năm 2011, gồm 9 chương và 55 điều. Trong đó, Điều 4 quy định chính sách của Nhà nước đối với thư viện, và Điều 49 xác định ngày Thư viện Quốc gia Lào là ngày 9 tháng 4 (lấy mốc theo ngày thành lập Thư viện Quốc gia Lào 9/4/1818).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Thanongsone Sibounheuang là công trình học thuật đầu tiên tiếp cận toàn diện hoạt động thông tin, tư liệu và thư viện tại Lào dưới giác độ triết học duy vật biện chứng. Luận án đã hệ thống hóa sâu sắc các thuộc tính của thông tin, xác lập công tác tư liệu là một dạng lao động khoa học cấu thành hữu cơ trong chu trình sáng tạo tri thức, đồng thời phản ánh chân thực những khó khăn lịch sử và thực trạng nghèo nàn của hệ thống thư viện Lào trong gần 40 năm qua. Hệ thống định hướng và giải pháp do tác giả đề xuất gắn chặt với đường lối của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và việc thực thi Luật Thư viện năm 2011, cung cấp luận cứ khoa học quan trọng cho việc hoạch định chính sách phát triển thông tin tư liệu phục vụ khoa học xã hội và sự nghiệp phát triển đất nước Lào.