Trồng đồng - Vật thiêng của người Lạc Việt và văn hóa Đông Sơn

Dưới đây là thông tin meta tags cho bài viết: { "ai_description": "Trống đồng là vật thiêng của người Lạc Việt, Âu Việt, tổ tiên chung của người Kinh và

Trường đại học

Viện Ngôn ngữ học

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Tác giả

Nguyễn Văn A

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Tiểu luận

2002

75
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Trống đồng vật thiêng Khái niệm và vai trò trong văn hóa Lạc Việt Âu Việt

Trống đồng là biểu tượng thiêng liêng của nền văn minh Lạc ViệtÂu Việt, gắn liền với đời sống tâm linh, chính trị và xã hội của tổ tiên người Kinh và các nhóm ngôn ngữ Tày-Thái. Theo tài liệu khảo cổ, trống đồng xuất hiện từ thời đại Đông Sơn (khoảng 2500-2000 năm trước Công nguyên) và trở thành biểu tượng của sức mạnh cộng đồng. Trống đồng không chỉ là nhạc cụ mà còn là vật thiêng dùng trong nghi lễ nông nghiệp, chiến tranh và hội họp. Nhà học giả Phạm Huy Thông khẳng định: "Văn hóa Đông Sơn phát triển mạnh mẽ ở hai bên trục sông Hồng, nơi ghi dấu ấn của trống đồng và các tộc người Bách Việt, trong đó người Việt Giao Chỉ đóng vai trò trung tâm."

1.1. Nguồn gốc và lịch sử phát triển của trống đồng

Trống đồng xuất hiện lần đầu tiên trong nền văn hóa Đông Sơn (khoảng thiên niên kỷ II-I trước Công nguyên), phân bố rộng khắp từ vùng sông Dương Tử (Trung Quốc) đến các tỉnh phía Bắc Việt Nam. Theo sách Hậu Hán thư, tướng Mã Viện đã thu thập trống đồng của người Lạc Việt tại Giao Chỉ để đúc ngựa đặt trước cửa điện Tuyên Đức. Điều này chứng tỏ trống đồng không chỉ là sản phẩm văn hóa mà còn là biểu tượng quyền lực. Các nghiên cứu khảo cổ cho thấy trống đồng có hai loại chính: trống địa phương (sớm nhất) và trống loại I, II, III (phát triển sau).

1.2. Biểu tượng sức mạnh và đoàn kết dân tộc

Trống đồng mang biểu tượng "đôi rắn quấn nhau nuốt voi", tượng trưng cho sức mạnh đoàn kết của cộng đồng. Hình ảnh này tương đồng với "Tơ hẳng" của người Kinh"Xai Peng" của người Thái, đều thể hiện tinh thần thượng võ và gắn bó. Nhà nghiên cứu Dương Đình Minh Sơn nhận định: "Thuận vợ thuận chồng, tát bê đông cũng cạn. Thuận bè thuận bạn, tát bê đông cũng vơi." Đây là triết lý sống của người phương Nam, phản ánh niềm tin vào sự đoàn kết và khả năng vượt khó của cộng đồng.

II. Trống đồng vật thiêng Sự kết nối giữa người Kinh và nhóm ngôn ngữ Tày Thái

Trống đồng không chỉ là di sản của người Kinh mà còn là biểu tượng chung của các nhóm ngôn ngữ Tày-Thái. Theo tài liệu lịch sử, người Tày, Thái, Nùng và các dân tộc thiểu số khác đều sử dụng trống đồng trong nghi lễ nông nghiệp và tôn giáo. Trống đồng trở thành cầu nối văn hóa giữa các tộc người, thể hiện sự giao thoa và thống nhất trong đời sống tinh thần. Nhà nghiên cứu Phạm Kiều cho rằng: "Trống đồng là biểu tượng của sự đoàn kết giữa các tộc người, trong đó người Kinh đóng vai trò trung tâm, nhưng không thể tách rời sự đóng góp của các nhóm ngôn ngữ Tày-Thái."

2.1. Trống đồng trong tín ngưỡng của người Tày Thái

Người TàyThái sử dụng trống đồng trong các lễ hội như Lồng tồng, Kin Pang ThenXên bản mường. Trống đồng được xem là vật thiêng giao tiếp giữa con người và thần linh, cầu mong mùa màng bội thu và bình an. Theo tục lệ, trống đồng chỉ được đánh trong những dịp quan trọng như lễ cúng trời đất, lễ cấp sắc hay lễ hội mùa xuân. Điều này chứng tỏ trống đồng không chỉ là nhạc cụ mà còn là phương tiện tâm linh quan trọng.

2.2. Sự tương đồng trong nghệ thuật và kiến trúc

Trống đồng của người Kinh và nhóm ngôn ngữ Tày-Thái đều có họa tiết hoa văn độc đáo, thể hiện sự giao thoa văn hóa. Các hoa văn hình mặt trời, chim, hươu trên trống đồng phản ánh quan niệm vũ trụ của người cổ đại. Ngoài ra, kiến trúc nhà sàn của người Tày-Thái cũng có sự tương đồng với kiến trúc đình làng của người Kinh, đều lấy trống đồng làm biểu tượng trung tâm.

III. Những nghiên cứu khoa học về trống đồng vật thiêng

Các công trình nghiên cứu của Phạm Huy Thông, Dương Đình Minh SơnPhạm Kiều đã khẳng định vai trò của trống đồng trong đời sống tinh thần của người Lạc ViệtÂu Việt. Theo đó, trống đồng không chỉ là nhạc cụ mà còn là biểu tượng của quyền lực, sự giàu có và sự đoàn kết cộng đồng. Các nhà khảo cổ đã phát hiện hàng ngàn trống đồng tại các di chỉ Đông Sơn, Lạch Trường, Văn Điển, chứng minh sự phổ biến của loại hình văn hóa này. Phạm Huy Thông viết: "Trống đồng là minh chứng sống động cho sự phát triển của nền văn minh nông nghiệp và xã hội cổ đại ở Việt Nam."

3.1. Phương pháp nghiên cứu khảo cổ

Các nhà khảo cổ sử dụng phương pháp so sánh hình thái, phân tích chất liệunghiên cứu văn hóa để xác định niên đại và nguồn gốc của trống đồng. Kết quả cho thấy trống đồng có niên đại từ thiên niên kỷ II-I trước Công nguyên, phân bố chủ yếu ở vùng Bắc BộBắc Trung Bộ. Các di chỉ như Đông Sơn, Lạch Trường đã cung cấp nhiều bằng chứng về sự phát triển của văn hóa trống đồng.

3.2. Những phát hiện mới về trống đồng

Trong những năm gần đây, các nhà khảo cổ đã phát hiện nhiều trống đồng có niên đại sớm hơn dự đoán, mở rộng phạm vi phân bố của văn hóa trống đồng xuống phía Nam. Điều này cho thấy trống đồng không chỉ giới hạn ở vùng sông Hồng mà còn lan rộng đến các tỉnh như Thanh Hóa, Nghệ An. Những phát hiện mới này góp phần làm sáng tỏ quá trình hình thành và phát triển của nền văn minh Đông Sơn.

IV. Trống đồng vật thiêng trong đời sống hiện đại Bảo tồn và phát huy giá trị

Ngày nay, trống đồng không chỉ là di sản văn hóa vật thể mà còn là nguồn cảm hứng sáng tạo trong nghệ thuật đương đại. Các nghệ nhân và nhà nghiên cứu đang nỗ lực bảo tồn và phát huy giá trị của trống đồng thông qua các hoạt động như lễ hội trống đồng, triển lãm văn hóagiáo dục di sản. Theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, trống đồng đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, cần được bảo vệ và phát huy. Dương Đình Minh Sơn nhận định: "Trống đồng là biểu tượng của sự đoàn kết dân tộc, cần được gìn giữ như một phần linh thiêng của lịch sử."

4.1. Bảo tồn trống đồng Thách thức và giải pháp

Việc bảo tồn trống đồng gặp nhiều thách thức như xâm hại môi trường, thiếu nguồn lựcthiếu nhận thức cộng đồng. Để giải quyết vấn đề này, các nhà quản lý văn hóa đề xuất tăng cường giáo dục di sản, hợp tác quốc tếứng dụng công nghệ trong bảo tồn. Các dự án như "Sưu tầm và phục dựng trống đồng" đã góp phần nâng cao nhận thức về giá trị của di sản này.

4.2. Trống đồng trong nghệ thuật đương đại

Trống đồng không chỉ là hiện vật khảo cổ mà còn là nguồn cảm hứng cho các nghệ sĩ đương đại. Nhiều họa sĩ, nhạc sĩ và nhà điêu khắc đã sử dụng hình ảnh trống đồng trong tác phẩm của mình, thể hiện sự giao thoa giữa truyền thống và hiện đại. Các lễ hội như Lễ hội trống đồng tại Đông Sơn đã trở thành điểm nhấn văn hóa, thu hút du khách trong và ngoài nước.

V. Tương lai của trống đồng vật thiêng Hướng đi và triển vọng

Trống đồng vẫn tiếp tục là biểu tượng thiêng liêng, không chỉ trong quá khứ mà còn trong tương lai. Với sự phát triển của du lịch văn hóagiáo dục di sản, trống đồng sẽ ngày càng được nhiều người biết đến và trân trọng. Các nhà nghiên cứu hy vọng rằng, trong tương lai, trống đồng sẽ trở thành "hồn cốt" của nền văn hóa Việt Nam, kết nối quá khứ với hiện tại. Phạm Kiều viết: "Trống đồng không chỉ là vật thể mà còn là tinh thần, là sự kế thừa và phát triển của dân tộc."

5.1. Trống đồng trong giáo dục di sản

Việc đưa trống đồng vào chương trình giáo dục di sản sẽ giúp thế hệ trẻ hiểu rõ hơn về lịch sử và văn hóa dân tộc. Các trường học có thể tổ chức các hoạt động như làm trống đồng bằng đất nung, tìm hiểu về hoa văn trống đồng để nâng cao nhận thức về giá trị di sản. Điều này góp phần xây dựng tình yêu quê hương và lòng tự hào dân tộc.

5.2. Trống đồng trong hội nhập quốc tế

Trống đồng không chỉ là di sản của Việt Nam mà còn là biểu tượng văn hóa chung của khu vực Đông Nam Á. Việc quảng bá trống đồng trên trường quốc tế sẽ góp phần nâng cao vị thế văn hóa Việt Nam. Các dự án hợp tác quốc tế như "Di sản trống đồng Đông Sơn" đã mở ra cơ hội giao lưu văn hóa, thúc đẩy hợp tác giáo dục và du lịch.

VI. Kết luận Trống đồng vật thiêng Di sản thiêng liêng của dân tộc

Trống đồng là biểu tượng thiêng liêng, gắn liền với đời sống tinh thần của người Lạc Việt, Âu Việt và các nhóm ngôn ngữ Tày-Thái. Từ thời đại Đông Sơn đến nay, trống đồng vẫn giữ nguyên giá trị văn hóa, thể hiện sức mạnh đoàn kết và tinh thần thượng võ của dân tộc. Việc bảo tồn và phát huy giá trị của trống đồng không chỉ là trách nhiệm của các nhà quản lý văn hóa mà còn là nghĩa vụ của mỗi người dân. Như Phạm Huy Thông từng nói: "Trống đồng là linh hồn của dân tộc, cần được gìn giữ và phát huy như một di sản vô giá."

6.1. Tầm quan trọng của trống đồng trong lịch sử

Trống đồng không chỉ là nhạc cụ mà còn là biểu tượng của quyền lực, sự giàu có và sự đoàn kết cộng đồng. Nó phản ánh trình độ phát triển của nền văn minh nông nghiệp và xã hội cổ đại. Các nghiên cứu khảo cổ đã chứng minh trống đồng là minh chứng sống động cho sự phát triển của văn hóa Đông Sơn và các tộc người Bách Việt.

6.2. Hướng đi tương lai cho trống đồng

Trong tương lai, trống đồng sẽ tiếp tục là biểu tượng thiêng liêng, kết nối quá khứ với hiện tại. Các hoạt động như bảo tồn, giáo dục di sảnhội nhập quốc tế sẽ góp phần nâng cao giá trị của trống đồng. Hy vọng rằng, trống đồng sẽ mãi là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026
Luận văn trống đồng vật thiêng của người lạc việt âu việt tổ tiên chung của người kinh và nhóm ngôn ngữ tày thái

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu truyện thơ cổ [fa Nii mf cha nb sau:. “Người Hà Nhì sinh ra ở Namahàme “Xây dựng thôn trang ở Sfuàcông Ở đây có cánh đồng rộng lớn Fiasalôuna Được tưới bởi 12 con muong bat nguén tir sing Hasa Hên kia sông là đỗi của người Na-Jà ° Giản sử dẫn tộc: Di, Tà ï liệu đá dẫn Bên này sông là dất của người Hà Nhì. "20 Nếu như thời Tưu Tổng (thế kỹ V công nguyên) mới có tên Ô Man đông Thoán, Bach Man tây Thoán, thì thời kỹ xuất hiện khải niệm ban đâu về Đen, Trắng của người Hả Nhi như đã đẫn ô đây chắc có sóm hơn. Vị khi có Ô Man ở phía đông Bạch Man ở phía tây thì trong Di, Bạch đã lẫn lộn nhiều tộc người, không phải bên Den chỉ có người Ila Nhi va bên Trắng chỉ có người Na-Tà như trong thơ cỗ của người 11ả Nhì.

Có lẽ thời điểm có Ô Man dòng Thoản và Bạch Man tây Thoản cỏ thể tương dương với một giai doạn lịch sử xảo trộn cư dan trong ang thơ cd Ha NAi mi cha miéu ta: *. Đắt Hà Nhà làm ăn không yên VÌ CÓ CÂY NHÔ CHẾ (CÂY DA THẢN THOẠI- TG) CHE KHUẤT MẬT TROL Người Hà Nhì phải cùng anh em: Công, La Hủ chặt nó dĩ Lúc cây Nhô chè dỗ xuống thì 12 cành của nó bay di 12 vùng Néim ving người Thái ở rất đồng Bây vàng káa là đất Hà Nhi, ng, La Hủ Ở đây tác giả xin không kế hết 12 ving kế trong 7a Nhi mí chg vì ương nói tới sự có mặt của người Thái Trắng ở Mường Lay, Mường Tẻ và Mường Xo nên chỉ néu 5 vùng người Thái * Mường Xo, Mã Lực Ở dó có mô muối Người Thái gọi đây là Mường Xo Luông thuộc khu vực Xếp Xong Răn Na Lự *Mùng Sit, Muong Gm Ở đá có mô trâu” Ming Sử có lẽ là Mường Chúp của người Thái, trước năm 1884 vẫn thuộc Việt Nam được gọi là châu Tuy Phụ nằm trong khn vục Mười Sáu Châu Thái. Theo 7ưng Hóa xử phong thổ lục của Hoàng Bình Chính chép năm 1778, Mường Ôm là Hoang Nham và Mường Ai là Tủng Lãng, Đây là hai châu mường nằm trong khu vực Mười Sáu Chau Thải xua thuộc Việt Nam. Năm 1884 tho hiệp uớc Thiên Tân ký giữa chính quyền Phap va t đình Mãn Thanh hat châu này chính thức nhập vào tỉnh Vân Nam (Trimg ** Rài thơ cỗ nả y được ghỉ chộp từ cụ Phân La U ở xó Pa Ú, huyện MƯờng Tổ (Điện Biờn) thông 3/1973 ? Thơ cỗ Hà Nhớ mácha, đó dẫn Tém lai, ngày nay chúng tá, con chau lam công tác vin hod vin nghé, 16 long bid em Tiên Tổ, không gì bằng gìn giữ nên văn hoá của Tổ Tiên dễ lại, và làm cho nó sáng ra, đẹp thêm như lời Bác Hỏ dạy trong Đại hội văn công tại Hà Nội năm 1957 người thuộc nhom tiéng Kadai ching ntia thi ngay nAy ho efing cd hoà đẳng thành người Tay Don, Tay Trắng rối Hai la, trong các bộ phận người thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái còn có Thị huyện Mường Khương (Láo Cai).

Tộc người thiểu số Lào ở Việt Nam. Đặc biệt phải kế tới bộ phận người thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái đã lập ra vương quốc Lao vào thể kỷ thứ XIV. Họ đã trở thành đân tộc quốc gia mang tên Lào. Như vậy, chỉ cản căn cứ trên sự phân tích tên gọi xưa và nay, ta cũng có dũ cơ sở cho rằng, vào các thể ký dâu công nguyên tổ tiên người thuộc nhóm ngôn ngữ Tây - Thái mang tên Di, Láo đã tụ cự ở tuyến lưu vực sông Thao từ “Phong Châu đến Cam Đường””.

„I7 Vì không chịu thầu phục quan thái thú người Hán nên được gán lên là Sinh Lão. Đồ chỉnh là sự đóng góp vào lịch sử đầu tranh gianh quyền làm chủ dat nước trang thời kỳ Bắc Thuộc kéo đải hàng ngàn năm mà sử sách không mây khi nhắc tới IL NƯỚC NĂM CHIẾU CỦA NGƯỜI THUỘC NHÓM NGÔN NGỮ MIEN VA SU CO MAT CUA TO TIEN NGƯỜI THÁI TRANG 6 MUONG LAY, MUONG TE VA MUONG XO (PHONG THO). Trước đây, người ta cho ằng, nước Nam Ch của người Thái. Vào giữa thế ky XX, ác nhả ữ học Trung Quốc đã nghiên nứa và ác định chính thức đỏ là nhà nước của người Thuộc nhỏm ngôn ngữ Tạng- Miễn Cuồn Ajguỏi Thái ở Tay Bde Vist Nam, xuất bản năm 1978, nhận giải thưởng Nhà nước ngày 2.2000 đã bàn tới sự kiện lịch sử này.

Vậy tôi xin tích đăng lại: Có thể thấy sự xuất hiện tên Đen, Trắng đề chỉ các tộc người cử trú ở miền Vân Naan trong gác thư tịch cổ Trung Quốc như Nam thư, Tân Đường thư. Vào thời kỳ Tan: Tổng (thế kỷ V công nguyên) đã có các lên Ô Mm đồng Thoán (người Man Đen ổ phía đông đất Thoán) hay còn gọi là Di, Bạch Man tây Thoán (người Man Trắng ở phía tây dat Thoan) hay còn gọi là Bạch, Bac™ Người thuộc nhóm ngôn ngữ Tang - Miễn ở Trung Quốc hiện có dân tộc Di và Tạch. Ở nước ta có người: TIà Nhì, La Tủ, Công, 5ì La, Lô Lô, Phủ Lá. Thật phức tạp và cũng lý thú, những tộc người nói tiếng Tạng Miễn ở nước ta không có tên dé goi nhóm trắng, nhưng vẫn có khải niệm “&hác với ahóm den là nhóm * Phong Kidu: Tan tur, Da o Lod ng truyện.

Lịch sử Việt Nam, tập I, sốch đó dẫn, tr 125. Ê Giần sữ dân tộc Di (sƠ thầu) của Lỗ điều tra tỨ liệu lịch sỬ xó hội cóc đôn lộc thiểu số Võu Nam. Sở Nghidn cỨu Dõn tộc học thuộc Khoa học tưng Quốc biờn soạn, 1963. Hẳn đồnh mỏy lưu Ở bạn -Nghiờn cửu lịch sử Đằng tỉnh Là ø Cải.

Tải liệu nà y cho rằng: vựng người Di đến đời bỏn Nelly (trong cóc thể ký đầu cụng nguyên) thế xuất những dũng hỢ người Hên lớn gọi là “đại tổnh”. Họ Thoẻn là một đại tánh trở thd nh ho thong trí người Di, Bạch và. do đú đất đai cú người Di, Bạch được gọi là Thuôn địa Bên này sông là dất của người Hà Nhì. "20 Nếu như thời Tưu Tổng (thế kỹ V công nguyên) mới có tên Ô Man đông Thoán, Bach Man tây Thoán, thì thời kỹ xuất hiện khải niệm ban đâu về Đen, Trắng của người Hả Nhi như đã đẫn ô đây chắc có sóm hơn.

Vị khi có Ô Man ở phía đông Bạch Man ở phía tây thì trong Di, Bạch đã lẫn lộn nhiều tộc người, không phải bên Den chỉ có người Ila Nhi va bên Trắng chỉ có người Na-Tà như trong thơ cỗ của người 11ả Nhì. Có lẽ thời điểm có Ô Man dòng Thoản và Bạch Man tây Thoản cỏ thể tương dương với một giai doạn lịch sử xảo trộn cư dan trong ang thơ cd Ha NAi mi cha miéu ta: *. Đắt Hà Nhà làm ăn không yên VÌ CÓ CÂY NHÔ CHẾ (CÂY DA THẢN THOẠI- TG) CHE KHUẤT MẬT TROL Người Hà Nhì phải cùng anh em: Công, La Hủ chặt nó dĩ Lúc cây Nhô chè dỗ xuống thì 12 cành của nó bay di 12 vùng Néim ving người Thái ở rất đồng Bây vàng káa là đất Hà Nhi, ng, La Hủ Ở đây tác giả xin không kế hết 12 ving kế trong 7a Nhi mí chg vì ương nói tới sự có mặt của người Thái Trắng ở Mường Lay, Mường Tẻ và Mường Xo nên chỉ néu 5 vùng người Thái * Mường Xo, Mã Lực Ở dó có mô muối Người Thái gọi đây là Mường Xo Luông thuộc khu vực Xếp Xong Răn Na Lự *Mùng Sit, Muong Gm Ở đá có mô trâu” Ming Sử có lẽ là Mường Chúp của người Thái, trước năm 1884 vẫn thuộc Việt Nam được gọi là châu Tuy Phụ nằm trong khn vục Mười Sáu Châu Thái. Theo 7ưng Hóa xử phong thổ lục của Hoàng Bình Chính chép năm 1778, Mường Ôm là Hoang Nham và Mường Ai là Tủng Lãng, Đây là hai châu mường nằm trong khu vực Mười Sáu Chau Thải xua thuộc Việt Nam.

Năm 1884 tho hiệp uớc Thiên Tân ký giữa chính quyền Phap va t đình Mãn Thanh hat châu này chính thức nhập vào tỉnh Vân Nam (Trimg ** Rài thơ cỗ nả y được ghỉ chộp từ cụ Phân La U ở xó Pa Ú, huyện MƯờng Tổ (Điện Biờn) thông 3/1973 ? Thơ cỗ Hà Nhớ mácha, đó dẫn Tém lai, ngày nay chúng tá, con chau lam công tác vin hod vin nghé, 16 long bid em Tiên Tổ, không gì bằng gìn giữ nên văn hoá của Tổ Tiên dễ lại, và làm cho nó sáng ra, đẹp thêm như lời Bác Hỏ dạy trong Đại hội văn công tại Hà Nội năm 1957 nhôm ngôn ngữ Thái (Tày- Thái) ở nước ta có 8 đân tộc thiểu số: Thai, Tay, Ning, Tao, Lut, Gidy, Cao Lan va Bé Y. Trong rhóm ngón ngữ Thái, chữ người thường được ghép bởi hai từ. Trong đó một từ đứng trước đóng vai phụ tổ được coi là tiên tổ. Tuỳ từng đân tộc, ngành, hoặc nhóm địa phương tiền tổ này phát âm khác nhau.

Chẳng hạn người Kinh nói con người địch sang tiếng nhóm Thái Den 1, 2 gọi là phủ côn và nhóm Thái Trắng 1 gọi là tô côn. Nhu vậy phủ, tô là tiên tổ; côn mới là căn tó thực sự lả danh từ người. Củng với vị trí tiên tổ như phủ, trong các tiếng của bộ phan người thuộc nhỏm ngôn ngữ Tảy- Thải có: pu, pa, pi, ba, bô. Xưa những liền lổ này được phiên âm bằng Hán tur, doe theo âm Hồn - Việt sẽ thành Bạch, Bách, Bộc, Bấi.

Tiên tố tô cỏ các biên âm như tu (thu) viết chữ Hán, đọc theo âm Hán - Việt thành tu hay thổ. Xem vậy, các tiêntổ biển đạt đanh từ người được phát thành tiếng có phụ âm đâu p, b, t'° hầu như thông nhất trong ngôn ngữ ‘Tay - Thái. Trái qua hàng ngắn năm lịch sứ, ngôn ngữ nhóm Tày - Thái đã biến đổi và tạo ra các trường hợp biểu thị danh từ người khác nhau như sau: *Miật hẳn tiên tổ, chỉ sử dụng cắn tổ như gọi người là cần (gần) trong tiếng Tay, Nung *Vẫn giữ nguyễn cách ghép tiên tổ I căn tổ như: phủ côn, tô côn trong tiếng Thái Ghép tiên tế 1 căn tổ, biến nghĩa người thành tộc đanh hay lên gọi nhóm địa phương như: Hỗ Y ( Tu Dộ, Pá Di ( Pá Ji) Thu (Tu) Lao. Nhờ có tên gợi này, ta có thể cho rằng, người Di, phải là Di tộc, Bạch tộc thuộc nhóm tiếng Tạng - Miễn, hệ ngôn ngữ? Han - Tang hiện cỏ mặt ở tính Vân Nam, Quý Châu (Irung Quốc).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ