Chương 1: Tổ ng quan; Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu; Chương 3: Kết quả nghiên cứu. Sau đây là chi tiết của luận văn. Lê Thị Hoa – K18 CHKHMT 3 z Cơ sở khoa học cho định hƣớng phát triển kinh tế sinh thái tại đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi CHƢƠNG 1. Kinh tế sinh thái 1.
Khái niệm Kinh tế sinh thái học (KTST) là một lĩnh vực nghiên cứu giải quyết mối quan hệ giữa các HST và các hệ thống kinh tế (Constaza và nnk, 1991) và bước đầu tập trung vào việc đưa kinh tế học và các nguyên lý sinh thái lại gần nhau [9]. KTST có một cái nhìn rộng hơn so với kinh tế cổ điển và nhận ra rằng có nhiều điều mà góp phần vào đời sống con người chẳng hạn như y tế và giáo dục (nguồn vốn con người), bạn bè và gia đình (nguồn vốn xã hội) và hệ thống sinh học và vật lý của trái đất (nguồn vốn tự nhiên). Có bốn loại nguồn vốn được xem xét trong KTST [23]: - Nguồn vốn xây dựng: là một loại nguồn vốn được sử dụng khi nói về kinh tế cổ điển. Nó dùng để chỉ hàng hóa và dịch vụ được tạo ra bởi ngành công nghiệp của con người - các tòa nhà, xe hơi, đồ gia dụng, đường giao thông, đồ chơi, v.
- Nguồn vốn tự nhiên: là một khái niệm chỉ ra tầm quan trọng và giá trị của hàng hoá và dịch vụ được cung cấp bởi thiên nhiên. Nó vượt xa nhận định truyền thống khi xem xét sản phẩm tự nhiên chỉ là nguyên liệu cho việc chuyển đổi thành hàng hoá (cây xây dựng nhà hay làm giấy) để xem xét các chức năng được cung cấp bởi hệ thống hành tinh (khí thở, khí hậu ổn định) hoặc các HST địa phương (phòng chống lũ lụt của vùng đất ngập nước ven biển, giữ nước, lọc nước của những cánh rừng). Đôi khi giá trị tiền tệ của các dịch vụ HST có thể được tính toán, chẳng hạn như chi phí để thay thế chúng so với vốn xây dựng (vùng đất ngập nước ven biển với những con đê). Tuy nhiên, một số dịch vụ tự nhiên là vô giá.
Chúng rất cần thiết cho cuộc sống, và không thể thay thế (khí thở). Nguồn vốn tự nhiên bao gồm các nguồn vốn tự nhiên có thể tái sinh và nguồn vốn tự nhiên không thể tái sinh. Nguồn vốn tự nhiên có thể tái sinh tự duy trì thông qua quá trình quang hợp bằng chất diệp lục sử dụng năng lượng mặt trời như cây xanh, cá dưới biển và các HST. Nguồn Lê Thị Hoa – K18 CHKHMT 4 z Cơ sở khoa học cho định hƣớng phát triển kinh tế sinh thái tại đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi vốn tự nhiên không tái sinh được nhìn nhận như một nguồn thu động, bao gồm các nguồn tài nguyên thiên nhiên như khoáng sản.
- Nguồn vốn xã hội đề cập đến những lợi ích tích cực đã đạt được thông qua tương tác giữa con người với con người trong xã hội (bạn bè, gia đình, nhóm xã hội) và các cấu trúc chung của xã hội (ngôn ngữ, các tổ chức, hệ thống giáo dục, pháp luật). Nguồn vốn xã hội đóng góp lớn trong đời sống con người, nhưng rất khó để định lượng về tiền tệ. - Nguồn vốn con người: là tổng hợp sức khỏe con người, kinh nghiệm cá nhân, giáo dục, tài năng, kỹ năng và lợi ích. Nguồn vốn con người (và nguồn vốn xã hội) không thể đạt được tối đa trừ khi có công bằng xã hội, khi sự tiếp cận với những cơ hội mà xã hội mang lại là như nhau.
Mục tiêu - Duy trì đa dạng sinh học; - Đảm bảo phát triển bền vững các HST tại khu vực và có sức lan tỏa; - Đảm bảo sự phát triển bền vững hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái. Cách tiếp cận - Ứng dụng công nghệ cao trong khai thác tài nguyên thiên nhiên nhằm giảm chi phí, đảm bảo lợi ích kinh tế cao và bền vững. Đối với đảo biển ven bờ nhiệt đới thì KTST, trong đó phát triển DLST là mục tiêu chủ đạo; - Tiếp cận sinh thái, tổng hợp: biển là HST dễ bị tổn thương, kém bền vững, phụ thuộc nhiều vào các quá trình tự nhiên và đặc biệt nhạy cảm với các hoạt động nhân sinh. Cân bằng sinh thái đảm bảo duy trì các chức năng, giá trị, bảo vệ được tài nguyên – thiên nhiên của biển cũng là nhằm phục vụ mục tiêu phát triển bền vững.
Để đạt được mục tiêu này, mọi hoạt động về khai thác, sử dụng HST biển phải được tiến hành trong khả năng chịu đựng và phục hồi của các HST biển. Việc Lê Thị Hoa – K18 CHKHMT 5 z Cơ sở khoa học cho định hƣớng phát triển kinh tế sinh thái tại đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi quản lý bền vững biển phải dựa trên tiếp cận sinh thái học (ecosystem approach). Mặt khác, để đánh giá những mâu thuẫn lợi ích trong phát triển đảo biển cần phải có cái nhìn tổng thể để thấy rõ các mối quan hệ, các mâu thuẫn phát sinh và phương hướng giải quyết, giảm thiểu. Những lƣu ý trong phát triển đảo biển Uỷ ban liên Chính phủ về Hải dương học IOC ( Intergovernmental Oceanographic Commission) đã đưa ra những khuyến cáo trong phát triển đảo biển: - Nghiêm cấm phát triển công nghiệp sử dụng nhiều nước sạch, gây ô nhiễm môi trường đặc biệt là công nghiệp thực phẩm.
Nước trên đảo là khan hiếm, do vậy nước sạch chỉ phục vụ dân sinh; - Bảo vệ và duy trì các HST trên đảo đặc biệt là các HST nông lâm nghiệp, các HST biển (rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn,.); - Các tác động động lực đến bờ biển đảo luôn luôn phải có các công trình bảo vệ đảo, chống đỡ các tác động của thiên nhiên như sóng, nước biển dâng, bão lũ, xói mòn sạt lở; - Khai thác nước ngầm quá mức sẽ gây ra hiện tượng nhiễm mặn, gây sạt lở và sụt lún. Ý nghĩa và vai trò của kinh tế sinh thái đối với đảo biển Đảo biển là một HST kém bền vững vì có những đặc trưng riêng khác với đất liền, chịu tác động trực tiếp từ những điều kiện tự nhiên xung quanh là biển và đại dương, các mối quan hệ giữa các thành phần trong HST đảo không chặt chẽ và dễ bị tổn thương và khi có tác động tiêu cực từ bên ngoài vào thường làm rối loạn chức năng, cân bằng trong hệ bị phá vỡ và dẫn đến suy thoái. Những hoạt động sản xuất không phù hợp với các quy luật tự nhiên và đặc biệt là các quy luật phát triển của HST thường làm suy thoái HST đó. Điều này đồng nghĩa với việc suy thoái các nguồn tài nguyên, tác động trực tiếp đến đời sống Lê Thị Hoa – K18 CHKHMT 6 z Cơ sở khoa học cho định hƣớng phát triển kinh tế sinh thái tại đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi của dân cư sống trên vùng sinh thái nhạy cảm, kém bền vững đó.
Nhất là khi diện tích đảo thì có hạn, và khi dân số tăng cao, quỹ đất cho sản xuất ngày một giảm. KTST với quan điểm chủ đạo là phát triển bền vững sẽ là một giải pháp hữu ích và là duy nhất cho phát triển kinh tế xã hội ở đảo biển. KTST giúp cải tạo các HST nhạy cảm, kém bền vững ở đảo biển thành các HST bền vững hơn, giảm mức độ suy thoái môi trường, đồng thời nâng cao được đời sống cho người dân. KTST dựa trên những hiểu biết về các quy hoạt động của các HST, những kiến thức bản địa về trồng trọt, chăn nuôi kết hợp với những kiến thức khoa học hiện tại.
Đối với đảo biển, công tác điều tra nghiên cứu đánh giá nguồn vốn tự nhiên đảo biển phải tuân thủ quy định của Tổ chức Hải dương học liên chính phủ (IOC) đã tổng kết kinh nghiệm phát triển kinh tế của các quốc gia có đảo biển phát triển, đó là: chất lượng môi trường trên đảo và nhất là vùng nước xung quanh đảo, dự đoán tai biến thiên nhiên tiềm ẩn và có kế hoạch phòng tránh, bảo vệ và phát triển các HST, sử dụng hợp lý nguồn lợi sinh vật. Chức năng của HST phải được đánh giá trong những điều kiện tự nhiên cụ thể (ở đây là đảo biển) và ngưỡng suy giảm không phục hồi của các HST phụ thuộc vào nhận thức về chức năng của chúng. KTST đảo biển là sự khai thác đồng thời đan xen hỗ trợ lẫn nhau HST rừng, HST dưới biển, DLST và ngư nghiệp, trong đó DLST là động lực phát triển bền vững. Đảo biển có nhiều lợi thế về sinh thái cảnh quan và dịch vụ nhưng các HST đảo biển lại kém bền vững.
Vì vậy phát triển KTST là con đường duy nhất. Tổng quan về tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1. Lịch sử phát triển Lợi ích về sinh thái và kinh tế sớm được nhận ra vào những năm 1960 và được nghiên cứu bởi các nhà khoa học Kenneth Boulding và Herman Daly, nhưng vấn đề này lần đầu tiên được đề cập tại cuộc họp diễn ra vào những năm 1980.
Cụ Lê Thị Hoa – K18 CHKHMT 7 z Cơ sở khoa học cho định hƣớng phát triển kinh tế sinh thái tại đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi thể là tại một hội nghị được tổ chức vào năm 1982 tại Thụy Điển có sự tham dự của những người sau này sẽ là nòng cốt trong lĩnh vực nghiên cứu về kinh tế sinh thái, bao gồm Robert Costanza, Herman Daly, Charles Hall, Ann-Mari Jansson, Bruce Hannon, HT Odum, và David Pimentel. Hầu hết các nhà khoa học tham dự đều là các nhà sinh thái học hay nhà kinh tế môi trường. Năm 1988, một cuốn sách có tựa đề Kinh tế sinh thái, bởi Juan Martinez- Alier, đã được xuất bản. Một năm sau đó, Hiệp hội Quốc tế Kinh tế sinh thái (ISEE) được thành lập bởi Robert Costanza để thúc đẩy kinh tế sinh thái và hỗ trợ các nhà kinh tế sinh thái và các nhà xã hội liên quan.
Hiệp hội công bố tạp chí Kinh tế sinh thái hàng tháng, sách và các tài liệu khác, và tổ chức các cuộc họp định kỳ và các hội nghị để tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà kinh tế sinh thái có tiếng nói của mình. Cho đến nay, đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu liên quan đến kinh tế sinh thái trên thế giới và các mô hình kinh tế sinh thái thành công trên thế giới cũng được phát triển ngày càng rộng rãi.