CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHẬP KHẨU NGUYÊN VẬT LIỆU TẠI DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm nhập khẩu và nhập khẩu nguyên vật liệu xây dựng Nhập khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc t ế, là quả trình trao đối hàng hoá giữa các quốc gia dựa tr ên nguyên tắc trao đổi ngang giá lấy tiền tệ là môi giới. Nó không phải là hành vi buôn bán riêng lẻ mà là một hệ thống các quan hệ buôn bán trong một nền kinh tế có cả tổ chức bên trong và bên ngoài. Vậy thực chất kinh doanh nhập khẩu ở đây là nhập khẩu từ các tổ chức kinh tế, các Công ty nước ngoài, tiến hành tiêu thụ hàng hoá, vật tư ở thị trường nội địa hoặc tái xuất với mục tiêu lợi nhuận và nối liền sản xuất giữa các quốc gia với nhau.
Vật liệu xây dựng là sản phẩm có nguồn gốc hữu cơ, vô cơ, kim loại được sử dụng để tạo nên công trình xây dựng, trừ các trang thiết bị điện ( Nghị định của chính phủ số 124/2007/ NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 2007 về quản lý vật liệu xây dựng) Như vậy, nhập khẩu nguyên vật liệu xây dựng ;à hoạt động kinh doanh trên phạm vi quốc tế, là quả trình trao đổi nguyên vật liệu xây dựng giữa các quốc gia dựa trên nguyên tắc trao đổi ngang giá lấy tiền tệ là môi giới. Nhằm đáp ứng nhu cầu về nguyên vật liệu trong nước qua nguồn cung cấp quốc tế. Mục đích, vai trò của nhập khẩu nguyên vật liệu xây dựng Hoạt động kinh doanh nhập khẩu là sứ dụng có hiệu quả nguồn ngoại tệ để nhập khẩu vật tư, thiết bị kỳ thuật và dịch vụ phục vụ cho quả trình tái sản xuất mở rộng, nâng cao năng suất lao động, tăng giá trị ngày công, và giải quyết sự khan hiếm hàng hoá, vật tư trên thị trường nội địa. Mặt khác, kinh doanh nhập khẩu đảm bảo sự phát triên ổn định của các ngành kinh tế mũi nhọn của mỗi nước mà khả năng sản xuất trong nước chưa đảm bảo vật tư, thiét bị kỳ thuật đáp ứng nhu cầu phát triên, khai thác triệt để lợi thế so sánh củaa quốc gia, góp phần thực hiện chuyên môn hoá trong phân công lao động quốc tế, kết hợp hài hoà và có hiệu quả giữa nhập khẩu và cải thiện cán cân thanh toán.2 Các phương thức nhập khẩu Do điều kiện kinh doanh và sự sáng tạo, năng động của các doanh nhân nên trên thực tế đã xuất hiện rất nhiều hình thức nhập khẩu.Tuỳ theo các tiêu chí khác nhau mà ta có thể phân chia các hình thức nhập khẩu thành các nhóm khác nhau.
Một số cách phân loại chủ yếu đó là: Theo chủ thể của hoạt động nhập khẩu: Nhập khẩu tự doanh (Nhập khẩu trực tiếp). Nhập khẩu uỷ thác. Theo mục đích nhập khẩu: Nhập khẩu hàng mậu dịch. Nhập khẩu hàng phi mậu dịch.
Theo phương thức nhập khẩu: Nhập khẩu theo phương thức mua bán thông thường. Nhập khẩu theo phương thức hàng đổi hàng. Theo nguồn gốc và hình thức giao hàng: Nhập khẩu trực tiếp. Nhập khẩu uỷ thác.
Tạm nhập tái xuất. Trong đó, cách phân loại dựa theo tiêu chí chủ thể của hoạt động nhập khẩu là cách phàn loại phồ biến nhất, được nhiều người sử dụng. Sau đây em xin đi sâu trình bày về các hình thức nhập khẩu dựa theo cách phân loại này: 1. Nhập khẩu trực tiếp: Doanh nghiệp trực tiếp giao dịch, ký kết và thực hiện hợp đồng xuất/nhập khẩu hàng hóa của mình hoặc của doanh nghiệp khác với khách hàng nước ngoài.
Trong đó, bên mua và bên bán trực tiếp giao dịch với nhau, hàng hoá được mua trực tiếp từ nước ngoài mà không thông qua trung gian. Bên xuất khẩu trực tiếp giao hàng cho bên nhập khẩu. Theo hình thức này có những bước giao dịch là hói giá, phát giá, đặt hàng, hoàn giá, chấp nhận, xác nhận. Doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu phải trực tiếp làm các hoạt động nghiên cứu thị trường trong và ngoài nước, tìm kiếm đối tác, giao dịch, đàm phán kí kết hợp đồng.
và tự lo vốn để tồ chức kinh doanh hàng nhập khẩu, phải chịu mọi chi phí như: nghiên cứu thị trường, giao dịch, kí kết hợp đồng, giao nhận, lưu kho, tiêu thụ hàng hoá. Khi nhập khẩu tự doanh thì doanh nghiệp XNK được tính kim ngạch và khi tiêu thụ thì phải chịu thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp. Các doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu theo hình thức này phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của mình từ thu thập thông tin thị trường cho đơn kí kết và thực hiện hợp đồng nhập khẩu. Độ rủi ro của hình thức nhập khẩu trực tiếp cao hơn so với hình thức nhập khẩu qua trung gian nhưng lại mang lại nhiều lợi nhuận hơn cho doanh nghiệp.
Hình thức nhập khẩu này được sư dụng phổ biến ớ nước ta hiện nay. Vì xu hướng giảm dần các doanh nghiệp Nhà nước và thay vào đó là các doanh nghiệp vừa và nhó, nên các doanh nghiệp có điều kiện cũng như mong muốn được nhập khẩu trực tiếp để tăng thu. Hơn nữa, loại hình này áp dụng trong nhập khẩu những hàng hoá thông thường nên khối lượng lớn và liên tục. Nhập khẩu uỷ thác: Doanh nghiệp trực tiếp giao dịch, ký kết và thực hiện hợp đồng xuất/nhập khẩu hàng hóa theo úy quyền với doanh nghiệp khác với khách hàng nước ngoài.
Là hoạt động nhập khẩu hình thành giữa một doanh nghiệp trong nước có vốn ngoại tệ riêng, có nhu cẩu cần nhập khẩu một số loại hàng hoá nhưng không có quyền tham gia hoặc không có điều kiện nhập khẩu trực tiếp đã uỷ thác cho doanh nghiệp khác có chức năng trực tiếp tham gia giao dịch ngoại thương tiến hành nhập khẩu hàng hoá theo yêu cầu của mình.Bên nhận ủy thác phải tiến hành đàm phán với đối tác nước ngoài và làm thu tục nhập khẩu hàng hoá theo yêu cầu của bên ủy thác. Bên nhận ủy thác sẽ nhận được một phẩn thủ lao gọi là phí ủy thác. Trong hoạt động này, doanh nghiệp XNK (bên nhận ủy thác) sẽ không phải bó vốn, không phải xin hạn ngạch (nếu có), không phải nghiên cứu thị trường tiêu thụ cho hàng hoá mà chi đứng ra đại diện bên uỷ thác tiến hành giao dịch, đàm phán, ki kết hợp đồng, làm thủ tục nhập hàng cũng như thay mặt bên ủy thác khiếu nại, đểi bồi thường với đối tác nước ngoài khi có tổn thất. Hình thức này giúp cho doanh nghiệp nhận uỷ thác không mất nhiều chi phí, độ rủi ro thấp nên lợi nhuận từ hoạt động này không cao.
Khi tiến hành nhập khẩu uỷ thác, doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu uỷ thác sẽ phảilập hai hợp đồng là hợp đồng nhập khẩu ký với đối tác nước ngoài và một hợp đồng nhận uỷ thác nhập khẩu với bên uỷ thác. Khi tiến hành nhập khẩu ủy thác, doanh nghiệp nhận uỷ thác sẽ chỉ tính kim ngạch nhập khẩu chứ không tính vào doanh số. Hợp đồng nhập khẩu uỷ thác thường áp dụng cho những hàng hoá chuyên dùng, máy móc thiết bị kĩ thuật.3 Quy trình nhập khẩu nguyên vật liệu được nhập khẩu tại doanh nghiệp xây dựng. Như đã trình bày ớ trên, tồ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu là một công việc rất khó khăn, phức tạp.
Chính vì vậy nên khi tổ chức thực hiện một hợp đồng nhập khẩu đểi hỏi doanh nghiệp phải có một quy trình nhất định, rõ ràng. Chính điều này giúp cho doanh nghiệp tránh được các rủi ro không đáng có. Sau đây là quy trình tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu nguyên vật liệu thường được các doanh nghiệp kinh doanh XNK sử dụng để tiến hành hoạt động kinh doanh nhập khẩu của mình. Xin giấy phép nhập khẩu (nếu có) Làm thủ tục mở L/C (nếu thanh toán bằng I,/C) Người mua đôn đốc người hán giao hàng Thuê phương tiện vận tải Mua bảo hiểm Làm thủ tục thanh toán Làm thủ tục hải quan Nhận hàng nhập khẩu Kiểm tra hàng hoá nhập khẩu Giải quyết các tranh chấp, khiếu nại (nếu có) Hình 1.1: Quy trình tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu nguyên vật liệu (Nguồn: tổng hợp từ bài viết “Cơ sở lý luận về hoạt động kinh doanh nhập khẩu và hiệu quả kinh doanh nhập khẩu hàng hóa tại doanh nghiệp” và “Xuất nhập khẩu và vai trò trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá” tại https://voer.vn) Bước 1: Xin giấy phép nhập khẩu.
Giấy phép nhập khẩu là một biện pháp quan trọng để nhà nước quản lý hoạt động nhập khẩu. Vì thế khi ký kết hợp đồng nhập khẩu doanh nghiệp phải xin giấy phép nhập khẩu để thực hiện hợp đồng đó. Theo nghị định số 12/2006/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/05/2006 quy định thương nhân là doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế được thành lập theo quy định của pháp luật được phép XNK hàng hoá theo những ngành nghề đã đăng ký theo giấy chứng nhận kinh doanh. Như vậy thì tất cá các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân đều được phép tiến hành nhập khẩu hàng hoá theo ngành nghề đã đăng ký và doanh nghiệp chỉ cần đăng ký mã số kinh doanh XNK của mình với hải quan địa bàn mình có trụ sở chính.
Tuy nhiên thì đối với những mặt hàng thuộc danh mục hàng hoá cấm nhập khẩu, nhập khẩu có điều kiện hay tạm ngừng nhập khẩu thì doanh nghiệp cẩn phải xin giấy phép nhập khẩu. Để xin giấy phép nhập khẩu, doanh nghiệp phải xuất trình hồ sơ xin giấy phép bao gồm: ♦ Hợp đồng nhập khẩu. ♦ Phiếu hạn ngạch (nếu hàng thuộc diện quản lý bằng hạn ngạch). ♦ Hợp đồng uỷ thác nhập khẩu (nếu đó là trường hợp nhập khẩu ủy thác).
♦ Việc cấp giấy phép nhập khẩu được phân công như sau: ♦ Bộ Thương Mại (các phòng câp giấy phép) cấp những giấy phép nhập khẩu hàng mậu dịch nếu hàng đó thuộc danh mục quản lý của nhà nước. ♦ Tổng cục hải quan cấp giấy phép nhập khẩu hàng phi mậu dịch (hàng mẫu, quà biếu, hàng triển lãm). Mỗi giấy phép chỉ cấp cho một chủ hàng kinh doanh đổ nhập khẩu một hoặc một số mặt hàng với một số nước nhất định, chuyển chở bằng một phương thức vận tải và giao nhận tại một cửa khẩu nhất định. Thư tín dụng (Letter of credit - L/C) là một văn bản pháp lý trong đó ngân hàng mở L/C cam kết tra tiền cho người xuất khẩu nếu họ xuất trình đầy đủ bộ chứng từ thanh toán hợp lệ và phải hợp với nội dung của L/C.