chương 1: Trong nền kinh tế thị trường, để tồn tại và phát triển các nhà quản trị doanh nghiệp không chỉ với những kỹ năng và kinh nghiệm tích lũy trong quá trình kinh doanh là chưa đủ, mà đòi hỏi các nhà quản trị phải có một tầm nhìn dài hạn và một chiến lược kinh doanh hiệu quả mang tính quyết định thì mới tạo dựng thành công cho doanh nghiệp. Chiến lược kinh doanh tốt, phù hợp trong từng giai đoạn phát triển nằm ở khả năng tác dụng tốt cho các cơ hội và giảm thiểu tối đa cái giá phải trả để vượt những thách thức nhằm đạt được các mục tiêu mà doanh nghiệp muốn hướng đến. Để có những chiến lược kinh doanh đó, nhất thiết chúng phải được xây dựng tạo nên việc phân tích và xem xét thấu đáo các yếu tố môi trường tác động và hoàn cảnh còn lại của doanh nghiệp cũng như các kỹ thuật phân tích EFE, IFE, SWOT, QSPM và ma trận với sứ mạng và mục tiêu của doanh nghiệp. 20 Trong phạm vi của chương này, bài báo cáo đã giới thiệu một số vấn đề lý luận cơ bản cho chiến lược kinh doanh và quá trình hình thành chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong các chương kế tiếp, bài báo cáo sẽ đi sâu vào việc vận dụng lý luận để trình bày, xây dựng chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp đến năm 2015. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC. Khái niệm và vai trò của quản trị chiến lược. Khái niệm và các sư tổ với trường phái chiến lược.
Chiến lược: Khái niệm chiến lược có từ thời ky nạp cổ đại. thuật ngữ này vốn có nguồn gốc sâu sa từ quân sự, xuất phát từ “stratagos” nghĩa là vai trò của vị tướng trong quân đội. Chiến lược quân sự hướng tới việc tạo ra sự phù hợp có lợi giữa các sức mạnh bên trong của lực lượng quân sự với chiến trường, nới diễn ra trận đánh. Chiến lược là định hướng và phạm vi của một tổ chức trong dài hạn, nhằm đạt được lợi thế cho tổ chức thông qua cấu hình trong nguồn lực của nó trong bối cảnh của môi trường thay đổi, để đáp ứng nhu cầu của thị trường và thỏa mãn kỳ vọng của các bên hữu quan.
Bản chất của chiến lược kinh doanh: là bản phác thảo hình ảnh tương lai của doanh nghiệp trong lĩnh vực hoạt động. Có 3 cấp chiến lược: - Chiến lược cấp công ty: bàn đến mục đích chung và phạm vi của tổ chức. - Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh: chủ yếu quan tâm đến các cách thức cạnh tranh trên một thị trường cụ thể. 21 - Chiến lược chức năng: chuyển dịch chiến lược công ty và chiến lược cấp đơn vị kinh doanh tới các bộ phận của tổ chức trên các phương diện nguồn lực, các quá trình, con người và kỹ năng của họ.
Quản trị chiến lược: - Là tổng hợp các hoạt động hoạch định, tổ chức thực hiện và kiểm tra, điều chỉnh chiến lược kinh doanh diễn ra lặp đi lặp lại theo hoặc không theo chu kỳ thời gian nhằm đảm bảo rằng doanh nghiệp luôn tận dụng được mọi cơ hội, thời cơ cũng như hạn chế hoặc xóa bỏ được các đe dọa, cạm bẫy trên con đường thực hiện các mục tiêu của mình. - Là quá trình nghiên cứu các môi trường hiện tại, tương lai, hoạch định các mục tiêu của tổ chức. Đề ra, thực hiện, và kiểm tra việc thực hiện các quyết định nhằm đạt mục tiêu trong môi trường hiện tại và tương lai. Hình thành được chiến lược kinh doanh là lợi thế cạnh tranh.
Chiến lược kinh doanh là sản phẩm của sự sáng tạo phức tạp. Chiến lược kinh doanh là sự kết hợp hài hòa của R1: Ripeness (chọn đúng điểm dừng), R2: Reality (khae năng thực thi chiến lược), R3: Resources (khai thác tiềm năng). Mục đích của chiến lược là tìm kiếm cơ hội. Chu kỳ khép kín của chiến lược: Hình thành, phân tích và chọn lựa.
Kiểm tra và thích nghi chiến lược. Triển khai chiến lược. Hình thái chiến lược: Các điểm mạnh, yếu của công ty. Cơ hội và đe dọa của môi trường.
o Các giá trị cá nhân của nhà quản trị. o Các mong đợi xã hội. Các sư tổ với trường phái chiến lược. Trên thực tế có rất nhiều quan điểm khác nhau về chiến lược.
Tùy theo mục đích nghiên cứu khác nhau và vào từng thời kỳ phát triển khác nhau mà các nhà kinh tế có các quan niệm khác nhau về chiến lược. - Theo General Aillenret, chiến lược là “việc xác định những con đường và những phương tiện vận dụng để đạt được tới các mục tiêu đã được xác định thông qua các chính sách”.Gouillart lại cho rằng chiến lược của các nhà doanh nghiệp là “ toàn bộ các quyết định nhằm vào việc chiếm được các vị trí quan trọng, phòng thủ và tạo các kết quả khai thác và sử dụng được”.Hissh thì “ chiến lược là nghệ thuật phối hợp các hành động và điều khiển chúng nhằm đạt tới các mục tiêu dài hạn”. Vai trò của quản trị chiến lược. Trong điều kiện biến động của thị trường biến động hiện nay hơn bao giờ hết chỉ có một điều mà các doanh nghiệp có thể biết chắc chắn đó là sự thay đổi.
Quản trị chiến lược như một hướng đi, một hướng đi như giúp các tổ chức này vượt qua sóng gió trong thương trường, vươn tới tương lai bằng chính nỗ lực và khả năng của chúng. Quản trị chiến lược được xây dựng nhằm mục tiêu giúp doanh nghiệp tập trung thích ứng một cách tốt nhất đối với những thay đổi dài hạn. - Cho thấy rõ mục đích, hướng đi của doanh nghiệp. - Quan tâm to lớn tới các nhân vật hữu quan.
23 - Các điều kiện môi trường luôn biến đổi. - Gắn với sự phát triển ngắn hạn trong bối cảnh dài hạn. - Hòa nhập quyết định với môi trường. - Đạt mục tiêu với hiệu quả cao hơn (hiệu suất và hiệu quả).
- Mất nhiều thời gian và nỗ lực càng có kinh nghiệm thì càng giảm. - Thường cứng nhắc khi đã thành văn bản không gì hơn đây là sai lầm vì sự biến đổi, mục tiêu mới, thông tin bổ xung. - Giới hạn sai xót trong dự báo dài hạng thường lớn, một trong những hạn chế là phải nhìn đa chiều. - Dễ bị lạm dụng quá kế hoạch hóa, thực hiện dễ bị bỏ ngõ.
Một số khái niệm khác. - Tầm nhìn (vision): thể hiện các mong muốn, khát vọng cao nhất, khái quát nhất mà tổ chức muốn đạt được. - Sứ mạng (Mission): là một tuyên bố có giá trị lâu dài về mục đích, nó giúp phân biệt công ty này với công ty khác, thể hiện những triết lý kinh doanh, nguyên tắc kinh doanh, niềm tin của công ty. - Mục tiêu ( Objective): là những thành quả xác định mà một tổ chức tìm cách đạt được khi theo đuổi sứ mạng của mình.
Các giai đoạn quản trị chiến lược. Giai đoạn 1: Hình thành chiến lược. Ở giai đoạn này các nhà quản trị sử dụng các phương pháp, công cụ, phương tiện thích hợp nhằm hoạch định bản chiến lược cho thời kỳ chiến lược cụ thể. Nội dung chủ yếu của giai đoạn này là nghiên cứu các nhân tố bên ngoài, bên trong doanh nghiệp để xác định mặt yếu, mặt mạnh, thời cơ cũng như thử thách, hợp nhất phấn tích tổng hợp bằng công cụ thích hợp, xác định mục tiêu, lựa chọn và quyết định chiến lược.
Giai đoạn 2: Thực thi chiến lược. Các nội dung chủ yếu ở giai đoạn này là soát xét lại tổ chức, đề xuất các chính sách cho quá trình thực hiện chiến lược. Thiết lập mục tiêu và giải pháp trung hạn, hằng năm và các kế hoạch ngắn hạn hơn. Phân phối các nguồn lực tài nguyên theo các kế hoạch đã xây dựng.
Giai đoạn 3: Đánh giá, điều chỉnh chiến lược. Giai đoạn này chủ yếu xem xét, đánh giá các yếu tố bên ngoài, bên trong doanh nghiệp. Đo lường, đánh giá kết quả, so sánh chúng với các tiêu chuẩn “giới hạn” và thực hiện điều chỉnh mục tiêu, chính sách và giải pháp cho phù hợp với những biểu hiện mới của môi trường kinh doanh. Mô hình ba giai đoạn quản trị chiến lược.
Hình Nghiên cứu các Xác định mục tiêu thành nhân tố bên ngoài, Hợp nhất phân lựa chọn và quyết chiến bên trong, mặt mạnh, tích tổng hợp. định chiến lược. yếu, thời cơ, nguy cơ. Soát xét lại tổ chức, Thiết lập mục Phân phối các Thực đề xuất các chính tiêu và giải pháp nguồn lực tài thi sách cho quá trình trung hạn nguyên theo chiến thực hiện chiến lược.
hàng năm các kế hoạch lược. Đánh Xem xét đánh giá Đo lường đánh Thực hiện việc giá, các yếu tố giá kết quả, điều chỉnh mục điều bên ngoài, bên trong so sánh với tiêu, chính sách, chỉnh doanh nghiệp. Môi trường hoạt động của doanh nghiệp. Mục tiêu của việc đánh giá bên ngoài là đề ra danh sách tóm gọn những cơ hội từ môi trường mà doanh nghiệp nên nắm bắt, đồng thời là những nguy cơ cũng từ môi trường đem lại, có thể gây ra những thách thức cho doanh nghiệp mà có cần phải tránh.
26 Môi trường bên ngoài của doanh nghiệp bao gồm môi trường vĩ mô và môi trường vi mô (môi trường ngành). Môi trường vĩ mô. Phân tích môi trường vĩ mô cho ta câu trả lời cục bộ cho câu hỏi: công ty đang phải đối phó với cái gì? Có 5 yếu tố thuộc môi trường vĩ mô mà công ty phải đối phó: yếu tố tự nhiên, yếu tố xã hội, yếu tố kinh tế, yếu tố chính trị - pháp luật, yếu tố kỹ thuật – công nghệ. Các yếu tố này tác động đến tổ chức một cách độc lập hay kết hợp với các yếu tố khác.
Các yếu tố kinh tế: Kinh tế thế giới phục hồi và phát triển cùng với xu hướng toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, tạo ra nhiều nhân tố mới cho sự phát triển và hợp tác toàn diện khu vực châu Á, đặc biệt là sự lớn mạnh của nền kinh tế Trung Quốc, sự khôi phục và phát triển của nền kinh tế Nhật Bản, Hàn Quốc và các quốc gia Đông Nam Á đã từng bước nâng cao vai trò, vị trí của mình trên trường quốc tế. Cùng với quá trình đổi mới và phát triển kinh tế đất nước là tiến trình hội nhập nền kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế thế giới diễn ra ngày càng sâu rộng.