ĐẶT VẤN ĐỀ Nói đến hoa là nói đến sự kết tỉnh của cái mỹ và cái thiện, và là quà tặng vô giá mà thiên nhiên ban tặng cho con người. Con người ở mọi lứa tuổi, mọi châu lục và không phân biệt đẳng cấp sang hèn đều thích và yêu quý hoa. Như thế trong một chừng mực nào đó có thể nói hoa là ngôn ngữ chung của loài người (Ngô Quang Đê -Tản mạn vẻ hoa và thưởng thức hoa). Cùng với cây xanh, hoa được trồng ở vườn nhà, hoa được trồng trong làng bản, hoa được trồng ở công sở, ở công viên và trên các đường phố.
thể nói hoa luôn được thiên nhiên phô diễn và con người gây trồng khấp mọi nơi. Hoa cần thiết cho con người, tuy không bằng cây lương thực, thực phẩm hay cây dược liệu khác nhưng nó gân gũi với con người hơn tất cả. phân tô điểm cho đời bởi tự nó có muôn vàn màu sắc, có hương thơm ngào. ngạt làm ngây ngất hồn người, nó còn ấp ù một linh hôn riêng, đây sức giao cảm và quyến rũ.
Người ta chơi hoa không chỉ là thú vui mà chơi hoa để được xích lại gần hơn với thiên nhiên tươi đẹp và để hướng vẻ cái thiện và cái mỹ. Đặc biệt trong nhữ/¡g năm gân đây, đất nước đang trên đà đổi mới đi lên. Đời sống nhân dân cũng ngày một cải thiện. Và nghề trồng hoa nhờ đó phát triển không ngừng.
Điều đáng nói ở đây là mặc dù hoa đã được cơn người gây trồng từ lâu. Tại nhiều địa phương việc gây trồng đã trở thành một nghề truyền thống, nhưng có thể néi các kỹ thuật trồng hoa cụ thể cho từng loài hoa thi vẫn chưa được nghiên cứu và tổng kết một cách đây đủ. Việc trồng hoa đôi khi chỉ được tiến hành theo những kinh nghiệm cảm tính hay tự phát. Chính vì lẽ đó mà nhiễu lúc nhiễu nơi người ta vẫn không khỏi lúng túng khi muốn gây trông hay tìm hiểu về các loài hoa.NĐTVLuận văn tốt nghiệp (1995-1999) 'Từ thực tế đó , việc nghiên cứu tổng kết các kinh nghiệm thực tiễn trong.
nghề trông hoa đã trở nên một vấn để cấp thiết và chắc chắn sẽ góp phân đáp ứng sự mong mỏi của các bạn yêu thích hoa. Đó cũng chính là nội dung bao quát nhất của bản luận văn: “Tổng kết kinh nghiệm gieo trồng một số loài cây hoa cảnh tại khu vực thành phố Vĩnh, tỉnh Nghệ An”. Để tài này được thực hiện trong sự cố gắng nỗ lực của bản thân dưới sự "phân công và giúp đỡ của khoa Lâm sinh học trường Đại học Lâm Nghiệt Tuy nhiên đây là vấn đề còn khá mới mẻ và phức tạp. Thành phố Vinh lại là một địa phương nằm trong vùng khí hậu miễn trung khắc nghiệt, nghề trồng, hoa chưa thực sự phát triển ở đây.
Mặt khác, dù sao đây cũng chỉ là bước tập dượt đâu tiên của sinh viên trong công tác nghiên cứu, để tài còn bị hạn chế nhiêu mặt cả về chủ quan lẫn khách quan: thời gian, khu vực nghiên cứu. Hơn nữa do nhu câu về hoa ngày càng cao nên việc trồng hoa cũng gân như chạy theo mốt, vì vậy nội dung nghiên cứu của để tài này chỉ được giới hạn trong khuôn khổ năm loài hoa: Hồng, Cúc, Lay Ơn, Thược Dược, Phăng mà hiện nay đang được ưa chuộng và trồng khá phổ biến ở khắp nơi. Và với những khó khăn đó, để tài này chắc chắn cũng không thể tránh khỏi thiếu sói. "Tác giả rất vui lòng đón nhân những ý kiến đóng góp phê tình cho bản luận văn nầy.uận văn tất nghiệp (1995-1999) Phân 2 LƯỢC SỬ NGHIÊN CỨU ` Hồng, Cúc, Lay Ơn, Thược Dược, Phăng là những loài hoa được trồng từ lâu ở khu vực thành phố Vinh.
Nước ta đã có các làng chuyên trông hoa từ hàng trăm năm nay, nhưng mỗi loài lại có một lịch sử khác nhau. Theo một số tài liệu thì : 1. Hoa Héng (Rosa sp.) “Thuộc họ hoa Hồng (Rosaceae): Nó có nguồn gốc từ vùng ôn đới và á nhiệt đới Bắc bán cầu. Hoa Hồng đã xuất hiện trên trái đất có thể tới hàng chục triệu năm, thực sự đã được nuôi trồng từ vài ngần năm trước và mới nhân giống lai tạo được vài trăm năm.
Người ta cho rằng chắc chấn hoa Hồng được. trồng trước tiên ở Trung Quốc, Ấn Độ. Sau đó mới du nhập qua Hà Lan, Pháp, Đức, Bungary và ở các nước Châu Âu khác. Nhưng chính người Châu Âu mới là người có công lai tạo ra nhiều giống hoa Hồng hiện đại ngày nay.
Có rất nhiều sách nói vẻ Hoàng hậu Josephine Bonaparte là người có công chọn giống đâu tiên để lai tạo loài hoa này ở trại Chateau de Malmaison. Chính ông Dupont là người quản lí trại đã cho lai tạo được 110 giống Hồng, coi như là một công trình vĩ đại ở Châu Âu. Theo tài liệu “Hoa và cây cảnh” của Nguyễn Xuân Linh thì các giống Hồng được nhập vào Việt Nam theo hai nguồn: từ các nước Châu Âu vào Đà Lạt rồi phổ biến ở các tinh miém Nam và ra miễn Bắc hoặc từ Thái Lan vào miễn Nam rồi lan ra ngoài miền Bắc. Ở Việt Nam hoa Hồng được trồng khắp mọi nơi từ Bắc vào Nam.
DIILWALSHNLNDTLudn văn tối nghiệp (1995-1909) Thuộc họ Cúc (Comiposiieae). Nó có nguồn gốc từ Trung Quốc, Nhật Bản và một số nước Châu Âu. Đây là một loài hoa đã được trồng ở Việt Nam từ lâu đời và khi nói đến hoa người Việt Nam không thể không nói đến hoa Cúc - một trong bốn cây tượng trưng cho người quân tử, tượng trưng cho bốn mùa (tứ quý): *Xuân Lan thu Cúc đông Đào. Ha chen hoa Lut Mai vào gió đông” Từ trước đến nay cây hoa Cúc luôn được đánh giá là một loại hoa có giá trị kinh tế cũng như xuất khẩu cao.
Nhu cầu vẻ hoa lúc nào cũng rất lớn trên thị trường trong nước và ngoài nước. Với tu thế đó cây hoa Cúc hiện nay đang. là cây được các nhà trồng hoa trong nước, cũng như một số lớn công ty tư nhân nước ngoài như Nhật Bản, Thái Lan, Hà Lan đâu tư và phát triển. Hiện nay Cúc được trồng phổ biến khắp nước ta, nó có mặt & moi noi tir vùng núi cao cho đến đồng bằng, từ nông thôn cho đến thành thị.
Vùng sản xuất chính là ở Đà Lạt, Hà Nội, Hải Phòng, Châu đốc, Gò vấp. Riêng Đà Lạt là nơi lí tưởng cho việc sinh tưởng và phát triển của hâu hết các giống Cúc được nhập từ nước ngoài vào. Thuộc họ Lay Ơn (Irdaceae): có nhiêu tài liệu cho rằng, cây hoa Lay Ơn có nguồn gốc từ đông nam Châu Phi, rồi người Âu đem về trồngở Châu Âu. Hoa Lay Ơn được trồng khắp trên thế giới, trừ các cực bán cấu và những nơi có khí hậu quá nóng khô và quá lạnh (có băng tuyết quanh năm).
Ở Việt Nam hoa Lay Ơn được trồng từ lâu đời. Hoa Lay Ơn được sản xuất tập. trung ở Đà Lạt, Sapa, các vùng núi cao, có khí hậu mát mẻ. Ở đồng bằng hoa Lay Ơn được trồng nhiều ở vụ đông xuân.
"ĐIILNNSIN,NĐTVLuận văn tối nghiệp (1995-1999) 4. Thược Dược (Dallia Pinnata Cay). Ho etic: Compositae. Thuge Duge có nguồn gốc từ Mêhicô, nhập vào Tây ban Nha năm 1789, qua Pháp rồi vào Việt Nam.
Tên địa phương là Chỉchipathi hay Acocothi. Cây Acocothi thì không đẹp, qua gần 300 năm chọn lọc và bồi dục nó mới được như ngày nay. Cay hoa Phing (Cm Chuéng thom - Dianthus caryophyllus L.) Thuộc họ Cim Chuéng (Caryophyllaceae). Phăng có nguồn gốc từ vùng Địa Trung Hải, nhập vào Pháp từ thế kỉ XIL (theo Rossore, tác giả cuốn Cultures, floralesỳ được các nhà trồng hoa ở Pháp cải tiến và phát triển.
Từ pháp nhập vào Việt Nam tir dau thé ki XX. DILNSINLNDT\Ludn an 168 nghitp (1995-1999) Phân 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN-XÃ HỘI KHU VỤC NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên 3.1 Vị trí địa lý Thành phố Vinh thuộc tỉnh Nghệ An nằm ở toạ độ. 18° 40 phút vĩ độ Bắc, 105° 40 phút độ kinh Đông. Phía Nam là dãy núi Hồng Lĩnh và dòng sông Lam bao quanh, phía Tây có dòng sông Đào chạy suốt địa giới thành phố.
Địa hình khu vực thành phố bằng phẳng, độ cao trung bình 4-5 m so với mặt biển. Mặt bằng thành phố đốc đều về hai hướng Đông Bắc và Đông Nam. Vinh thuộc vùng trâm tích đồng bằng hạ lưu Sông Cả. Cấu tạo địa tầng g6m nhiễu lớp cát màu vàng, nâu, xám, đen.
Nước ngầm ở Vinh phụ thuộc vào. Nước ngầm có hai lớp: Lớp trên nằm trong tầng cát không có áp lực ở độ sâu từ 0,5-1,9m. Lớp thứ hai nằm ở tàng cát nhỏ ngăn cách bởi tầng sét pha và thường có độ mặn cao. Khí hậu thuỷ văn Khí hậu thuỷ văn là nhân tố tự nhiên quan trọng trong các nhân tố sinh thái ảnh hưởng tới cây cảnh nói chung và cây hoa cảnh nói riêng.
Chúng không chỉ ảnh hưởng đến sự sinh trưởng phát triển mà còn ảnh hưởng đến sự phát sinh bệnh hại đối với các loài hoa.NĐTNLuận văn tối nghiệp (1995-1999) 'Vinh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa rõ rệt và sự biến động lớn từ mùa này sang mùa khác. Nắng nhiêu, lượng bức xạ lớn. Độ ẩm tương đối cao trung bình từ 81-82% năm. Có tác dụng rõ rệt trong sự phong hoá thổ nhưỡng ở đây.
Lượng mưa bình quân năm khoảng 1467mm phân bố không đều từ tháng 5 đến tháng 11. Mùa mưa thường trùng với mùa bão, mỗi năm khu vực này thường chịu ảnh hưởng từ 3-6 cơn bão. Vì vậy thành phố rất chú ý đến việc trồng cây phòng hộ làm đai chấn gió. Nhiệt độ bình quân hàng năm là 25°C.
Biên độ nhiệt lớn T(max)=31,1°C (tháng 6); T(min)=19,4°C (tháng 12). Đâu mùa hạ từ tháng 4 đến tháng 10 thường xuất hiện gió Tây Nam khô nóng. gay gắt, đây là một đặc điểm ảnh hưởng rất lớn đến việc bảo quản, cất giữ giống, chăm sóc cây hoa cảnh. Thanh phố Vinh có tổng lượng nhiệt giao động 300°-301°.
Sự phân bố ánh sáng đều đặn trong năm trung bình 147 giờ/năm. Tháng lớn nhất là 249h tháng bé nhất là 60h. Tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phát triển của cây trồng, hình thành nên nhiêu tầng tán và đa dạng về chủng loại thực vật. Từ những thuận lợi và khó khăn trên chứng tỏ điều kiện tự nhiên thành phố Vinh không thuận lợi co nhiễu loài hoa sinh sống và phát triển.
Song người dân thành phố đã sớo: thuận hoá được rất nhiều loài hoa góp phân làm phong phú thêm cảnh sắc đô thị.