Luận văn: Tổng quan điều trị cai nghiện cho người tiêm chích ma túy tại Việt Nam

Luận văn tổng quan tài liệu về điều trị cai nghiện cho người tiêm chích ma túy tại Việt Nam. Nghiên cứu, đánh giá các phương pháp, hiệu quả và thách thức.

Chuyên ngành

Y tế công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp
45
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ, KÍ HIỆU VIÉT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIẺU

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

II. Mục tiêu chung

1. Mục tiêu cụ thể

III. Phương pháp tổng quan tài liệu

1. Quy trình tổng quan tài liệu

2. Nguồn tìm kiếm tài liệu

3. Tiêu chuẩn lựa chọn tài liệu

4. Thông số tài liệu tham khảo

5. Một số khái niệm

IV. Tiêm chích ma tuý - thực trạng, nguy cơ và các chương trình can thiệp

1. Tình hình tiêm chích ma túy

2. Các chương trình can thiệp hướng tới đối tượng TCMT hiện nay

V. Các phương pháp điều trị cai nghiện trên thế giói

1. Điều trị cắt cơn nghiện ma túy

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Điều Trị Cai Nghiện Ma Túy Thực Trạng Giải Pháp

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), toàn cầu có khoảng 15.9 triệu người tiêm chích ma túy (TCMT), trong đó 3 triệu người nhiễm HIV. Tại Việt Nam, tỷ lệ nhiễm HIV cao nhất là ở nhóm TCMT (50.6%). Số người nghiện ma túy gia tăng nhanh chóng, trung bình mỗi năm có thêm 4000 người, 86.3% sử dụng bằng đường tiêm chích. Nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS, các vấn đề sức khỏe liên quan đến tiêm chích ma túy như quá liều, nhiễm trùng do lây nhiễm virus (viêm gan C, viêm gan B), các nhiễm khuẩn và biến chứng mạch máu là những hệ lụy nghiêm trọng. Chương trình can thiệp giảm tác hại (GTH) là một giải pháp, với mục tiêu giảm lây nhiễm HIV và giảm tỷ lệ mắc, tử vong liên quan đến sử dụng ma túy bất hợp pháp. Điều trị cai nghiện là một chiến lược quan trọng để ngăn chặn những hậu quả này. Nó giảm số người sử dụng ma túy bất hợp pháp, giảm tỷ lệ mắc và tử vong liên quan, giảm hành vi tội phạm, cải thiện sức khỏe, nâng cao chất lượng cuộc sống. Điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện (CDTP) bằng Methadone là một phần của gói can thiệp GTH cho đối tượng TCMT. Tỷ lệ tái nghiện ở Việt Nam còn cao (80-98%), do các phương pháp chỉ hỗ trợ cắt cơn, chưa hiệu quả trong phòng chống tái nghiện. Vì vậy, việc áp dụng các chương trình điều trị cai nghiện phù hợp là rất cần thiết, đặc biệt là với đối tượng tiêm chích để phòng ngừa HIV/AIDS và các vấn đề sức khỏe liên quan. Bài viết này sẽ tổng quan các chương trình điều trị cai nghiện hiện nay dành cho người nghiện ma túy (đặc biệt là đối tượng TCMT), hiệu quả, khó khăn, thuận lợi, và đề xuất các khuyến nghị phù hợp. Methadone là một trong những phương pháp mới đang được áp dụng thí điểm tại Việt Nam, bắt đầu từ năm 2008.

1.1. Tình hình tiêm chích ma túy và lây nhiễm HIV tại Việt Nam

Tình hình tiêm chích ma túy tại Việt Nam đang diễn biến phức tạp, kéo theo nhiều hệ lụy nghiêm trọng về sức khỏe và an ninh xã hội. Tiêm chích ma túy và việc dùng chung dụng cụ tiêm chích là nguyên nhân chính gây lây nhiễm HIV tại Việt Nam. Theo báo cáo, tỷ lệ nhiễm HIV cao nhất vẫn thuộc về nhóm TCMT với 50.6% vào năm 2009. Tình hình tội phạm ma túy cũng diễn biến phức tạp, với hàng nghìn vụ việc được phát hiện và xử lý mỗi năm. Số người nghiện ma túy có nguy cơ tiếp tục tăng, đặc biệt là trong thanh thiếu niên và lan nhanh về vùng nông thôn đô thị hóa. Số người nghiện ma túy tổng hợp và người nghiện ma túy bị nhiễm HIV/AIDS ngày càng nhiều. Các trung tâm cai nghiện hiện tại không đủ sức chứa cai nghiện tập trung. Đáng lo ngại hơn, người nghiện ma túy chủ yếu là người không có nghề nghiệp và công việc ổn định, sử dụng heroin (96.4%) và chủ yếu bằng hình thức tiêm chích (86.3%).

1.2. Các chương trình can thiệp giảm tác hại GTH cho đối tượng TCMT

Trước tình hình đáng báo động về số lượng người tiêm chích ma túy và sự lây lan dịch HIV, các chương trình can thiệp dành cho đối tượng này trở nên cấp thiết. Chương trình giảm tác hại (GTH) ra đời vào năm 2003, bao gồm các gói dịch vụ dành cho đối tượng nguy cơ cao lây nhiễm HIV như: người TCMT, gái mại dâm, nam quan hệ tình dục đồng giới. Gói dịch vụ can thiệp cho nhóm TCMT bao gồm: chương trình thông tin giáo dục truyền thông (IEC), tư vấn xét nghiệm tự nguyện (VCT), chương trình phân phối bao cao su, trao đổi bơm kim tiêm, và điều trị thay thế bằng methadone. Chương trình bơm kim tiêm và điều trị thay thế tác động trực tiếp làm giảm hành vi tiêm chích và lây nhiễm các bệnh lây truyền qua đường máu thông qua tiêm chích. Methadone là phương pháp điều trị mới, bắt đầu được triển khai thí điểm từ năm 2008.

1.3. Thách thức và sự cần thiết của các chương trình cai nghiện hiệu quả

Sự gia tăng số lượng người nghiện ma túy là một thách thức lớn trong việc mở rộng quy mô các chương trình giảm tác hại. Tỷ lệ tái nghiện trong cộng đồng còn cao (80-98%) cho thấy các chương trình điều trị cai nghiện ở nước ta chưa hiệu quả. Vì vậy, cải thiện chất lượng các chương trình điều trị cai nghiện nói chung và mở rộng điều trị thay thế là biện pháp cần thiết trong công tác phòng chống HIV cho đối tượng TCMT hiện nay. Chương trình cai nghiện hiệu quả là yếu tố then chốt trong việc giảm số lượng người sử dụng ma túy, ngăn chặn lây nhiễm HIV và các bệnh truyền nhiễm khác, giảm thiểu hành vi phạm tội và cải thiện chất lượng cuộc sống của người nghiện ma túy.

II. Các Phương Pháp Điều Trị Cắt Cơn Nghiện Ma Túy So Sánh Ưu Điểm

Điều trị cắt cơn nghiện ma túy là phương pháp nhằm giải quyết các hội chứng cai, kéo dài khoảng 1-2 tuần. Trên thế giới có nhiều phương pháp điều trị, như: cắt ngang, giảm dần, thôi miên, thuốc hướng thần, phẫu thuật thùy trán, choáng điện, liệu pháp tâm lý, dùng thuốc y học cổ truyền. Cắt ngang (cai khô/cai bo) là phương pháp cai nghiện không dùng thuốc, thực hiện bằng cách cô lập bệnh nhân, ngưng hoàn toàn việc sử dụng các chất ma túy. Giảm dần là cai nghiện bằng cách giảm liều ma túy, mỗi ngày giảm một lượng nhỏ trong thời gian 13-30 ngày, đồng thời tăng cường thuốc bổ và thuốc an thần. Dùng thuốc hướng thần là sử dụng các thuốc giải lo âu (Seduxen/Valium/Diazepam), thuốc an thần kinh (Tisercin, Nozinan) và các thuốc chống trầm cảm (Meliplamin, Amitriptylin) cắt cơn trong vòng 7-10 ngày. Thôi miên là cho bệnh nhân giấc ngủ nhân tạo từ 3-7 ngày, nuôi dưỡng bệnh nhân bằng truyền dịch, săn sóc đặc biệt. Choáng điện là dùng dòng điện gây co giật làm mất cơn vật vã. Phẫu thuật thùy trán là phẫu thuật nhằm phá hủy một số điểm ở thùy trán của não liên quan đến sự thèm muốn ma túy. Châm cứu (điện châm, thủy châm, xoa bóp bấm huyệt) là tác động vào các huyệt phù hợp để điều trị cho bệnh nhân. Phương pháp cắt cơn nghiện bằng Catapressan (Clonidine) tác động vào thụ thể a2 làm giảm hám lượng noradrenoline xuống giúp cơ thể trở về trạng thái cân bằng và mất hội chứng cai. Các thuốc y học cổ truyền được áp dụng để giải quyết các triệu chứng của hội chứng cai để cắt cơn nghiện ma túy. Phương pháp khí công đã được Trung Quốc nghiên cứu thực nghiệm vào 2002 trên 86 nam giới và cho kết quả tốt. Liệu pháp tâm lý được sử dụng đơn thuần hay kết hợp với dùng thuốc hướng thần. Nhìn chung, các phương pháp này khá hiệu quả trong điều trị cắt cơn nghiện, tuy nhiên, nó cũng tồn tại nhiều hạn chế, đồng thời không giải quyết được tình trạng lệ thuộc về tâm thần nên tỷ lệ bệnh nhân tái nghiện còn rất cao.

2.1. So sánh các phương pháp cai nghiện cắt cơn truyền thống

Các phương pháp cai nghiện cắt cơn truyền thống như cắt ngang, giảm dần, dùng thuốc hướng thần, thôi miên và choáng điện có ưu điểm là đơn giản, dễ thực hiện và chi phí thấp. Tuy nhiên, chúng cũng có nhiều nhược điểm như gây đau đớn, vật vã cho người bệnh, nhiều tác dụng phụ và không giải quyết được tình trạng lệ thuộc về tâm thần. Cắt ngang (cai khô/cai bo) là phương pháp không dùng thuốc, được thực hiện bằng cách cô lập bệnh nhân và ngưng hoàn toàn việc sử dụng các chất ma túy. Phương pháp này được áp dụng tại Mỹ vào năm 1938 và một số nước châu Á như Indonesia, Malaysia, Brunei cũng đã áp dụng và rất thành công. Tuy nhiên, phương pháp này bị phê bình là thô bạo và ít được sử dụng trên thế giới hiện nay. Giảm dần là cai nghiện bằng cách giảm liều ma túy, mỗi ngày giảm một lượng nhỏ trong thời gian 13-30 ngày. Dùng thuốc hướng thần là sử dụng các thuốc giải lo âu, thuốc an thần kinh và các thuốc chống trầm cảm cắt cơn trong vòng 7-10 ngày.

2.2. Các phương pháp cai nghiện cắt cơn hiện đại Châm cứu và Y học cổ truyền

Châm cứu và sử dụng thuốc y học cổ truyền là các phương pháp cai nghiện cắt cơn không dùng thuốc, có ưu điểm là an toàn, ít tác dụng phụ và có thể áp dụng tại cộng đồng. Châm cứu được sử dụng khá phổ biến ở các nước thuộc khu vực Đông Âu, Trung Đông và Viễn Đông. Ngày nay, các nước khu vực Tây Âu cũng ứng dụng phương pháp này như là một biện pháp bổ sung cho các can thiệp khác. Các thuốc y học cổ truyền được áp dụng để giải quyết các triệu chứng của hội chứng cai để cắt cơn nghiện ma túy theo lý luận của y học cổ truyền Mỗi bài thuốc đều có tác dụng hỗ trợ nhất định đối với từng triệu chứng.

2.3. Hạn chế của điều trị cắt cơn và vai trò của liệu pháp tâm lý

Nhìn chung, các phương pháp điều trị cắt cơn nghiện có thể giúp người nghiện vượt qua giai đoạn cai nghiện ban đầu, nhưng không giải quyết được tình trạng lệ thuộc về tâm thần, dẫn đến tỷ lệ tái nghiện cao. Vì vậy, liệu pháp tâm lý đóng vai trò quan trọng trong việc giúp người nghiện thay đổi nhận thức, hành vi và duy trì kết quả cai nghiện lâu dài. Tại Mỹ, đó là phương pháp cộng đồng trị liệu. Phương pháp này đòi hỏi phải có bác sĩ chuyên khoa tâm thần nắm vững kĩ năng điều trị tâm lý, vì vậy khó thực hiện ở các tuyến cơ sở.

III. Điều Trị Nghiện Ma Túy Mạn Tính Giải Pháp Thay Thế Hiệu Quả

Nghiện ma túy là một bệnh mạn tính. Vì vậy, quá trình điều trị đòi hỏi thời gian tương đối dài, bao gồm tổng thể các biện pháp can thiệp nhằm giúp bệnh nhân chấm dứt việc sử dụng ma túy. Các phương pháp điều trị nghiện mạn tính hiện nay là điều trị thay thế bằng chất dạng thuốc phiện, phương pháp điều trị đối kháng bằng Naltrexone và can thiệp tâm lý xã hội. Điều trị thay thế bằng chất dạng thuốc phiện là việc kết hợp sử dụng thuốc thuộc nhóm có chứa một số chất dạng thuốc phiện được tổng hợp để thay thế cho nghiện các CDTP cùng với các giải pháp tâm lý, xã hội làm cho người nghiện giảm việc sử dụng các CDTP mà không gây nhiễm độc tâm thần, không gây tăng liều và các tác động khác. Điều trị thay thế được coi là giải pháp tình thế nhằm giảm thiệt hại cho bản thân những người NMT, gia đình và xã hội. Phương pháp điều trị thay thế chủ yếu hiện nay trên thế giới là sử dụng Methadone, Buprenorphine, LAAM. Ưu điểm của phương pháp này là có thể điều trị hiệu quả các hội chứng cai và làm giảm thèm muốn sử dụng ma túy tức là điều trị cả trạng thái lệ thuộc về cơ thể và tâm thần. Trong điều kiện chưa có phương pháp điều trị triệt để NMT, điều trị thay thế là phương pháp hiệu quả nhất, nó giúp giảm hoặc ngừng sử dụng ma túy bất hợp pháp, TCMT, nguy cơ lây truyền các bệnh qua đường máu, nguy cơ ngộ độc do sử dụng ma túy quá liều, giảm hoạt động tội phạm, tăng cường sức khỏe thể chất và tâm thần cho bệnh nhân. Hiện nay, điều trị thay thế được kết hợp với các biện pháp hỗ trợ tâm lý xã hội để đạt được hiệu quả cao nhất.

3.1. Điều trị thay thế bằng Methadone Lợi ích và hạn chế

Methadone là một chất đồng vận với các CDTP, tác động chủ yếu trên các thụ thể L1 ở não. Ưu điểm của Methadone là chỉ sử dụng bằng đường uống nên tránh nguy cơ lây lan lây truyền qua đường máu. Điều trị Methadone có giá thành rẻ, phù hợp với đa số bệnh nhân NMT. Tuy nhiên, do thời gian bán hủy ngắn nên bệnh nhân phải đến cơ sở uống thuốc hàng ngày, hơn nữa, bệnh nhân có thể tai biến khi sử dụng quá liều. Buprenorphine là một chất đồng vận với các CDTP được phát minh vào những năm 1960. Ưu điểm của Buprenorphine là thời gian bán hủy dài nên tần suất sử dụng ít hơn, bệnh nhân chỉ phải uống 3 lần/tuần, trong quá trình sử dụng ít gây tác dụng phụ và đặc biệt không gây tai biến do sử dụng quá liều. Tuy nhiên, có một số nhược điểm là có thể sử dụng bằng đường tiêm chích nên có thể lây truyền các bệnh qua đường máu, giá thành đắt hơn methadone và tỷ lệ bệnh nhân duy trì điều trị thấp hơn so với điều trị bằng methadone.

3.2. Phương pháp điều trị đối kháng bằng Naltrexone Khi nào nên sử dụng

Naltrexone là một dược chất cạnh tranh với Opioid tại thụ thể của nó, ngăn chặn các đáp ứng chủ quan và khách quan gây ra bởi việc sử dụng Opioid, làm giảm sự thèm khát đặc biệt là do sử dụng Heroin, được sử dụng trong dự phòng tái nghiện cho những người đã cắt được hội chứng cai. Để sử dụng phương pháp này, người NMT bắt buộc phải được cắt cơn giải độc trước đó 7- 10 ngày nhằm tránh hội chứng cai cấp xuất hiện khi sử dụng. Ưu điểm của Naltrexone là cắt cơn nhanh, làm cho bệnh nhân không còn cảm giác thèm ma túy nhưng có nhược điểm là lên cơn vật vã, bứt rứt, khó chịu, táo bón, độc với gan và thận, có thể gây sốc thuốc khi bệnh nhân vẫn sử dụng chất ma túy, bệnh nhân dễ ngộ độc khi sử dụng quá liều, phải theo dõi liều dùng chặt chẽ. Đặc biệt, tỷ lệ bệnh nhân duy trì điều trị là thấp nếu không sử dụng các can thiệp nhận thức hành vi.

3.3. Vai trò của can thiệp tâm lý xã hội trong điều trị nghiện

Can thiệp tâm lý xã hội được sử dụng chủ yếu là trị liệu cộng đồng và giám sát hành vi. Trị liệu cộng đồng dựa trên nguyên tắc “nghiện là một hành vi chủ định và có thể thay đổi được". Khác với trị liệu cộng đồng giám sát hành vi nhằm mục đích hướng người nghiện tăng cường học các hành vi mong muốn. Nhóm tự giúp đỡ do những người đã từng NMT tham gia, những thành viên cũ sẽ hỗ trợ và giúp đỡ các thành viên mới để ngăn ngừa tái nghiện. Trong điều trị cắt con, hỗ trợ tâm lý xã hội có vai trò giúp bệnh nhân hiểu rõ các mục tiêu trong điều trị, tăng động cơ trong việc giảm/ ngừng sử dụng ma túy và tăng cường trách nhiệm của bản thân đối với những kết quả sau khi hoàn thành giai đoạn điều trị cất cơn, giáo dục cho bệnh nhân về các hội chứng cai và chiến lược hữu ích để đối phó.

IV. Cai Nghiện Tại Việt Nam Mô Hình Hiệu Quả và Thách Thức

Theo Luật Phòng chống ma túy, Việt Nam có 3 hình thức cai nghiện: tại nhà, tại cộng đồng và tại cơ sở cai nghiện. Hình thức tại nhà và cộng đồng áp dụng cho người cai nghiện tự nguyện (6-12 tháng). Tại cơ sở điều trị áp dụng cho đối tượng cai nghiện bắt buộc (1-2 năm). Tại Việt Nam hiện nay có 109 cơ sở cai nghiện công lập và 19 cơ sở cai nghiện tư nhân. Tỷ lệ cai nghiện bắt buộc chiếm khoảng 86%. Tỷ lệ tái nghiện sau khi cai nghiện vẫn cao (sau 6 tháng có 20-50% tái nghiện, sau 3 năm 80-85%). Một trong những nguyên nhân là điều trị mới dừng lại ở giai đoạn cắt cơn. Các hoạt động giáo dục, phục hồi hành vi nhân cách, dạy nghề, tạo việc làm cho người cai nghiện sau khi điều trị cắt cơn chưa được quan tâm đúng mức. Phần lớn người nghiện sau điều trị cắt cơn không được quan tâm quản lý, giúp đỡ, không có việc làm ổn định. Trong những năm qua, điều trị cai nghiện ở Việt Nam chủ yếu là chỉ điều trị cắt cơn trong các cơ sở GDLĐXH của bộ LĐTBXH, tỷ lệ điều trị tại gia đình và cộng đồng rất thấp. Điều trị cai nghiện tại các TTGDLĐXH còn nhiều tồn tại và hạn chế nên việc tiếp cận các trung tâm này gây khó khăn cho người NMT.

4.1. Các hình thức cai nghiện và mô hình điều trị tại Việt Nam

Tại Việt Nam, theo điều 26a trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng chống ma túy (16/2008/QH12) có 3 hình thức cai nghiện ma túy, bao gồm cai nghiện tại nhà, tại cộng đồng và tại cơ sở cai nghiện. Hình thức cai nghiện tại nhà và tại cộng đồng được áp dụng cho những người cai nghiện tự nguyện (với thời gian điều trị từ 6 - 12 tháng). Cai nghiện tại cơ sở điều trị áp dụng cho đối tượng cai nghiện bắt buộc (thời gian từ 1 năm đến 2 năm). Cai nghiện tại cộng đồng có thể do Uỷ ban nhân dân xã/phường tổ chức hoặc tại các cơ sở cai nghiện tư nhân được cấp giấy phép, tại cơ sở điều trị có thể là các TTGDLĐXH của Bộ LĐTBXH, các cơ sở điều trị của Bộ Y tế hoặc trại giam, trại giáo dưỡng.

4.2. Thực trạng và hạn chế của hệ thống cai nghiện hiện tại

Các cơ sở GDLĐXH của bộ LĐTBXH còn nhiều tồn tại và hạn chế nên việc tiếp cận các trung tâm này gây khó khăn cho người NMT. Đối với các đối tượng cai nghiện bắt buộc, trước hết là do nội quy, quy chế tại rất nghiêm khắc, chế độ sinh hoạt, ăn uống thiếu thốn do trợ cấp cho người cai nghiện bắt buộc tại các trung tâm này chỉ 240.000 đồng/người/tháng trong thời gian 12 tháng, dễ lây lan bệnh tật, hơn nữa các trung tâm này là môi trường nguy cơ cao trong việc lây nhiễm HIV do các hành vi chia sẻ dụng cụ tiêm chích, sãm trổ hay tình dục lén lút. Đối với các đối tượng điều trị cai nghiện tại các trung tâm, đa số người nghiện không thực sự tự nguyện mà do gia đình viết đơn xin vào.

4.3. Phương pháp cắt cơn bằng châm cứu và thuốc y học cổ truyền

Trong giai đoạn 1968 - 1973, Nguyễn Tài Thu sử dụng điện châm kết hợp thủy châm các vitamin B, c để điều trị nghiện do lạm dụng CDTP cho các thương binh trong thời kì kháng chiến chống Mỹ, kết quả là những người được điều trị đã hết nghiện sau 4 - 7 ngày điều trị. Ưu điểm của châm cứu là hỗ trợ cắt cơn nhanh (thời gian cắt cơn trung bình là 7 ngày), không gây vật vã khó chịu cho bệnh nhân và có thể áp dụng tại cộng đồng, chi phí có thể chấp nhận được cho các bệnh nhân. Bên cạnh đó, phương pháp còn tồn tại một số nhược điểm là để thực hiện việc điều trị cơn sở điều trị phải đầu tư cơ sở vật chất: máy điện châm, kim châm, và các dụng cụ khác. Biện pháp này chỉ hiệu quả khi bệnh nhân hợp tác điều trị. Bông sen là một thuốc điều trị cai nghiện được triển khai nghiên cứu từ 1995. Cedemex là một thuốc điều trị cai nghiện từ thảo được nghiên cứu bởi Viện nghiên cứu và ứng dụng dược liệu điều trị các bệnh hiểm nghèo. Các liệu pháp tâm lý được sử dụng trong điều trị cai nghiện giai đoạn 3 (trong 5 quy trình mà Bộ Y tế quy định).

V. Điều Trị Nghiện Mạn Tính Ở Việt Nam Đánh Giá Hiệu Quả

Tại Việt Nam, hai chế phẩm của Naltrexone được phép sử dụng trong điều trị nghiện là Arbenil và Danapha- Natrex50. Nghiên cứu tại Việt Nam chỉ ra rằng nếu điều trị đủ thời gian, Naltrexone rất hiệu quả trong phòng chống tái nghiện. Phương pháp có nhược điểm là tỷ lệ bệnh nhân bỏ trị cao. Hiện nay, phương pháp này đã được triển khai tại một số TTHDLĐXH để điều trị cai nghiện như Hải Phòng, Nghệ An, Hòa Bình, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Điện Biên, Tiền Giang. Ưu điểm của Naltrexone là hiệu quả chống tái nghiện cao, bệnh nhân không thể tái nghiện nếu vẫn uống Naltrexone, hiệu quả giảm hại mạnh hơn Methadone, biện pháp này được kết hợp với các can thiệp gia đình và liệu pháp hành vi nên bệnh nhân được phục hồi chức năng tâm lý và lao động xã hội, chi phí điều trị thấp hơn và hiệu quả cao hơn so với điều trị tập trung tại các cơ sở cai nghiện, sử dụng đơn giản, dễ dàng trong quản lý điều trị. Điều trị thay thế Methadone được thí điểm triển khai tại Việt Nam vào năm 2008 ở hai thành phố Hải Phòng và TPHCM. Phương pháp này đã mang lại hiệu quả tích cực. Tỷ lệ sử dụng các chất dạng thuốc phiện đã giảm từ 100% khi bắt đầu điều trị xuống còn 57% sau tháng đầu tiên, 30% sau tháng thứ 2 và là 10% sau 3 tháng điều trị Methadone. Hành vi sử dụng chung bơm kim tiêm giảm từ 24% (TPHCM) và 44% (Hải Phòng) xuống 0% cho đến thời điểm đánh giá. Tỷ lệ bệnh nhân sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục ở bệnh nhân điều trị Methadone tăng lên một cách đáng kể (từ 23% trước khi điều trị tăng lên 42% vào thời điểm đánh giá).

5.1. Hiệu quả của điều trị đối kháng bằng Naltrexone tại Việt Nam

Naltrexone được nghiên cứu để điều trị cai nghiện tại Việt Nam vào 2002 tại Viện Sức khỏe và tâm thần trung ương. Các nghiên cứu tại Việt Nam chỉ ra rằng nếu điều trị đủ thời gian, Naltrexone rất hiệu quả trong phòng chống tái nghiện. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Mỹ Châu và cộng sự ở Trung tâm Xanh thành phố Hồ Chí Minh trên 106 bệnh nhân được điều trị bằng Naltrexone kết hợp liệu pháp nhận thức hành vi cho thấy tỷ lệ tái nghiện ở bệnh nhân điều trị từ 3 - 6 tháng là 5,3% và không có bệnh nhân tái nghiện ở nhóm điều trị đủ 6 tháng. Phương pháp có nhược điểm là tỷ lệ bệnh nhân bỏ trị cao. Nghiên cứu của Ngô Thanh Hồi, Ngô Thúy Ái, Nguyễn Thị Thái báo cáo tại hội thảo Bệnh viện Bạch Mai tháng 6/2005 cho thấy tỷ lệ bỏ điều trị trước 6 tháng là 67,1%. Tỷ lệ này cao hơn trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Mỹ Châu với 89,2% sau điều trị từ 3 - 6 tháng, và 94,8% trước 6 tháng.

5.2. Đánh giá chương trình điều trị thay thế Methadone thí điểm

Điều trị thay thế Methadone được thí điểm triển khai tại Việt Nam vào năm 2008 ở hai thành phố Hải Phòng và TPHCM. Theo đánh giá của Bộ Y tế, tỷ lệ sử dụng heroin dựa trên kết quả xét nghiệm là 13,3% trong 3 tháng đầu và 8% từ tháng thứ 4 - 6. Hành vi sử dụng chung bom kim tiêm giảm từ 24% (TPHCM) và 44% (Hải Phòng) xuống 0% cho đến thời điểm đánh giá. Theo đó, sau 9 tháng điều trị không có trường hợp mắc mới HIV, viêm gan B,c ở đối tượng tham gia điều trị. Các vấn đề về tâm lý, hành vi cũng đã được cải thiện thể hiện ở tỷ lệ bệnh nhân có nguy cơ mắc chứng trầm cảm giảm. Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân về thể chất, tâm lý, xã hội, môi trường đã được nâng cao đáng kể.

5.3. Hạn chế và thách thức trong điều trị nghiện mạn tính tại Việt Nam

Theo báo cáo đánh giá của Bộ Y tế, trong quá trình điều trị bệnh nhân vẫn có thể sử dụng các CDTP đồng thời, vì vậy phải thực hiện bất ngờ các xét nghiệm tìm ma túy trong nước tiểu để có biện pháp giáo dục bệnh nhân. Bản chất của Methadone là CDTP nên phải quản lý chặt chẽ, tránh sinh rò rỉ và buôn bán bất hợp pháp. Bệnh nhân phải tới cơ sở điều trị uống thuốc hàng ngày kể cả ngày lễ và cuối tuần nên dễ dẫn đến nguy cơ bỏ trị và tái sử dụng ma túy trong những ngày bỏ trị. Các địa phương chưa chủ động trong nguồn kinh phí để triển khai và duy trì chương trình, nguồn kinh phí hiện nay dựa vào viện trợ nước ngoài là chủ yếu. Đây cũng là một phương pháp mới tại Việt Nam nên các bác sỹ tham gia điều trị chưa có nhiều kinh nghiệm trong xử lý các tình huống, mô hình điều trị chưa đa dạng nên hạn chế sự tiếp cận của người NMT có nhu cầu sử dụng dịch vụ.

VI. Cai Nghiện Hiệu Quả Khuyến Nghị và Định Hướng Tương Lai

Điều trị cai nghiện không nên chỉ dừng lại ở điều trị cắt cơn, nghĩa là giúp bệnh nhân thoát khỏi cơn nghiện trong thời gian ngắn mà phương pháp phải hỗ trợ bệnh nhân duy trì kết quả cai nghiện, chống tái nghiện trở lại. Điều trị cai nghiện hiện nay nên chú trọng vào các biện pháp điều trị hiệu quả. Các phương pháp đã được chứng minh hiệu quả nhất có thể sử dụng hiện nay là điều trị thay thế bằng Methadone và điều trị đối kháng Naltrexone. Methadone rất phù hợp với điều kiện kinh tế của đối tượng NCMT tại Việt Nam. Các biện pháp điều trị bằng y học cổ truyền có thể sử dụng để hỗ trợ những bệnh nhân trước khi tham gia điều trị nghiện mạn tính như điều trị đối kháng bằng Naltrexone.

6.1. Ưu tiên phát triển các phương pháp điều trị nghiện mạn tính

Các phương pháp như điều trị thay thế Methadone và điều trị đối kháng Naltrexone đã được chứng minh là hiệu quả trong việc giảm tái nghiện và cải thiện chất lượng cuộc sống của người nghiện ma túy. Do đó, cần ưu tiên phát triển và mở rộng các phương pháp này, đồng thời đảm bảo tính dễ tiếp cận và chi phí hợp lý cho người bệnh.

6.2. Cần có chính sách hỗ trợ và nguồn lực bền vững cho cai nghiện

Để đảm bảo tính bền vững và hiệu quả của các chương trình cai nghiện, cần có chính sách hỗ trợ toàn diện từ nhà nước, bao gồm tài chính, nhân lực, cơ sở vật chất và các hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng. Ngoài ra, cần tăng cường sự tham gia của các tổ chức xã hội, gia đình và cộng đồng trong quá trình cai nghiện.

6.3. Nghiên cứu và đánh giá hiệu quả các mô hình cai nghiện

Cần tăng cường nghiên cứu khoa học và đánh giá hiệu quả của các mô hình cai nghiện khác nhau, đặc biệt là các mô hình dựa vào cộng đồng và các phương pháp hỗ trợ tâm lý xã hội. Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở để điều chỉnh và cải thiện các chương trình cai nghiện, đồng thời cung cấp thông tin cho việc xây dựng chính sách và phân bổ nguồn lực.

16/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Theo báo cáo của tổ chức Y tế thế giới (WHO), ước tính trên toàn cầu có khoảng 15,9 triệu người tiêm chích ma túy (TCMT), trong đó 3 triệu người đã nhiễm HIV, chiếm 18,9% [40]. Tại Việt Nam, dịch HIV vẫn đang trong giai đoạn tập trung với tỷ lệ nhiễm chủ yểu ở nhóm TCMT, gái mại dâm và nam quan hệ tình dục đồng giới. Theo báo cáo của Bộ Y tế tỷ lệ nhiễm cao nhất vẫn thuộc về nhóm TCMT với 50,6%, Tỷ lệ nhiếm HIV trong nhóm TCMT được báo cáo năm 2009 là 18,3% [8], Theo báo cáo của bộ Lao động- Thương binh- Xã hội (BLĐTBXH), sổ người nghiện ma túy vẫn đang gia tăng nhanh chóng, tính đen 31/12/2008 cả nước có 134. Trung bình mỗi năm có thêm hem 4000 người nghiện ma túy (NMT), trong đó 86,3% sử dụng bằng đường tiêm chích [12] tương đương với khoảng 116.056 người TCMT.

Ngoài nguy cơ lây nhiễm HIV/A1DS, nhóm đối tượng TCMT có nguy cơ với các vấn đề sức khoẻ liên quan đến tiêm chích ma tuý như quá liều, nhiễm trùng do lây nhiễm các virus lây truyền qua đường máu như viêm gan c, viêm gan virus B, các nhiễm khuẩn và các biến chúng mạch máu [40]. Trong nhóm tiêm chích ma tuý là người Việt nam, nhũng tác hại này nhiều khi còn gày ra hậu quả trầm trọng hơn do tỷ lệ tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế thấp. Tại Việt Nam, can thiệp giảm tác hại (GTH) là chưong trình cung cấp dịch vụ toàn diện, cỏ hiệu quả trong phòng ngừa lây nhiễm HIV/AIDS. Chương trình GTH đã được triển khai mà một trong những mục tiêu quan trọng là giảm lây nhiễm HIV cũng như giảm tỷ lệ mắc và tử vong liên quan đển sử dụng ma túy bất hợp pháp [53].

Theo tổ chức y tể thế giới, điểu trị cai nghiện lả một trong những chiến lược quan trọng ngăn 1 Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Y tế công cộng chặn những hậu quả về mặt sức khỏe (trong đó có HIV/AIDS) cho bản thân người nghiện ma túy và toàn xã hội. Nó làm giảm số người sử dụng ma túy bẩt hợp pháp, giảm tỷ lệ mắc và tử vong liên quan đen sử dụng ma túy do các bệnh truyền nhiễm hoặc sử dụng quá liều, giảm hành vi tội phạm, cải thiện sức khỏe, nâng cao chất lượng cuộc sổng cho người NMT,. Điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện (CDTP) bằng phương pháp thay thế Methadone là một trong những chương trình thuộc gói can thiệp GTH dành cho đối tượng TCMT. Đây là một trong những phương pháp điều trị cai nghiện mới tại Việt Nam bắt đầu được áp dụng thí điểm vào 2008 tại Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh, và hiện đã được triến khai ở huyện Từ Liêm, Hà nội.

Tại Việt Nam, từ những nãm 1990, đã có rất nhiều phương pháp điều trị cai nghiện được áp dụng. Tuy nhiên, các biện pháp này chưa đạt hiệu quả, theo báo cáo của BLĐTBXH, tỷ lệ tái nghiện ở các đối tượng còn cao khoảng 80 - 98% [11]. Nguyên nhân chủ yếu là các phương pháp này chỉ hỗ trợ người NMT cắt cơn mà chưa mang lại hiệu quả trong phòng chổng tái nghiện. Vì vậy, việc áp dụng các chương trình điều trị cai nghiện phù họp là rất cần thiết, đặc biệt là trong đối tượng tiêm chích nhằm phòng ngừa HIV/AIDS cũng như các vấn đề sức khỏe liên quan.

Từ những lý do trên, tim hiểu các chương trình điều trị cai nghiện ở Việt nam là hết sức cân thiết nhăm giúp các nhà hoạch định chính sách y tê đưa ra biện pháp điều trị cai nghiện phù hợp và dễ tiếp cận, sử dụng với đối tượng nghiện ma tuý. Tổng quan tài liệu về điều trị cai nghiện cho đối tượng tiêm chích ma túy tại Việt Nam” được tiến hành nhằm tìm hiểu về các chương trình điều trị cai nghiện hiện nay dành cho người nghiện ma túy (đặc biệt là đối tượng TCMT), hiệu quả, cũng như những khó khăn, thuận lợi của các chương trình này. Từ đó, đề xuất các khuyến nghị phù hợp cho các chương trình điều trị cai nghiện cho người TCMT trong tương lai tại Việt Nam. 2 Khóa luận tõt nghiệp cừ nhân Y tê công cộng II.

Mục tiêu chung Tổng quan các chương trình điều trị cai nghiện cho đổi tượng TCMT tại Việt Nam, đề xuất các khuyến nghị phù họp với hoàn cảnh Việt Nam. Mục tiêu cụ thể 1. Giới thiệu chương trình điều trị cai nghiên đã được thực hiện trên thế giới 2. Tổng quan các chương trình điều trị cai nghiện ở Việt Nam hiện nay.

Nhận xét đưa ra kết luận và khuyển nghị phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam. Phương pháp tổng quan tài liệu 1. Quy trinh tổng quan tài liệu Xây dựng Xác định Đọc lướt Đọc Viết báo Xác định khung các nguồn các tài cáo dựa từ khóa, các tài tóm tắt thu thập và liệu trên các tìm kiếm liệu đã bài tổng tìm kiếm tài một thông tin thông tin, thu thập quan liệu cách đã thu đọc tài và phân chi tiết liệu loại tài thập liệu 2. Nguôn tìm kiêm tài liệu - Thư viện Trường Đại học Y Hà Nội và Trường Đại học Y tế công cộng - Các cơ quan tố chức cỏ liên quan; Bộ Y tế, Cục phòng chống HỈV/A1DS (VAAC), Viện Sức khỏe tâm thẩn Trung ương, Tổ chức Sức khỏe và gia đình (FHI), Viện Châm cứu trung ương, các cơ quan thuộc Bộ Lao động Thương binh Xã hội,.

Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Y tế công cộng - Trang web của các tổ chúc có liên quan và các trang web có nội dung liên quan như: Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Cơ quan phòng chổng AIDS của Liên hợp quốc (UNAIDS), Cơ quan phòng chống ma túy và tội phạm của Liên họp quốc (UNODC), Cục phòng chổng HIV/A1DS Việt Nam (VAAC), Bộ Y tế (MOH), Tạp chí AIDS và cộng đồng , Bộ Lao động thương binh và xã hội (MOLISA),. - Công cụ tìm kiếm trực tuyến : Google, Thư viện Y khoa Hoa Kỳ (Pubmed),. Tiêu chuẩn lựa chọn tài liệu Để lựa chọn các tài liệu phù họp cho quá trình viểt báo cáo, tôi đề ra một số tiêu chuẩn lựa chọn tài liệu ve các mặt: nội dung, xuất xứ, độ tin cậy, ngôn ngữ, như sau: - về mặt nội dung: các tài liệu có nội dung liên quan đến cai nghiên, điều trị cai nghiện ma túy, mối liên quan giữa TCMT và viêm gan B, C và HIV/AIDS. - về xuất xú: Các tài liệu phải có nguồn gốc rõ ràng, tru tiền các tài liệu đã được xuất bản, ưu tiên các tài liệu là các nghiên cứu, tổng quan, sẵn có bản đầy đủ (full text), - về ngôn ngữ: Chỉ lựa chọn các tài liệu được viết bằng tiếng Anh và tiếng Việt.

- về độ tin cậy: Các tài liệu được lựa chọn từ các cơ quan tẻ chức uy tín quốc tế, ưu tiên các cơ quan chuyên nghiên cứu các vẩn đề liên quan lĩnh vực điều trị cai nghiện, ma túy. Thông số tài liệu tham khảo Báo cảo này đã tham khảo 58 tài liệu (gồm 38 tài liệu tiếng Việt và 20 tài liệu tiếng Anh) trong đó có 18 báo cáo/tài liệu hội nghị, 18 ấn phẩm (in và điện tử), 7 nghiên cứu, 6 bài báo trên tạp chí, và 6 bài báo trên các trang Web. Các từ khóa sử dụng đe tìm kiếm tài liệu: 4 Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Y tế công cộng Từ khóa tiếng anh: tổ hợp từ khóa “IDU” AND “HIV”, HIV, injecting drug user, drug treatment, substitution therapy, treatment for drug addiction,. Từ khóa tiếng việt: tổ hợp từ khóa “tiêm chích ma túy” AND “HIV”, điều trị cai nghiện, điều trị thay thế, điều trị đối kháng, điều trị cẳt cơn ma túy, điều trị nghiện mạn tính, chống tái nghiện, mô hình điều trị cai nghiện ma túy,.

Một số khái niệm 1. Ma túy Ma túy gồm các chất gây nghiện và các chất hướng thần. Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dề gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng. Chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nểu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiên đối với người sử dụng.

Ma túy có thê được phân loại theo nguôn gốc, bao gôm : - Ma tủy có nguồn gốc tự nhiên như Morphin, Codein, Narcotin, Cocain, cần sa. - Ma túy bán tổng hợp như Heroin - Ma túy tổng họp như Dol argan. Ngoài ra còn có cách phân loại khác theo nhóm như nhóm Opioid (hay các chất dạng thuốc phiện (CDTP)) lả nhóm thuốc bao gồm Heroin, Methadone, Buprenorphine, thuốc phiện đen, Codeine, Morphine, Pethidine. Opioid có tác dụng giảm đau và mang lại cảm giác dễ chịu.

Những chất này có thể làm ức chế chức năng thần kinh trung ương, đặc biệt là trung tâm hô hấp. Liều cao của những chất này có thể gây suy hô hấp, hôn mê, tử vong. Opioid dùng trải phép phổ biến nhất ở Việt Nam là heroin [14] [17] [23]. 5 Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Y tể công cộng 2.

Nghiện ma tuý Nghiện ma tuý là một trạng thái nhiễm độc chất ma tuý, nhiễm độc mãn tính hay chu kỳ, với những đặc điểm cơ bản sau đây: - Có nhu cẩu không cưỡng được phải tiểp tục dùng chat ma tuý. - Liều lượng chất ma tuý có khuynh hướng tăng dần lên mới thoả mãn được nhu cầu về chất ma tuý của cơ thể (hiện tượng dung nạp). - Người nghiện lệ thuộc đôi với chât ma tuý vê mặt cơ thê và tâm thân. - Người nghiện biết tác hại của chất ma tuý đến cá nhân và xã hội mà vẫn tiếp tục dùng Như vậy, người NMT phải đối mặt với 3 trạng thải: trạng thái dung nạp, trạng thái lệ thuộc về mặt cơ thể và trạng thái lệ thuộc về mặt tâm thần [14].

Cai nghiện Là ngừng sử dụng hoặc giảm đáng kể chất ma tủy mà người nghiện thường sử dụng dân đên việc xuât hiện hội chúng cai và vì vậy người bệnh cân phải được điêu trị [7]. Trong nhiều tài liệu, cụm từ “cai nghiện” hiên nay không được sử dụng vì theo quan điểm của y học hiên đại nó không được rõ ràng, người ta sử dụng cụm từ chuẩn xác hơn là “điều trị cai nghiện”. Hội chứng cai Là trạng thái phản ứng của cơ thể khi cắt hoặc giảm chất ma tuý đang sử dụng ở những người nghiện ma tuý. Biếu hiện lâm sàng của hội chửng cai khác nhau phụ thuộc vào loại ma tuý đang sử dụng [7].

Sau khi ngừng sử dụng chất ma túy khoảng 6- 8 giờ, hội 6 Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Y tế công cộng chứng cai ma túy xuất hiện.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ