mở đầu, diễn biến và kết thúc. Nó có thể diễn ra theo từng “cơn”, trong khoảng thời gian ngắn. Có trường hợp, do không được hỗ trợ hoặc không có chiến lược ứng phó phù hợp, khủng hoảng có thể quay trở lại mỗi khi có sự kiện gợi nhớ về nỗi tổn thương cũ. Cũng có thể khủng hoảng diễn ra triền miên trong cuộc sống của một con người, song chắc chắn khủng hoảng không tồn tại mãi mãi, nếu chúng ta biết cách đương đầu, xử lý khủng hoảng khéo léo, chuyên nghiệp.
Tóm lại, khủng hoảng là trạng thái mất cân bằng về hoạt động cảm xúc và lý trí khi một người phải đối diện với một sự kiện xảy ra bất ngờ, thường là những sự kiện có nguy cơ gây nguy hại; hoặc đối diện với một giai đoạn chuyển tiếp trong phát triển có độ thách thức cao. Truyền thông chính sách là gì? Theo tác giả Đỗ Phú Hải, truyền thông chính sách đóng vai trò quan trọng đối với mỗi khâu của chu trình chính sách công. Khâu hoạch định chính sách, truyền thông chính sách giúp xác định được đúng và trúng vấn đề chính sách, bảo đảm sự đồng thuận xã hội. Trong khâu xây dựng chính sách, truyền thông chính sách giúp quá trình lựa chọn giải pháp công cụ chính sách phù hợp.
Trong khâu thực hiện chính sách, truyền thông chính sách giúp cho giám sát chính sách công được thực hiện với sự tham gia của cả xã hội. Khâu đánh giá truyền thông chính sách giúp làm rõ được kết quả chính sách, đồng thời tuyên truyền cho kết quả chính sách, giúp sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chính sách. Theo tác giả Nguyễn Huy Phòng, truyền thông chính sách là loại hình chuyên biệt về các lĩnh vực mang tính đặc thù, liên quan trực tiếp đến vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa. Truyền thông chính sách chiếm thời lượng phát sóng lớn trên các kênh truyền thông (báo hình, báo viết, báo nói, báo điện tử) của hệ thống các cơ quan Đảng, Nhà nước.
Truyền thông chính sách có vai trò, vị thể đặc biệt quan trọng trong việc cung cấp một cách chính xác, đầy đủ, kịp thời về đường hướng chính sách trên mọi lĩnh vực, tác động trực tiếp đến đông đảo công chúng ở mọi lứa tuổi, trình độ, nghề nghiệp. Theo tác giả Tạ Ngọc Tấn, Truyền thông chính sách thực chất và chủ yếu là một cách gọi tên mới hay là sự thay đổi cái vỏ khái niệm của một công việc mà xưa nay báo chí - truyền thông của Việt Nam vẫn làm là tuyên truyền đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước. Có thể ví truyền thông chính sách là cây cầu kết nối quan trọng giữa Đảng, Nhả nước với cơ quan đoàn thể, với quần chúng. Việc ban hành một chính sách cần phải thu thập ý kiến phản hồi, đóng góp của người dân.
Qua ý kiến phản hồi trên truyền thông sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách, các cơ quan quản lý điều chỉnh hành vi, chính sách sao cho phù hợp và sát với tình hình thực tiễn, tránh được những cơn sốc từ dư luận xã hội, tạo sự phát triển ổn định, bền vững. Trên cơ sở đó, có thể tạm định nghĩa: Truyền thông chính sách là quá trình tiến hành các hoạt động trao đổi, chia sẻ thông tin giữa các chủ thể chính trị với người dân trong chu trình chính sách công nhằm đảm bảo tính đúng đắn của chính sách và sự đồng thuận giữa chính quyền và nhân dân, qua đó nâng cao hiệu quả lãnh đạo, quản lý, thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước Như vậy có thể hiểu rằng: Truyền thông chính sách là hoạt động trao đổi, chia sẻ thông tin về chính sách của các chủ thể chính trị: các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể, nhưng trọng tâm là chính quyền – các cơ quan nhà nước. Truyền thông chính sách là một quá trình với nhiều hoạt động gắn với chu trình chính sách công: Xác định vấn đề chính sách; xây dựng chính sách, thực thi chính sách; đánh giá chính sách. Truyền thông chính sách nhằm đảm bảo sự đúng đắn của chính sách, tạo sự đồng thuận giữa chính quyền với người dân để chính sách được thực thi có hiệu quả.
Khủng hoảng truyền thông chính sách là gì? Khủng hoảng truyền thông chính sách là bất kỳ một sự kiện ngoài ý muốn nào xuất hiện bởi hoạt động truyền thông có thể đe dọa đến từng giai đoạn của chu trình chính sách công, làm phương hại đến uy tín, lợi ích của các cơ quan công quyền và người dân trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách. Chính sách về lĩnh vực y tế là gì? Chính sách y tế được hiểu là hệ thống văn bản quản lý nhà nước hướng tới mục tiêu tổ chức thực hiện các biện pháp dự phòng, chữa bệnh, tư vấn chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho người dân. Chính sách y tế gồm những quá trình hành động tác động đến một loạt các cơ quan, tổ chức, các dịch vụ y tế và việc phân bổ kinh phí của hệ thống y tế. Tuy nhiên nó không chỉ dừng ở mức các dịch vụ y tế mà bao gồm cả các chủ trương đã được thực hiện hoặc dự kiến thực hiện bởi các tổ chức Nhà nước, tư nhân, và tình nguyện nhằm tác động đến sức khỏe”.
Cũng có thể nói: Chính sách y tế là các định hướng chiến lược chăm sóc sức khỏe từ Trung ương đến địa phương nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của các tầng lớp nhân dân một cách công bằng, hiệu quả nhất và đảm bảo cho sự phát triển. Chính sách y tế không chỉ là của riêng ngành y tế mà của toàn xã hội, trong đó các cơ sở y tế đóng vai trò chủ đạo và thực hiện cung cấp các dịch vụ y tế. Chính sách y tế là một bộ phận không tách rời của các chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước. Vai trò của báo chí trong xử lý khủng hoảng truyền thông chính sách về lĩnh vực y tế 1.
Báo chí có vai trò cung cấp thông tin chính xác, khách quan và trung thực, đa dạng, nhiều chiều cho công chúng về sự kiện, hiện tượng, con người trong khủng hoảng. Trong truyền thông đại chúng, báo chí có vị trí trung tâm và vai trò nền tảng trong việc quyết định sức mạnh, bản chất và khuynh hướng chính của truyền thông nói chung. Báo chí là những kênh, những loại hình mang rõ nét nhất, đặc trưng nhất tỉnh chất của truyền thông đại chúng. Bản chất hoạt động này là hình thành dòng thông tin đại chúng, hướng tác động vào đông đảo công chúng.
Đề xử lý khủng hoảng truyền thông, nhà báo cần ý thức rõ ràng và nhất quán về tinh thần và thái độ phục vụ công chúng, vì lý tưởng chính trị và lợi ích cộng đồng. Không được lợi dụng nghề nghiệp để trục lợi cá nhân; hoặc các thế lực khác không được sử dụng, chi phối báo chí để bảo vệ lợi ích nhóm, nhất là những nhóm có thế lực Với tính chất đại chúng của thông tin báo chí, mỗi sự kiện, vấn đề đưa lên diễn đàn báo chí cần cân nhắc khía cạnh lợi hại từ các bình diện khác nhau cả luật pháp và đạo đức liên quan đến cộng đồng. Do đó trước nhu cầu được thông tin khách quan của công chúng về sự kiện, nhà báo phải đáp ứng nhu cầu này theo chiều hướng đảm bảo thông tin khách quan cho các quyết định của công chúng và cộng đồng. Chẳng hạn: Trong bối cảnh đại dịch covid-19 diễn ra phức tạp, xảy ra nhiều cuộc khủng hoảng truyền thông, thì vai trò của báo chí được nhấn mạnh hơn bao giờ hết.
Báo chí là lực lượng chủ lực trong quản trị thông tin, thông qua việc cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, khách quan về tình hình dịch bệnh. Vai trò chủ lực của báo chí, nhất là các cơ quan báo chí chính thống của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể… trong xử lý khủng hoảng truyền thông: Cung cấp thông tin chính xác, kịp thời về tình hình dịch bệnh và các giải pháp của Chính phủ; điều hòa dư luận và thúc đẩy đồng thuận xã hội như một nguồn lực xã hội cho công tác phòng, chống dịch và tăng cường niềm tin của người dân vào hệ thống chính trị. Báo chí cung cấp thông tin cho người dân về tình hình dịch bệnh và các giải pháp phòng, chống dịch của Chính phủ. Ngay từ khi dịch bệnh bùng phát, cùng với hệ thống y tế, quân đội và công an, báo chí luôn có mặt ở tuyến đầu chống dịch.
Thông tin kịp thời, chính xác về diễn biến phức tạp từng ngày, từng giờ của dịch bệnh giúp công chúng nắm bắt tình hình đồng thời nâng cao ý thức bảo vệ bản thân và cộng đồng. Báo chí cũng chuyển tải thông tin về các giải pháp của Chính phủ, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ nhằm tạo ra sự thống nhất nhận thức và hành động từ Trung ương đến địa phương. Bên cạnh đó, báo chí có vai trò quan trọng trong việc phản ánh đời sống dân sinh, nguyện vọng, yêu cầu chính đáng của nhân dân đến các cấp có thẩm quyền. Đại dịch COVID-19 tác động sâu rộng đến mọi lĩnh vực và cá nhân trong xã hội.
Những người dân yếu thế là đối tượng dễ bị tổn thương nhất và cần được bảo vệ nhất để bảo đảm an sinh xã hội. Khi giúp người dân cất lên tiếng nói của mình, báo chí góp phần quan trọng vào việc nâng cao trách nhiệm giải trình của các chính quyền địa phương, dân chủ hóa đời sống xã hội và nuôi dưỡng niềm tin của người dân vào các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và các biện pháp của Chính phủ. Ở mức độ cao hơn, báo chí cần thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội với các giải pháp phòng, chống dịch. Không phải là chuyên gia y tế, nhà khoa học và có thể không có kiến thức chuyên môn sâu về dịch bệnh, nhưng nhà báo có thể trở thành cầu nối, tạo diễn đàn cho các nhà khoa học, chuyên gia hiến kế, đề xuất các biện pháp phòng, chống dịch.
Vượt lên mức độ phản ánh, báo chí hướng tới trở thành báo chí phân tích và tìm kiếm các giải pháp hữu hiệu để chung sức trong cuộc chiến phòng, chống dịch. Tuy nhiên, thời gian vừa qua, thông tin báo chí về dịch bệnh COVID-19 còn nặng về phản ánh, thiếu thông tin có chiều sâu hay mang tính phản biện cao.