chương 1.1, Con người và cuộc sống 1. Quan niệm van chương 2. Chủ nghĩa nhân đạo và những trang viết của Thạch Lam Chương II: Hình tượng người phụ nữ qua các trang viết của Thạch Lam SVTH: Lương Thị Thảo Trang 6 Luận văn tốt nghiệp GVHD: Ths. Trần Văn Châu L — Sự quan sát tỉnh tế 1.
Góc nhìn đạo đức 1. Người thiếu nữ đức hạnh I. Người phụ nữ tảo tần hy sinh I. Những con người sa ngã mà vẫn hướng thiện 'L+ QGóc nhìn xã hội 2.
Những mảnh đời cay cực 2. Nỗi khổ “mẹ chồng nàng dâu” 2. Những con người an phận nhẫn nại 3. Vài đặc điểm tâm lý của người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến 3.
Vài đặc điểm tâm lý của người phụ nữ hiện dai 3. Người phụ nữ trong văn Thạch Lam _ cẩu nối giữa truyền thống và hiện đại (ở vài khía cạnh tâm lí) tỊ Vư đồng cắm trân trọng sâu sắc I. Đồng hành và chia sẻ cùng nhân vật 2. Tìm kiếm và nâng niu vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ Chương 111: Thếgiới trẻ thơ trong văn Thạch Lam L Thế giới trẻ thơ trong mat Thạch Lam |.
Số phận trẻ thơ 2. Tinh thương trong “gió lạnh. Tâm hồn nhạy cảm 7Ä È Ấm áp tình người 3. Khát vọng trẻ thơ _ khát vọng của một kiếp người No Mét cái nhìn win mến SVTH: Lung Thi Thao Trang 7 I.uân văn tốt nghiệp GVHD: Ths.
Trần Văn Châu Chương IV: Chủ nghĩa nhân đạo và phong cách nghệ thuật Thạch Lam L Nghệ thuật xây dựng nhân vật 1, Thế giới nhân vật gần gũi quanh ta 2. Nhân vật mang chất tự truyện H. Nghệ thuật trần thuật 1, Bút pháp miêu tả tâm lý đặc sắc 2. Giọng trần thuật khách quan mà không lạnh lùng 3.
Ngôn ngữ giản dị, giàu chất trữ tình 4. Những kết thúc giàu sức gợi PHAN KẾT LUẬN SVTH: Lương Thị Thảo Trang 8 Luận văn tốt nghiệp GVHD: Ths. Trần Văn Châu Chuomgt: | KHÁI QUÁT VỀ CHỦ NGHĨA NHÂN ĐẠO TRONG SÁNG TÁC CUA THACH LAM. Có thể nói, dù ở hình thức nào, tác phẩm văn học cũng luôn hướng tới cái đích cuối cùng là con người.
“Van học là nhân học” (Macxim Gorki). Vì vậy, chủ nghĩa nhân đạo đã trở thành một nội dung lớn, một để tài lớn trong văn học từ xưa đến nay. Về khái niệm “chủ nghĩa nhân đạo”, Từ điển Tiếng Việt _ viện ngôn ngữ học _ NXB Đà Nẵng _ 2002 cho rằng: “Chủ nghĩa nhân đạo là hệ thống quan tiệm con trong nhân phẩm, yêu thương con người, coi trọng quyền của con người được phát triển tự do, coi lợi ích của con người là tiêu chuẩn đánh giá các quan hệ xã hội ", Từ điển thuật ngữ văn học _ Lê Bá Hán (chủ biên) _ NXB Đại học quốc gia Hà Nội _ 1999 đồng nhất chủ nghĩa nhân đạo với chủ nghĩa nhân văn "Ở cấp độ thế giới quan, chủ nghĩa nhân văn (chủ nghĩa nhân đạo) là toàn bộ tư tưởng, tình cảm, quan điểm quý trọng các giá trị người như trí tuệ, tình cảm, phẩm giá, xức mạnh. Chủ nghĩa nhân văn (chủ nghĩa nhân đạo) không phải là một khái niệm đạo đức đơn thuần, mà còn bao hàm cả cách nhìn nhận, đánh giá con người về nhiều mặt (vị trí, vai trò, khả năng, bản chất .) trong các quan hệ với tự nhiên.
Vẻ cử bản, hai cách định nghĩa này có nhiều điểm tương đồng. Như vậy, có thể hiểu chủ nghĩa nhân đạo chính là hệ thống những quan điểm, tư tưởng coi SVTH: Lương Thị Thao Trang 9 Luận văn tốt nghiệ GVHD: Ths. Trần Văn Châu trọng con người về nhiều mặt, để cao lợi ích con người, và còn là một tiêu chí đánh giá con người trong mối quan hệ với tự nhiên và xã hội. Tuy nhiên, nội hàm của khái niệm chủ nghĩa nhân đạo không phải bất biến.
Phần cốt lỗi của nó vẫn giữ nguyên nhưng qua từng thời kỳ, từng giai đoạn có những ý nghĩa được điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp. & i nghĩ n daolà sơichi đỏ x vi Việ Ề Văn hoe Việt Nam chia ra làm nhiều thời kỳ: văn học dân gian, văn học trung đại, văn học hiện đại tương ứng với những thời kỳ lịch sử khác nhau. Mỗi thời kỳ mang một đặc trưng riêng. Vì thế, chủ nghĩa nhân đạo tương ứng trong từng thời kỳ văn học khác nhau cũng có những đặc thù néng.
Hình thành từ những ngày đất nước mới khai thiênÈ lập địa, đất đai còn hoang hoá, con người còn mông muội lạc hậu kéo dài theo suốt chiểu dài lịch sử đất nước, văn học dân gian với các thể loại như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, tục ngữ, ca dao, dân ca,. đã toát lên một nội dung nhân đạo đó là: lòng yêu thương con người, bảo vệ người tốt trước kẻ ác, bảo vệ con người trước thiên nhiên hung hãn, ca ngợi vẻ đẹp con người trong chỉnh phục thiên nhiên, trong lao đông, trong những cuộc chiến đấu chống kẻ thù xâm lược. Còn đó những vị thần di hon Lip biện, những ông byt bà tiên với bàn tay nhân ái, những cố Tấm, nang Ut thảo hiển, những người nông dân cần cù, một nắng hai sương, những cô gái, chàng trai nông thôn chân chất lao động nhiệt tình, những người anh hùng dân tộc mưu trí, ding liệt,. Đến thời kỳ văn học trung đaj, chủ nghĩa nhân đạo vẫn kế thừa những nét cứ ban trong nội hàm của chủ nghĩa nhân đạo thời kỳ trước song cũng có nhiều thay đổi đáng kể do hoàn cảnh lịch sử chí phối.
Cả nước đặt dưới sự thống trị của chế độ phong kiến, chia làm hai giải đoạn rất rõ nét: giai đoạn chế độ phong kiến đạt đến sự hoàng kim, cực thịnh và giai đoạn chế độ phong kiến suy tan mục ruỗng. Vấn để đặt ra cho toàn dân tộc là vận mệnh dân tộc và vận mệnh nhân xì 1/1: Lương thi Thao Trang 10 Luận văn tốt nghiệp GVHD: Ths. Trần Văn Châu dun (chong ngoại xâm và chống phong kiến suy tần lun bại, chà đạp lên quyền sống nhân dân). Chủ nghĩa nhân đạo trong văn học thời kỳ này vừa gắn lién với chủ nghĩa yêu nước vừa luôn quan tâm đến số phận con người trong xã hội áp bức "những nguyện vọng giải phóng, những đòi hỏi về quyển được sống như một con người trong chừng mực nhất định đã hoà quyện nhau lại thành một trào lưu nhân văn nhân đạo chủ nghĩa thấm nhuần trong văn học, từ Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm.
Hoa tiên, Bích cầu kì ngộ đến Truyện Kiểu, thơ văn Phạm Thái, Hồ Xuân Hướng, song song với một loạt truyện thơ dân gian” °_ Bước sang thời kì mới, hoàn cảnh đất nước đổi thay, thực dân Pháp, đế, quốc Mĩ xâm lược, chế độ phong kiến lụi tàn bộc lộ nhiều ung nhọt, chủ nghĩa nhận dạo thời kì này nổi bật lên với ý nghĩa: dita con người thoát khỏi đói nghèo, dốt nát, thoát khỏi sự thống trị của bọn thực dân xâm lược, giải phóng con người khỏi sự deo bám nặng né của những hủ tục lạc hậu, những 1é lối khất khe của chế độ phong kiến. Đặc biệt, vấn dé cái “tôi” cá nhân với những nhu cẩu chính đáng của con người cũng được đưa vào nội hàm của chủ nghĩa nhân đạo. Có thể nhận thấy tất cả những diéu này qua thơ văn kháng chiến, văn xuôi lãng man và hiện thực trước và sau Cách mạng tháng Tám (Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, các nhà văn trong nhóm Tự lực văn đoàn), phong trào thơ mới. Đồng thời, chủ nghĩa nhân đạo còn được thể hiện bằng tiếng nói ngợi ca con ñgười trong công cuộc lao đông, xây dựng cuộc sống mới.
Ngoài ra, trong dì ky meh, nhan cách con người cũng bị dat trước nhiều thử thách. Cho nên, vấn để giữ gìn phẩm giá, nhân cách, thiên lương con người cũng được bổ sung thêm vào nội hàm của chủ nghĩa nhân đạo trong thời kỳ nay. (1) Giáo trình vân học trung đại Việt Nam. Lê Trí Viễn (cb), ĐHSPTPHCM,tưang 14.
SVTH: Lương Thị Thảo Trang 11 Luận văn tốt nghiệp GVHD: Ths. Chủ nghĩa nhân đạo trong văn học giai đoan 1930-1945 Những năm 1930 _ 1945 là thời kì đấu tranh hết sức quyết liệt của phong trào cách mạng nước ta, Thực dân Pháp ngày càng bộc lộ rõ bộ mặt thâm hiểm, xấu xa, dan áp, bóc lôt nhân dân hết sức dã man. Cũng trong thời kỳ này, Dang Củng Sun Việt Nam đã ra đời, lãnh đạo nhân dân không ngừng đấu tranh cách mang. Phong trào công nhân, phong trào yêu nước bùng lền như bão tap quật vào mặt kẻ thù.
Tinh than yêu nước sục sôi ấy đã lan tod thấm sâu vào trong văn học. Giai đoạn 1930-1945 cũng là một giai đoạn mà văn học nở rộ với nhiều tác giả tiêu biểu như: Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Thạch Lam, Nam Cao, Nguyễn Tuân. Văn học thời kì này thấm đượm tỉnh thần nhân đạo. Qua những trang văn nóng bỏng, sục sôi sự căm giận, bất bình, phẫn uất pha lẫn những cay đắng, chua chát của Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao.
tiếng nói đấu tranh giải phóng con người thoát khỏi những áp bức, bóc lột, bất công ‹an# lén mạnh mẽ. Lên án bộ mặt xấu xa của xã hội thực dan phong kiến, các nhà văn bày tỏ những nguyện vọng thiết tha vé quyển sống cho con người, nhất là những người dân khổ cực, lầm than. Họ nhất định phải được giải phóng khỏi sự deo bám của nạn đói nghèo, sự chà đạp, vây him, chèn ép của các thế lực thống trị. Đó là một nội dung nhân đạo lớn được thể hiện qua nhiều tác phẩm văn học thời kì này.
Bên cạnh sự đấu tranh cho quần chúng nhân dân, chính các nhà văn cũng thể hiện sự ý thức cá nhân sâu sắc. Thông qua các tác phẩm của mình, họ đật ra một vấn để hết sức mới mẻ: đó là vấn để giải phóng cái “tôi” cá nhân. Đã từ lâu, cái “tôi” ở mỗi cá nhân như bị khuất lấp dưới bóng rợp của cái “ta” chung của toàn đân tộc. Lợi ích của dân tộc cũng là lợi ích của cá nhân.
Trong văn chương. nhà thơ chỉ bộc lộ những tình cảm cá nhân một cách dé dat, hi he oe những dạng thức tỉnh cảm chung của muôn người, của toàn dân tộc, Đến thời kì này, văn học công khai và mạnh mẽ lên tiếng đấu tranh giải phóng SVTH: Lương Thị Thảo Trang 12 Luận văn tốt nghiệp GVHD: Ths. Trần Văn Châu cái "tôi", kêu gọi phát huy ý thức cá nhân ở mỗi người.