chương 1 để phân tích về thông tin và quá trình tiếp nhận xử lý thông tin của tư duy con người; Luận án tiến sĩ "Công nghệ thông tin và tác động xã hội của nó đối với xã hội hiện đại-phân tích triết học xã hội" của Nguyễn Thị Hương Lan, Viện Triết học, 2008, tuy bàn về công nghệ thông tin song tác giả đã dành một phần luận án (khoảng 20 trang) để bàn về thông tin, tri thức và mối quan hệ giữa thông tin và công nghệ thông tin. Tác giả đã xem xét thông tin dưới lý luận phản ánh và đặt thông tin trong sự vận động của xã hội thông tin, chỉ ra mối quan hệ giữa thông tin và công nghệ thông tin. Trong các bài tạp chí khoa học viết về thông tin, tư liệu và thư viện, số lượng các bài viết đề cập đến chủ đề này là khá nhiều. Tuy nhiên, phần lớn các bài nghiên cứu đều được tiếp cận ở chuyên môn hẹp của ngành thông tin- thư viện, do vậy, chủ yếu đi vào từng vấn đề cụ thể, kỹ thuật và tình huống.
Dưới cách tiếp cận Triết học về thông tin, có một số bài đáng chú ý: Tác giả Lê Thị Duy Hoa trong bài "Khái niệm "thông tin" từ cách tiếp cận bản thể luận và nhận thức luận", Tạp chí Triết học, số 1 (107) 1999, tác giả đã tiếp cận khái niệm thông tin ở hai khía cạnh: khía cạnh bản thể luận và nhận thức luận. Tác giả đã chỉ ra những cách hiểu khác nhau về thông tin dưới hai góc độ đó. Trong bài viết này, trên thực tế, tác giả cũng đã tiếp nhận có kế thừa quan niệm của A.D Ursul trong một cuốn sách "Vấn đề thông tin trong khoa học hiện đại" của A.D Ursul, Matxcơva, 1975, bản tiếng Nga. 17 Cũng dưới góc nhìn triết học, Lê Thị Duy Hoa cho rằng, thông tin là cái đa dạng được phản ánh.
Cái đa dạng mà tác giả nói tới ở đây chính là cái khách quan, thế giới khách quan phong phú đa dạng ở bên ngoài. Cái đa dạng chính là nguồn cấp thông tin, đưa đến thông tin và làm nên nội dung của thông tin. Tác giả Phùng Văn Thiết, trong bài “Bản chất của thông tin và kinh tế tri thức”, tạp chí Triết học, số 1 (1-2005), tr.57-61, sau khi dẫn một số quan niệm khác nhau về thông tin, tác giả cho rằng, nhìn chung các nhà nghiên cứu đều thống nhất quan niệm coi thông tin, về bản chất, “chính là sự da dạng được phản ánh”. Quan niệm này đồng nhất với quan niệm của bài báo mà tác giả Lê Thị Duy Hoa đã nêu trước đó.
Theo đó, tác giả Phùng Văn Thiết tiếp tục lập luận, thông tin trước hết bắt nguồn từ sự đa dạng, là thông tin về tính đa dạng của thế giới. Tuy thế, bản thân cái đa dạng mới chỉ là tiền đề, là dữ liệu chứ không phải là thông tin. Trong tính hiện thực của nó, “cái đa dạng” chỉ trở thành thông tin khi nó được phản ánh. Tác giả Phùng Văn Thiết, cũng đã gắn thông tin với lý luận phản ánh, gắn nhận thức này với việc phân tích về nền kinh tế tri thức.
Theo tác giả, căn cứ vào mức độ chính xác của thông tin, người ta chia nó làm 4 bậc, tương đương với quá trình phát triển từ thấp đến cao của nhận thức là: dữ liệu (data), thông tin theo nghĩa hẹp (information), tri thức (knowledge) và trí tuệ (wisdom). Đó chính là cái mà người ta gọi là “tháp thông tin” (Informs towel). Cũng theo tác giả Phùng Văn Thiết nêu lên trong bài báo này, trong một chừng mực nhất định, chúng ta vẫn phân biệt được thông tin và tri thức, tri thức là một cái gì đó cao hơn thông tin, là thông tin đã được xử lý qua nhận thức đề trở thành sự hiểu biết của một chủ thể nhất định. Đứng trên một cơ sở khác, căn cứ vào sự “điển chế hoá” của tri thức (khả năng chuyễn đổi một tri thức nào đó thành mã để chuyển giao nó nó từ nơi có đến nơi cần loại tri thức ấy), người ta chia nó ra làm hai loại “tri thức hiện” (được lưu giữ bên ngoài con người như: sách, đĩa, ổ cứng… và “tri thức ngầm” (tri thức khó điển chế hoá và thường được lưu giữ trong mỗi con người, dưới dạng các ý tưởng, tài nghệ, bí quyết….
Trong tác phẩm này, tác giả cũng đã chứng minh vai trò của 18 thông tin, tri thức đối với nền kinh tế tri thức, tác giả coi đó thông tin là tài nguyên quan trọng nhất trong phát triển kinh tế tri thức. Cũng đăng trên tạp chí Triết học, số 3 (166), tr.33-37, tháng 3-2005, tác giả Nguyễn Hữu Đễ với bài „Thông tin xã hội và vai trò của nó trong quản lý xã hội” đã đề cập đến thông tin xã hội và vai trò của nó trong việc quản lí xã hội. Tác giả đã đề cập đến khái niệm thông tin, cũng thừa nhận thông tin là sự phản ánh thế giới vật chất và mang tính khách quan, thông tin là thuộc tính vốn có của thế giới vật chất. Theo tác giả Phùng Văn Thiết, trong hệ thống thông tin của thế giới thì thông tin xã hội là loại thông tin cao nhất, phức tạp nhất và phong phú nhất, nó gắn liền với hoạt động thực tiễn của con người, khác với các loại thông tin này ở cách thể hiện và ở nội dung thông tin, “thông tin xã hội là loại thông tin liên quan đến các quan hệ xã hội và những lợi ích xã hội của con người”.
Tác giả Phùng Văn Thiết, qua bài viết này cũng đã chứng minh cho thấy, xét về quan hệ giữa thông tin và quản lý, cũng chính là quá trình trao đổi thông tin giữa đối tượng quản lý và đối tượng bị quản lý, thông tin xã hội và quản lí xã hội luôn có sự kết hợp chặt chẽ với nhau và quá trình quản lý xã hội bao giờ cũng cần đến những thông tin xã hội. Bởi vậy, để tăng cường hiệu quả quản lý xã hội trong tình hình và điều kiện mới, cần coi trọng việc thu thập thông tin, xử lí chúng một cách đúng đắn, khoa học và trên cơ sở đó, có những quyết định phù hợp, kịp thời. Nhìn chung, các tiếp cận dưới góc độ triết học vẫn chủ yếu quan tâm nhiều tới mảng thông tin theo nghĩa rộng, tất nhiên bao hàm cả hoạt động thông tin tư liệu và thư viện. Những tiếp cận này vẫn là những nghiên cứu đơn lẻ chứ chưa có một công trình tầm cỡ về thông tin và vai trò của thông tin đối với sự phát triển của khoa học xã hội nói chung.
Cũng đề cập đến vai trò của thông tin, nhưng không phải là thông tin chung chung, mà là thông tin khoa học, tác giả Vương Thanh Hương, với bài “Thông tin khoa học giáo dục trong thế kỷ 21”, tạp chí Thông tin & phát triển, số 1/2011, đã khẳng định thông tin khoa học ngày càng tỏ ra là một trong những nguồn lực và nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế xã hội, là nguồn lực của mỗi quốc gia, giữ 19 vai trò hàng đầu trong phát triển kinh tế xã hội và là yếu tố tiên quyết của tiến bộ kinh tế xã hội. Về thông tin khoa học, tác giả quan niệm, đó là một loại thông tin xã hội, một loại thông tin logic, hình thành trong quá trình nhận thức của con người, phản ánh khách quan những hiện tượng, những qui luật của tự nhiên, xã hội và tư duy, dành cho những đối tượng nhất định, nhằm giúp họ giải quyết những nhiệm vụ cụ thể trong từng lĩnh vực hoạt động. Còn thông tin khoa học giáo dục là những phản ánh kết quả tổng kết và nghiên cứu giáo dục nhằm để xuất các phương án tối ưu để chuẩn bị cho người quản lí lựa chọn và đưa vào vận hành các hoạt động giáo dục. Tác giả cho rằng, hoạt động giáo dục gắn liền với hoạt động thông tin và tác giả cũng đưa ra được các giải pháp để nâng cao thông tin khoa học giáo dục và hoạt động giáo dục.
Tiếp cận thông tin từ góc độ thông tin học, với bài “Tiếp cận thông tin học từ góc độ phương pháp luận của phân loại khoa học”, tạp chí Thông tin và phát triển, số 2/2011 và bài: “Thông tin học: có phải là một khoa học liên ngành?”, tạp chí Thông tin và phát triển, số 10 (32), 2009, tác giả Trần Thị Quý đã cho thấy bản chất và vị trí của thông tin học trong hệ thống các khoa học. Theo tác giả, thông tin học là bộ môn khoa học liên ngành và phần đa, các ý kiến đều cho rằng, đối tượng nghiên cứu của thông tin học là thông tin khoa học, đó là “thông tin logic, phản ánh một cách khách quan các quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy mà con người thu nhận được trong quá trình nhận thức và được ứng dụng vào đời sống xã hội”. Khoa học ở đây chính là tri thức nhân loại, được hiểu là các thành tựu nghiên cứu và phát triển, các phát minh, sáng chế, cải tiến, hợp lí hoá,…Về đối tượng của thông tin học, tác giả cho rằng, đó là quá trình nhận biết, truyền đưa, trao đổi tin tức khoa học của các khoa học. Ngày nay, thông tin khoa học được mở rộng sang thông tin khoa học và công nghệ.
Tác giả cũng cho rằng, thông tin khoa học mang tính bao quát của tin tức về mọi lĩnh vực khoa học. Cuối cùng tác giả đi đến một số kết luận, thông tin học nằm giáp ranh giữa các khoa học, đặc biệt là thư viện học. Chuyên ngành thông tin học kết hợp với với thư viện học tạo thành khoa học thông tin –thư viện, là khoa học mang tính liên ngành. Tác giả đi đến khuyến nghị cần mở mã ngành đào 20 tạo cho thông tin học, bên cạnh thư viện học để đào tạo nhân lực chuyên sâu phục vụ phát triển khoa học, phát triển đất nước.
Trong bài viết của mình tác giả Trần Thị Quý cho thấy mối liên hệ mật thiết giữa khoa học thông tin và khoa học thư viện, là khoa học mang tính liên ngành. Đây là một điểm đáng chú ý khi nghiên cứu về thông tin hiện nay. Tác giả Vũ Văn Sơn trong bài "Khái niệm và nội hàm thông tin học qua nghiên cứu và hoạt động thực tiễn", tạp chí Thông tin và phát triển, 1&2 (34) 2010, tác giả cho rằng, đa số các nước trên thế giới, cụm từ thông tin khoa học và kỹ thuật hoặc đơn giản chỉ là thông tin khoa học, được sử dụng nhiều hơn và đa phần được xếp vào khoa học liên ngành.