CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ XANH 1.1: Tổng quan về đầu tư phát triển đô thị 1. Khái niệm a, Đô thị Có rất nhiều khái niệm về đô thị, ở Việt Nam vấn đề này được hiểu như sau: “Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm thành phố trực thuộc trung ương, thị trấn được cơ quan có thẩm quyền công nhận là đơn vị hành chính đô thị và đô thị mới. Đô thị có nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã” b, Đô thị xanh Với khái niệm đô thị đã được biết đến từ lâu và có sự thống nhất tương đối cao thì “đô thị xanh” còn khá mới ở Việt Nam.
Nghiên cứu của ngài Lee Dong Youn - Công ty Jungdo UIT Hàn Quốc (2016) tại Hội thảo khoa học quốc tế, Kinh nghiệm của Hàn Quốc và thực tiễn của Việt Nam trong xây dựng đô thị xanh, ông đã đưa ra khái niệm về đô thị xanh như sau: “Đô thị xanh là đô thị được hệ thống hóa dựa trên các dữ liệu thông tin không gian xanh, kết hợp công nghệ xây dựng xanh và công nghệ thông tin thông minh cung cấp cho người dân các loại hình dịch vụ đô thị mọi lúc, mọi nơi được tốt nhất, hợp lý nhất”’ Tại Caribbean diễn đàn về phát triển đô thị xanh và kinh tế xanh, thì đô thị xanh bao gồm: Kiến trúc xanh: thiết kế các tòa nhà mới và cải tạo những tòa nhà cũ để có năng lượng hiệu quả hơn và sử dụng ít nước hơn trong cả quá trình xây dựng và bàn giao đưa vào khai thác sử dụng. Chính sách mua sắm của chính phủ: liên kết việc mua hàng hóa và dịch vụ, như một sự cam kết một phần của nhà thầu cũng như các nhà cung cấp về vấn đề môi trường. Năng lượng: hệ thống phân phối năng lượng hiệu quả là rất cần thiết, giảm thiểu tiêu thụ năng lượng, áp dụng hệ thống năng lượng tái tạo ở cả tầm vĩ mô và vi mô rất quan trọng trong cảnh quan xanh đô thị. 7 Quản lý nước: giảm thiểu sự mất nước, trong quá trình thu hoạch và phân phối, hệ thống lưu trữ giảm áp lực lên nguồn cung cấp nước uống.
Vận tải: giảm số lượng xe và tăng hiệu quả của giao thông công cộng có thể làm giảm ô nhiễm, giảm phát khí thải nhà kính. Quản lý chất thải: tái chế chuyển đổi chất thải thành năng lượng. Hệ thống kiến trúc cảnh quan: không gian xanh cung cấp một loạt các dịch vụ hệ sinh thái cũng như lợi ích giải trí. Kết hợp không gian xanh vào thiết kế đô thị cần phải xem xét các hình thức toàn bộ đô thị và bố trí cũng như các chính sách sử dụng đất phù hợp.
Qua nghiên cứu trên, tác giả chuyên đề cho rằng: “Đô thị xanh là đô thị được đầu tư xây dựng có quan tâm đến điều kiện sống tốt nhất cho mọi dân cư đô thị, đa dạng về sinh học, đảm bảo kiến trúc cảnh quan đô thị có không gian xanh, công trình xanh, có hệ thống giao thông đạt tiêu chuẩn xanh, các khu công nghiệp xanh và môi trường đô thị đạt chất lượng xanh, đảm bảo cung cấp các điều kiện tốt nhất về kinh tế, xã hội, môi trường cho cư dân đô thị”. Như vậy đô thị xanh được hiểu là đô thị nhằm giảm những tác động bất lợi, có mật độ xây dựng thấp nhưng hệ số sử dụng đất cao, tạo không gian đô thị mở, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên đạt hiệu quả và nâng cao chất lượng sống cho người dân, kết nối hệ thống giao thông xanh, môi trường ít ô nhiễm nhưng vẫn bảo tồn được di sản văn hóa. c, Đầu tư - Theo nhóm tác giả David Begg, Stanley Fischer, Rudiger Dor đưa ra khái niệm như sau: “Đầu tư là việc mua sắm hàng hóa tư bản mới”. Với khía cạnh tiêu dùng thì “Đầu tư là sự hy sinh tiêu dùng hiện tại để tăng tiêu dùng tương lai”; dưới góc độ kỳ vọng thì “Đầu tư là một canh bạc tương lai, với sự đánh cược rằng thu nhập đầu tư đem lại sẽ cao hơn chi phí đầu tư”, “Đầu tư bao gồm hữu hình và vô hình”.
Theo từ điển kinh tế học hiện đại: “Đầu tư là một lượng chi tiêu dành cho các dự án sản xuất hàng hóa không phải để tiêu dùng trung gian. Các dự án đầu tư này có thể bổ sung vào cả vốn vật chất, vốn nhân lực lẫn hàng tồn kho”. Theo Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 thì đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư. 8 Từ các nghiên cứu trên, theo tác giả khái niệm đầu tư được hiểu như sau: “Đầu tư là quá trình sử dụng các nguồn lực về tài chính, lao động, tài nguyên thiên nhiên và các tài sản vật chất khác nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế nói chung, của ngành xây dựng nói riêng”.
d, Phát triển đô thị xanh Phát triển đô thị chính là sự cải tiến hài hòa giữa kinh tế, môi trường và xã hội với mục tiêu cuối cùng là đời sống dân cư đô thị sẽ khá giả hơn, sống tiện nghi và hạnh phúc hơn. Phát triển đô thị xanh là xu hướng phát triển rất phù hợp với các đô thị có lợi thế vùng khí hậu và địa hình tự nhiên phong phú, đa dạng. Các đô thị trung bình và nhỏ có lợi thế về không gian cảnh quan đa dạng, phong phú, cảnh thiên nhiên sông, núi, biển, rừng đẹp dễ dàng phát triển thành các đô thị du lịch, đô thị truyền thống làng nghề cho phép khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững, hạn chế xây dựng mà vẫn tạo nguồn lực phát triển đô thị, hạn chế khai thác tài nguyên theo kiểu tăng cường các quỹ đất dành cho xây dựng, bê tông hóa bề mặt đô thị. e, Đầu tư phát triển Đầu tư phát triển là loại đầu tư trong đó người ta bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động nhằm duy trì và tạo ra năng lực mới lớn hơn trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và sinh hoạt đời sống xã hội.
f, Đầu tư phát triển đô thị xanh Đầu tư phát triển đô thị xanh là việc đầu tư phát triển không gian, hạ tầng, cảnh quan, để đô thị phát triển nhanh, bền vững, tập trung vào giải quyết những vấn đề về kinh tế, tạo việc làm ổn định cho người dân, bảo đảm đời sống vật chất và tinh thần cho người dân tốt nhất. Trong chuyên đề này:“Đầu tư phát triển đô thị xanh là việc bỏ vốn đầu tư để gia tăng về số lượng đô thị xanh nhằm nâng cao chất lượng và cơ cấu các đô thị xanh hợp lý, phù hợp với chiến lược phát triển đô thị nói riêng, phát triển kinh tế - xã hội nói chung”.2: Quản lý đầu tư phát triển đô thị xanh 1.Khái niệm a, Quản lý Quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý một cách hợp quy luật nhằm sử dụng có hiệu 9 quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động b, Quản lý đầu tư Quản lý đầu tư chính là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng quá trình đầu tư (bao gồm công tác chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và vận hành kết quả đầu tư cho đến khi thanh lý tài sản do đầu tư tạo ra) bằng một hệ thống đồng bộ những biện pháp nhằm đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội cao trong những điều kiện cụ thể xác định và trên cơ sở vận dụng sáng tạo những quy luật kinh tế khách quan nói chung và quy luật vận động đặc thù của đầu tư nói riêng. c, Quản lý đô thị Quản lý đô thị là các hoạt động nhằm huy động mọi nguồn lực vào công tác quy hoạch, hoạch định các chương trình phát triển và duy trì các hoạt động đó để đạt được các mục tiêu phát triển của chính quyền thành phố. Như vậy, Quản lý đô thị là sự can thiệp của chính quyền các cấp vào quá trình phát triển đô thị để đi đến mục tiêu, đảm bảo cho các đô thị phát triển ổn định, trật tự và bền vững nhằm tạo dựng môi trường sống thuận lợi cho dân cư đô thị, phù hợp với lợi ích quốc gia, cộng đồng dân cư đô thị d, Quản lý đầu tư phát triển Quản lý đầu tư phát triển là sự tác động của chủ thể tới hoạt động đầu tư phát triển cũng như các giai đoạn của quá trình đầu tư bằng quyền lực của chủ thể thông qua các cơ chế chính sách và các biện pháp quản lý thích hợp nhằm thực hiện mục tiêu phát triển trong từng giai đoạn cũng như từng thời kỳ”.
Chủ thể có thể là nhà nước, có thể là tư nhân, có thể là các nhà đầu tư nước ngoài hoặc liên doanh liên kết. e, Quản lý đầu tư phát triển đô thị xanh. Theo tác giả: “Quản lý đầu tư phát triển đô thị xanh là sự tác động có chủ đích, liên tục, có tổ chức, định hướng mục tiêu gây ảnh hưởng của các cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền thành phố thông qua các thể chế chính sách tác động đến việc phát triển đô thị xanh một cách phù hợp quy luật khách quan và quy luật đặc thù các tiêu chí để đạt được mục tiêu chung là đảm bảo quy hoạch xây dựng, đồng bộ hạ tầng kỹ thuật, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả các nguồn lực, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, tạo ra môi trường sống tốt cho cư dân đô thị, giữ gìn bảo tồn các di tích văn hóa lịch sử nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội”.