Chương 1: Khung nghiên cứu về phát triển kinh tế biển theo hướng bền vững. 9 Chương 2: Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế biển ở huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình (theo góc độ bền vững) giai đoạn 2011 - 2015. Chương 3: Quan điểm, định hướng và giải pháp phát triển kinh tế biển ở huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình theo hướng bền vững giai đoạn đến năm 2030. 10 Chƣơng 1 KHUNG NGHIÊN CỨU VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN THEO HƢỚNG BỀN VỮNG 1.
Kinh tế biển và phát triển kinh tế biển 1. Kinh tế biển 1. Khái niệm Trên cơ sở tổng quan các tài liệu nghiên cứu, chúng ta thấy rằng khái niệm kinh tế biển được đưa ra tại Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X được chấp nhận rộng rãi trong các nghiên cứu về kinh tế biển. Tùy thuộc vào cách thức tiếp cận, chúng ta có các khái niệm khác nhau về kinh tế biển.
Theo nghĩa hẹp, “kinh tế biển được hiểu là toàn bộ các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển” [2]. Khái niệm này nhấn mạnh phạm vi về không gian của các hoạt động kinh tế. Kinh tế biển chỉ được xác định trên phạm vi không gian của biển mà không xét đến các lĩnh vực kinh tế khác có liên quan đến khai thác biển. Theo nghĩa rộng, “kinh tế biển là các hoạt động kinh tế trực tiếp liên quan đến khai thác biển, tuy không diễn ra trên biển, nhưng những hoạt động kinh tế này là nhờ vào yếu tố biển hoặc trực tiếp phục vụ các hoạt động kinh tế biển ở dải đất liền ven biển” [2].
Ở góc này, kinh tế biển được nhìn nhận trên quan điểm rộng hơn, không chỉ xem xét về mặt phạm vi không gian mà còn bao hàm cả tác động của biển đến phát triển các lĩnh vực kinh tế. “Cách quan niệm về kinh tế biển như vậy về cơ bản cũng thống nhất với thông lệ quốc tế” [12]. Ví dụ, theo Viện nghiên cứu các hoạt động kinh tế biển của Trung Quốc, tập hợp trong khái niệm về kinh tế biển bao gồm: Đánh bắt hải sản; nghề muối; vận tải biển, cảng biển; du lịch biển; khai thác cát và khoáng sản ở biển; khai thác dầu và khí; sửa chữa và đóng tàu biển; sử dụng tài nguyên nước biển; năng lượng biển; thiết kế và xây dựng công trình trên biển; nghiên cứu vi sinh học biển; hóa học biển. Mặc dù, kinh tế biển có những khái niệm khác nhau, song Luận văn sẽ đứng trên góc độ kinh tế biển theo nghĩa rộng để nghiên cứu, theo đó kinh tế biển có thể 11 hiểu là tổng thể hợp thành của các hoạt động kinh tế tồn tại và phát triển dựa trên cơ sở khai thác các tiềm năng do biển đem lại.
Các bộ phận cấu thành kinh tế biển Theo tác giả, lý thuyết nghiên cứu về kinh tế biển được các học giả trong và ngoài nước thực hiện trong thời gian qua về cơ bản đã đi đến thống nhất khá cao về các bộ phận cấu thành kinh tế biển. Qua phần tổng quan nghiên cứu, luận văn đồng ý với quan điểm của Tổ chức Đối tác về quản lý môi trường các biển Đông Á (PEMSEA), theo đó các bộ phận cầu thành của kinh tế biển như sau: (1) Hải sản: Khai thác, NTTS, chế biến thủy sản. Nguồn lợi hải sản phong phú và đa dạng là điều kiện thuận lợi cho các quốc gia ven biển phát triển các ngành nghề khai thác hay NTTS không chỉ phục vụ nhu cầu thực phẩm trong nước mà còn làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến xuất khẩu. (2) Khai thác dầu và khí đốt trong thềm lục địa.
Nhờ những tiến bộ về KH- CN đã cho phép con người có thể khai thác biển ngày càng hiệu quả hơn. Tiềm năng về dầu khí trên biển được khám phá nhiều hơn, với trữ lượng được công bố ngày càng tăng và được phát hiện ở khắp các vùng biển trên thế giới. Trong "kỷ nguyên năng lượng, khí hậu", hoạt động khai thác dầu và khí đốt sẽ là động lực cho phát triển kinh tế biển nói riêng hay nền kinh tế quốc dân của mỗi quốc gia nói chung. Đồng thời, cũng góp phần quan trọng vào việc thay đổi cơ cấu năng lượng của cả thế giới.
(3) Du lịch biển và dịch vụ nghỉ dưỡng. Theo đánh giá của Tổ chức du lịch Thế giới, có hơn 70% số du khách rất thích đi du lịch biển, chứng tỏ du lịch biển và dịch vụ nghỉ dưỡng là một lĩnh vực có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của kinh tế biển - nhằm tận dụng các cảnh quan và sinh thái vùng ven biển đáp ứng nhu cầu hưởng thụ cho du khách, qua đó đóng góp vào tăng trưởng. Các tài nguyên phục vụ hoạt động du lịch biển có thể kể đến bao gồm tài nguyên tự nhiên (các bãi biển, hệ thống các đảo và quần đảo, nguồn nước, tài nguyên sinh vật,…) và tài nguyên du lịch nhân văn (các lễ hội, hoạt động thể thao, .)… 12 (4)“Hệ thống các khu kinh tế, khu công nghiệp và các cảng biển. Đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp cơ sở vật chất, kỹ thuật thúc đẩy hoạt động kinh tế biển như đóng tàu, cung ứng phương tiện vật tư phục vụ cho đánh bắt, khai thác hải sản; phục vụ khai thác tiềm năng du lịch, vận tải biển và là nơi chung chuyển, chế biến các sản phẩm được khai thác từ biển.” (5) Thương mại theo đường biển.
Là hoạt động trao đổi, buôn bán hàng hóa vận chuyển bằng đường biển giữa các quốc gia trong cùng khu vực hoặc giữa các châu lục, thể hiện qua giá trị hoặc khối lượng hàng hóa được luân chuyển trong một năm. Thương mại đường biển sẽ khuyến khích đầu tư sản xuất và phát triển dịch vụ của các quốc gia thông qua việc thực hiện giá trị của hàng hóa trao đổi. Nhờ đó, giúp một nước hội nhập vào kinh tế toàn cầu, đa dạng hóa dịch vụ, sản phầm của mình để đáp ứng tốt nhất nhu cầu trao đổi giữa các nước và giữa các khu vực. (6) Vận tải biển.
Là hoạt động chuyên chở hàng hóa qua đường biển và cung cấp các dịch vụ về bốc xếp hàng hóa tại các cảng biển. Nó gắn liền với hoạt động thương mại đường biển, giúp nhanh chóng vận chuyển hàng hóa giữa các nước và đem lại nguồn thu từ cước phí vận tải. (7) Công nghiệp đóng tàu và sửa chữa tàu biển. Là ngành sản xuất và sửa chữa phương tiện vận chuyển bằng đường biển; có vai trò quan trọng đối với sự hình thành và duy trì hệ thống tàu thuyền phục vụ cho hoạt động kinh tế biển của mỗi quốc gia.
Vì vậy, có thể coi công nghiệp đóng tàu là một mắt xích quan trọng trong các ngành công nghiệp biển. (8) Các hoạt động phụ trợ khác như: Hậu cần, giao nhận vận tải, bảo hiểm, đánh giá kiểm định chất lượng tàu biển, tiếp nhận nhiên liệu tại cảng, đào tạo đội ngũ thủy thủ, ngân hàng. Các hoạt động này có thể diễn ra ở trên đất liền nhưng phục vụ cho các lĩnh vực kinh tế biển. Phát triển kinh tế biển 1.
Khái niệm “Phát triển kinh tế là sự tăng tiến toàn diện và về mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội của một quốc gia” [26]. Nếu xét theo khía cạnh các bộ phận cấu thành, phát 13 triển kinh tế là sự “kết hợp chặt chẽ” quá trình phát triển của hai lĩnh vực trong nền kinh tế là kinh tế và xã hội. Nó bao gồm tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cùng với việc bảo đảm tiến bộ xã hội cho con người. “Theo logic biện chứng của quá trình phát triển, phát triển kinh tế được xem như quá trình biến đổi cả về lượng và về chất của nền kinh tế” [26].
Sự biến đổi về lượng trong phát triển có nghĩa là sự tăng lên về quy mô thu nhập và tiềm lực của nền kinh tế, đó là quá trình tăng trưởng kinh tế, còn sự thay đổi về chất bao gồm quá trình thay đổi cấu trúc bên trong của nền kinh tế và sự tiến bộ xã hội. Về mặt lý luận, việc hình thành, phát triển của kinh tế biển là dựa vào khai thác và sử dụng tài nguyên biển. Phát triển kinh tế biển ngày càng trở nên quan trọng đối với các quốc gia, nhất là khi việc khai thác tài nguyên trên đất liền cho phát triển kinh tế ngày càng khó khăn. Thực tế cho thấy, từ đầu thế kỷ 21 đến nay, “do sức ép về nguồn tài nguyên, sinh thái, kinh tế biển phát triển với tốc độ nhanh, các nước đều tỏ ra hào hứng chưa từng thấy đối với vấn đề biển” [27].
Trong xu thế đó, nghiên cứu về phát triển kinh tế biển để đề ra các chiến lược phát triển được nhiều quốc gia đặt ra. Tuy vậy, chưa có khái niệm nào về phát triển kinh tế biển được đưa ra. Thực tiễn nghiên cứu cho thấy, phát triển kinh tế biển không phải một khái niệm thuần túy, độc lập, riêng rẽ mà trong mối quan hệ của sự phát triển với các lĩnh vực khác. Dựa trên khái niệm về phát triển kinh tế, luận văn cho rằng phát triển kinh tế biển là sự tăng tiến toàn diện và về mọi mặt kinh tế biển và xã hội trong phạm vi lãnh thổ.
Nội hàm nghiên cứu phát triển kinh tế biển Dễ thấy, khái niệm về phát triển kinh tế biển được luận văn đưa ra trên nền của khái niệm phát triển kinh tế. Vì vậy, nội hàm phát triển kinh tế biển không mang ý nghĩa riêng biệt mà có tính chất tương đồng với nội hàm của phát triển kinh tế, có thể hiểu là: Một là, tăng trưởng của kinh tế biển biểu hiện ở sự tăng lên của tổng mức thu nhập kinh tế biển và mức thu nhập bình quân đầu người. Nó phản ánh sự biến đổi 14 về lượng của nền kinh tế biển, là yếu tố nền tảng giúp cải thiện mức sống vật chất cho người dân và hoàn thành những mục tiêu phát triển. Hai là, xu thế biến đổi tích cực của cơ cấu kinh tế biển.
Đó là tiêu thức cho thấy sự gia tăng về chất của kinh tế biển và là cơ sở để đánh giá trình độ phát triển của kinh tế biển ở địa phương tương ứng với từng thời kỳ. Ba là, các vấn đề xã hội được cải thiện và ngày càng tốt hơn do tác động của kinh tế biển. Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế biển không phải là mục tiêu cuối cùng của sự phát triển kinh tế biển mà là hiệu ứng lan tỏa của kinh tế biển đến thu nhập dân cư, việc giải quyết vấn đề nghèo đói, việc làm .