Tổng quan thực trạng bạo lực tại nơi làm việc của nhân viên y tế giai đoạn 2013-2018

Tổng quan tài liệu về thực trạng bạo lực tại nơi làm việc của nhân viên y tế (2013-2018). Nghiên cứu các yếu tố liên quan đến vấn đề này.

Chuyên ngành

Y tế Công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Tiểu luận tốt nghiệp

2018

45
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

Lời cảm ơn

Danh mục từ viết tắt

Danh mục biểu đồ, sơ đồ

1. Phương pháp tổng quan

2. Phương pháp thuthập dữ liệu

2.1. Các định nghĩa, phân loại có liên quan

2.2. Chiên lược tìm kiếm tài liệu

2.3. Đánh giá chất lượng nghiên cứu

2.4. Tiêu chuẩn lực chọn - loại trừ

2.5. Trích xuất dữ liệu

2.6. Đặc điểm của các nghiên cứu đưa vào tổng quan

2.6.1. Thiết kế nghiên cứu

2.6.2. Cỡ mẫu và Phương pháp chọn mẫu

2.6.3. Đối tượng tham gia

2.7. Thực trạng bạo lực trong NVYT tại Việt Nam và trên thế giới

2.7.1. Thực trạng bạo lực trong nhóm NVYT tại Việt Nam

2.7.2. Thực trạng bạo lực trong nhóm NVYT trên thế giới

2.8. Yếu tố liên quan đến bạo lực tại nơi làm việc

2.8.1. Yếu tố nhân khẩu học

2.8.2. Yếu tố liên quan đếncông việc

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Bạo Lực Nơi Làm Việc Của Nhân Viên Y Tế 2013 2018

Bạo lực tại nơi làm việc (workplace violence) được định nghĩa là bất kỳ hành động nào dẫn đến những tổn thất về thể chất, tình dục hay tâm lí, bao gồm cả sự đe doạ có những hành vi như vậy xảy ra tại nơi làm việc. Theo thông tin từ viện Quốc gia về sức khỏe và an toàn nghề nghiệp Hoa Kỳ (NIOSH), bệnh viện là nơi xảy ra các vụ bạo hành nhân viên y tế (NVYT) thường xuyên nhất. Bên cạnh đó, đối tượng dễ bị chịu ảnh hưởng của các trường hợp bạo hành tại nơi làm việc chính là NVYT. Hội đồng Điều dưỡng thế giới ước tính, nguy cơ bị tấn công tại nơi làm việc của các NVYT cao hơn bảo vệ tại các nhà tù và nhân viên cảnh sát. Tại Việt Nam, về phương diện nghiên cứu khoa học, mới chỉ có rất ít các nghiên cứu tiến hành đánh giá về tình trạng bạo lực trong nhóm NVYT. Tuy nhiên, phương tiện truyền thông đại chúng đưa tin rất nhiều về các vụ việc NVYT bị hành hung, đe dọa. Hàng năm, bạo lực tại nơi làm việc tiêu tốn hàng triệu USD cho chi phí an ninh, y tế và luật pháp; bao gồm cả những tổn thất về mất thời gian làm việc và các tổn thất tài chính khác. Tổ chức Lao động thế giới (ILO) ước tính, gánh nặng kinh tế của các hậu quả đối với thể chất và tinh thần do bạo lực tại nơi làm việc trong nhóm NVYT là xấp xỉ 30% tổng ngân sách cho điều trị các vấn đề sức khỏe và tai nạn. Bao gồm các vấn đề về sức khỏe tinh thần, như chán nản, sợ hãi, rối loạn căng thẳng sau chấn thương, đồng thời làm giảm hiệu quả và sự hài lòng của NVYT đối với công việc, và là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng phải nghỉ việc, làm gián đoạn công việc. Nhìn từ góc độ vĩ mô, bạo lực tại các cơ sở y tế có thể gây nên những ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả của hệ thống y tế, đặc biệt ở các nước đang phát triển, từ đó gây ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả điều trị y tế cho bệnh nhân. Bài tổng quan tài liệu này mô tả thực trạng bạo lực tại nơi làm việc của NVYT và các yếu tố liên quan trong giai đoạn 2013-2018.

1.1. Mục Tiêu Nghiên Cứu Về Bạo Lực Nơi Làm Việc NVYT

Bài tổng quan tài liệu này có 2 mục tiêu chính. Đầu tiên, mô tả thực trạng bạo lực tại nơi làm việc trong nhóm nhân viên y tế tại Việt Nam và trên thế giới trong giai đoạn 5 năm (tháng 1/2013 đến tháng 3/2018). Thứ hai, xác định một số yếu tố liên quan đến bạo lực tại nơi làm việc trong nhóm nhân viên y tế tại Việt Nam và trên thế giới trong giai đoạn 5 năm (tháng 1/2013 đến tháng 3/2018).

1.2. Phương Pháp Nghiên Cứu Tổng Quan Bạo Lực NVYT

Đây là một tổng quan các nghiên cứu định lượng về bạo lực tại nơi làm việc trong NVYT từ khắp nơi trên thế giới và đã được công bố trên các hệ thống cơ sở dữ liệu, bằng ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Anh trong 5 năm qua (2013-3/2018). Tài liệu được tìm kiếm trên các hệ thống cơ sở dữ liệu online và thư viện bằng việc sử dụng từ khóa. Sau đó, dựa trên sơ đồ sàng lọc dữ liệu PRISMA (Preferred Reporting Items for Systematic reviews and Meta-Analyses) để chọn ra nghiên cứu phù hợp và đưa vào tổng quan. Các tài liệu phù hợp được trích dẫn vào phần mềm EndNote X7.

II. Định Nghĩa Phân Loại Bạo Lực Đối Với Nhân Viên Y Tế

Bạo lực tại nơi làm việc (workplace violence) được tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa là bất kỳ trường hợp NVYT bị lạm dụng, đe dọa và tấn công trong hoàn cảnh có liên quan đến công việc, bao gồm việc di chuyển đến và đi từ nơi làm việc, những thách thức đối với sự an toàn, tinh thần và sức khỏe của họ (được chuyển thể từ định nghĩa của Hội đồng châu Âu). Theo WHO, bạo lực tại nơi làm việc được phân thành 2 loại, là bạo lực thể chất và bạo lực tâm lý. Bạo lực thể chất (physical violence): Việc sử dụng vũ lực chống lại một người hoặc nhóm người, gây ra các tổn hại về thể chất, tình dục hoặc tâm thần. Bạo lực tâm lý (psychological violence): cố ý sử dụng quyền lực, bao gồm cả sự đe dọa bằng sức mạnh thể chất, chống lại một người/ nhóm người, có thể gây hại cho sự phát triển thể chất, tâm thần, tinh thần, xã hội. Trong thực tế, bạo lực thể chất và bạo lực tâm lý thường bị trùng lặp, do vậy việc phân loại các hình thức bạo lực khác nhau là rất khó khăn. Theo WHO, một số thuật ngữ được sử dụng thường xuyên nhất có liên quan đến bạo lực bao gồm: Tấn công, Quấy rối tình dục, Quấy rối chủng tộc, Đe dọa. Nhân viên y tế (health care workers) bao gồm công chức, viên chức, những người đang làm công tác chuyên môn, nghiệp vụ trong lĩnh vực y tế.

2.1. Bạo Lực Thể Chất Định Nghĩa Và Các Hình Thức Cụ Thể

Bạo lực thể chất được định nghĩa là việc sử dụng vũ lực chống lại một người hoặc nhóm người, gây ra các tổn hại về thể chất, tình dục hoặc tâm thần. Bao gồm đánh, đá, tát, đạp, xô đẩy, cắn và véo (được chuyển thể từ định nghĩa bạo lực của WHO).

2.2. Bạo Lực Tâm Lý Định Nghĩa Và Các Hình Thức Cụ Thể

Bạo lực tâm lý được định nghĩa là cố ý sử dụng quyền lực, bao gồm cả sự đe dọa bằng sức mạnh thể chất, chống lại một người/ nhóm người, có thể gây hại cho sự phát triển thể chất, tâm thần, tinh thần, xã hội. Bao gồm lạm dụng lời nói, bắt nạt, quấy rối và đe dọa (được chuyển thể từ định nghĩa bạo lực của WHO).

III. Thực Trạng Bạo Lực Với Nhân Viên Y Tế Giai Đoạn 2013 2018

Việc ước tính tỷ lệ chung của thực trạng bạo lực từ các nghiên cứu được công bố là một vấn đề khó khăn. Bởi vì có sự khác nhau trong phương pháp nghiên cứu, sự không đồng nhất của các bộ công cụ/ thang đo, loại bạo lực được đánh giá, sự không rõ ràng của định nghĩa bạo lực, thời gian tiến hành nghiên cứu. Cụ thể, các tác giả sử dụng định nghĩa bạo lực tại nơi làm việc theo WHO, gồm bạo lực thể chất (physical violence), bạo lực tâm lý (psychological violence). Về thang đo bạo lực, theo kết quả tổng quan, hầu hết các nghiên cứu (12/26 tài liệu) sử dụng bộ câu hỏi được phát triển năm 2003 bởi tổ chức Lao động thế giới (ILO), tổ chức Y tế thế giới (WHO), hội đồng Y tế quốc tế (ICN), và dịch vụ công cộng quốc tế (PSI).

3.1. Thực Trạng Bạo Lực Trong Nhóm NVYT Tại Việt Nam

Tại nước ta, mới chỉ có rất ít các nghiên cứu tiến hành đánh giá về tình trạng bạo lực trong nhóm NVYT. Cả 3 nghiên cứu tại các năm 2009, 2010 và 2017 được tìm thấy đều mô tả thực trạng bạo lực tâm lý (như mắng chửi, lăng mạ) và thể chất (hành vi hành hung). Kết quả thống kê tỷ lệ bạo lực lời nói và hành hung từ 2009 đến 2017 theo 3 nghiên cứu có xu hướng tăng. Nghiên cứu của Nguyễn Bích Diệp (2009) trên đối tượng bác sĩ, dược sĩ, y sĩ, điều dưỡng, nữ hộ sinh, kỹ thuật viên, hộ lý và các NVYT khác làm công tác khám chữa bệnh, xét nghiệm và công tác phòng chống dịch bệnh đưa ra kết quả, 17,2% nhân viên y tế bị bạo lực tâm lý. Đến năm 2017, tác giả Đào Ngọc Phức tiến hành đánh giá tình hình bạo lực trên 300 điều dưỡng bệnh viện nhi, kết quả chỉ ra 65,3% bị bạo lực bằng lời nói.

3.2. Thực Trạng Bạo Lực Trong Nhóm NVYT Trên Thế Giới

Có 21 nghiên cứu (chiếm 91,3%) trong bài tổng quan tập trung vào mục tiêu mô tả thực trạng bạo lực mà nhóm NVYT phải chịu đựng. Tùy thuộc vào từng nghiên cứu và các thang đo được sử dụng, sẽ có các mức độ và tỷ lệ NVYT phải chịu đựng bạo lực khác nhau. Nhưng tỷ lệ NVYT từng bị ít nhất một hình thức bạo lực bất kỳ trong suốt khoảng thời gian làm việc trong khoảng 6,5 (tại Ả Rập Xê út) - 95,9% (tại Iran). Thực trạng bị bạo lực nói chung: 2 nghiên cứu của Kumar và Yao sử dụng thang đo bạo lực tại nơi làm việc (workplace violence scale). Theo đó, kết quả được đưa ra lần lượt là 47,02 và 63,2% bác sĩ từng ít nhất một lần bị một loại bạo lực bất kỳ trong 12 tháng qua. Bên cạnh đó, có một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng 17,6 - 83,3% NVYT từng phải chịu đựng một loại hình bạo lực bất kì trong 12 tháng qua.

3.3. Tỷ Lệ Bạo Lực Thể Chất So Với Bạo Lực Tâm Lý

Trong tổng số 5 nghiên cứu có đề cập đến tỷ lệ bạo lực thể chất, có 4 nghiên cứu cắt ngang, tiến hành trên nhóm hỗn hợp các NVYT, cỡ mẫu từ 840- 5874 đối tượng, kết quả thống kê đưa ra khoảng tỷ lệ từ 9,5% (trong nghiên cứu của Zhao) đến 23,5% (trong nghiên cứu của Khoshknab) các NVYT từng bị bạo lực thân thể trong vòng 1 năm qua. Trong khi đó, 2 tác giả Khoshknab và Zhao thực hiện 2 nghiên cứu cắt ngang cho kết quả, tỷ lệ cán bộ bị bạo lực về tâm lý trong 1 năm qua dao động từ 69,2 - 74,7%. Nghiên cứu của Hamdan và cộng sự đã tìm hiểu kỹ hơn về quấy rối tình dục - một hình thức của bạo lực tâm lý, kết quả chỉ ra 8,6% trong số 444 NVYT tại phòng cấp cứu bệnh viện Palestinian được nghiên cứu tùng bị tấn công tình dục.

IV. Các Yếu Tố Nhân Khẩu Học Ảnh Hưởng Đến Bạo Lực NVYT

Các yếu tố nhân khẩu học như giới tính, tuổi tác, trình độ học vấn và trình độ chuyên môn có thể ảnh hưởng đến nguy cơ bị bạo lực tại nơi làm việc của nhân viên y tế. Các nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ giữa các yếu tố này và thực trạng bạo lực, tuy nhiên, kết quả có thể khác nhau tùy thuộc vào đối tượng nghiên cứu và phương pháp đánh giá.

4.1. Ảnh Hưởng Của Giới Tính Đến Nguy Cơ Bạo Lực

Có 10 nghiên cứu trong tổng số 26 nghiên cứu được đưa vào tổng quan có tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa giới (nam/nữ) và nguy cơ bị bạo lực, nhưng mối liên quan là không đồng nhất. Cụ thể, nghiên cứu cắt ngang về bạo lực lời nói của 391 điều dưỡng đưa ra kết quả là nhóm nam giới bị bạo lực bằng lời nói cao hơn nữ giới. Bên cạnh đó, mặc dù các tác giả Zhao, Liu và Sun thực hiện đánh giá tình trạng bạo lực thể chất trên NVYT, nhưng kết quả đưa ra vẫn tuân theo mối liên quan là nam giới bị bạo lực cao hơn nữ.

4.2. Ảnh Hưởng Của Tuổi Tác Đến Nguy Cơ Bạo Lực

Nhóm tuổi cũng là một yếu tố được các nhà nghiên cứu lưu ý khi đo lường sự ảnh hưởng của các yếu tố nhân khẩu học lên tình trạng bạo lực. 4 trong tông số nghiên cứu đưa vào tổng quan tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tuổi và thực trạng bạo lực. Theo tác giả Erdur và Xing chỉ ra những người lớn tuổi hơn phải chịu bạo lực nhiều hơn. Mặt khác, cũng cùng nghiên cứu về bạo lực thể chất, nhưng trái ngược hoàn toàn với kết quả từ 2 nghiên cứu trên, theo tác giả Sun (nghiên cứu cắt ngang 400 NVYT) và Hamdan (nghiên cứu cắt ngang trên 444 NVYT), những đổi tượng thuộc nhóm trẻ tuổi hơn có tỷ lệ bị bạo lực thể chất nhiều hơn nhóm lớn tuổi.

4.3. Trình Độ Học Vấn Và Chuyên Môn Tác Động Đến Bạo Lực

Từ các kết quả nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa các cấp độ học vấn và thực trạng bạo lực. Tỷ lệ bạo lực thể chất tăng khi trình độ học vấn tăng là kết quả từ nghiên cứu cắt ngang của Sun trên 400 NVYT Trung Quốc. Mặt khác, theo tác giả Kremic, các đối tượng tham gia có trình độ học vấn cao nhất là cấp 2 phải chịu đựng bạo lực nhiều nhất. Gần 1/4 số nghiên cứu (6/26 nghiên cứu) được đưa vào tổng quan tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ bạo lực và trình độ chuyên môn. Sun chỉ ra rằng bác sĩ và điều dưỡng có nguy cơ bị bạo lực thể chất cao hơn gấp 1,114 và 1,542 lần so với nhân viên hành chính. Điều này có thể do bác sĩ và điều dưỡng phải tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân thông qua các công việc hàng ngày của họ, chẳng hạn như thăm khám, cho thuốc.

V. Các Yếu Tố Công Việc Liên Quan Đến Bạo Lực Nơi Làm Việc

Các yếu tố liên quan đến công việc như khoa làm việc, ca làm việc và lo âu về bạo lực cũng có thể ảnh hưởng đến nguy cơ bị bạo lực của nhân viên y tế. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng một số khoa có nguy cơ bạo lực cao hơn các khoa khác, và làm việc theo ca cũng có thể làm tăng nguy cơ bị bạo lực.

5.1. Khoa Làm Việc Ảnh Hưởng Đến Nguy Cơ Bạo Lực

Các khoa làm việc được tìm thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê đến bạo lực trong 4/25 nghiên cứu được rà soát, bao gồm: khám chữa bệnh; phẫu thuật; sản - phụ khoa; cấp cứu và kỹ thuật y. Nghiên cứu của Kumar đánh giá tình trạng bạo lực trên 151 bác sĩ đưa ra kết luận bạo lực xảy ra nhiều nhất ở khoa khám chữa bệnh, tiếp đến là phẫu thuật và thấp nhất ở khoa cấp cứu. Đối với 391 điều dưỡng trong nghiên cứu của Shamlan thì cấp cứu là khoa xảy ra bạo lực nhiều nhất, tiếp là khám chữa bệnh và cuối cùng là phẫu thuật.

5.2. Ca Làm Việc Ảnh Hưởng Đến Nguy Cơ Bạo Lực

Có 4 nghiên cứu tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa làm việc theo ca và bạo lực nói chung. Tất cả kết quả từ 4 nghiên cứu đều tìm thấy rằng những NVYT phải làm việc theo ca thì có tỷ lệ bạo lực nói chung cao hơn những người không làm theo ca. Kết luận một lần nữa được khẳng định lại trong nghiên cứu về bạo lực thể chất của Sun trên 400 NVYT làm việc theo ca làm tăng nguy cơ bạo lực thể chất lên gấp 2,073 lần nhóm không phải làm theo ca. Lý do lý giải cho nhận định này theo y học và dịch tễ học, làm việc theo ca làm gián đoạn nhịp độ sinh học, dẫn đến tăng sự phát triển của bệnh tật và mệt mỏi, từ đó làm ảnh hưởng đến công việc và kết quả là bạo lực có thể xảy ra.

VI. Kết Luận Và Khuyến Nghị Về Bạo Lực Nơi Làm Việc

26 nghiên cứu được tìm thấy trên các hệ thống cơ sở dữ liệu thỏa mãn các tiêu chí đưa vào tổng quan đã cung cấp một cái nhìn tổng quát về tình trạng và các yếu tố liên quan đến bạo lực tại nơi làm việc trong nhóm nhân viên y tế. Kết quả từ quá trình rà soát chỉ ra, bạo lực tại nơi làm việc trong nhóm NVYT diễn ra phổ biến và xảy đến với tất cả các NVYT bao gồm cả các đối tượng làm các vị trí chuyên môn như bác sỹ, điều dưỡng và thậm chí là cả nhân viên hành chính. Hiện tại, các kết quả về tình hình bạo lực NVYT tại nơi làm việc đã được nghiên cứu và công bố là xảy đến tại hầu khắp hệ thống y tế của các nước trên thế giới. Các nghiên cứu trong nước và ngoài nước cũng chỉ ra một số đặc điểm/ yếu tố có liên quan có ý nghĩa thống kê đến thực trạng bạo lực tại nơi làm việc của nhóm NVYT. Bao gồm các yếu tố nhân khẩu học và các yếu tố có liên quan trực tiếp đến công việc.

6.1. Khuyến Nghị Để Giảm Thiểu Bạo Lực Đối Với NVYT

Từ các thực trạng nêu trên về bạo lực tại nơi làm việc trong nhóm NVYT, bạo lực có thể xảy ra bất cứ nơi nào, bất cứ lúc nào. Do đó, tôi khuyến nghị tất cả các bên liên quan, bao gồm chính phủ, các nhà hoạch định chính sách, các nhà cung cấp dịch vụ và các chuyên gia trong lĩnh vực y tế cần hợp tác để ban hành chính sách, chương trình phòng chống bạo lực, nhằm duy trì nguồn nhân lực có trình độ trong hệ thống y tế, đảm bảo năng suất và hiệu quả trong việc cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho nhân dân.

6.2. Hạn Chế Của Nghiên Cứu Tổng Quan Bạo Lực NVYT

Bài tổng quan tài liệu này có hai điểm hạn chế. Thứ nhất, các hình thức của bạo lực (bao gồm bạo lực lời nói, thể chất hoặc kết hợp các dạng bạo lực), bộ công cụ được sử dụng không thống nhất; định nghĩa bạo lực được sử dụng theo nhiều nguồn. Do vậy, có thể làm ảnh hưởng đến kết quả tổng quan. Thứ hai, do không tiếp cận được với nguồn tài liệu full-text nên số tài liệu đưa vào tổng quan còn khá hạn chế, do đó kết quả mô tả nêu trên có thể không đại diện cho thực trạng bạo lực NVYT hiện nay.

16/09/2025
Luận văn tổng quan tài liệu thực trạng và yếu tố liên quan đến bạo lực tại nơi làm việc trong nhóm nhân viên y tế trong giai đoạn 2013 2018

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Bạo lực tại nơi làm việc (workplace violence) được định nghĩa là bất kỳ hành động nào dẫn đến những tổn thất về thể chất, tình dục hay tâm lí, bao gồm cả sự đe doạ có những hành vi như vậy xảy ra tại nơi làm việc [9], Theo thông tin từ viện Quốc gia về sức khỏe và an toàn nghề nghiệp Hoa Kỳ (NIOSH), bệnh viện là nơi xảy ra các vụ bạo hành nhân viên y tế (NVYT) thường xuyên nhất [16]. Bên cạnh đó, đối tượng dễ bị chịu ảnh hưởng của các trường hợp bạo hành tại nơi làm việc chính là NVYT [14, 28, 36]. Ngoài ra, theo số liệu thống kê cho thấy, khoảng 70- 80% bác sĩ, điều dưỡng và nhân viên hành chính phải đối mặt với một hoặc nhiều trường hợp bạo lực hằng năm [18], Hội đồng Điều dưỡng thế giới ước tính, nguy cơ bị tấn công tại nơi làm việc của các NVYT cao hơn bảo vệ tại các nhà tù và nhân viên cảnh sát [35]. Tại Việt Nam, về phương diện nghiên cứu khoa học, mới chỉ có rất ít các nghiên cứu tiến hành đánh giá về tình trạng bạo lực trong nhóm NVYT.

Tuy nhiên, phương tiện truyền thông đại chúng đưa tin rất nhiều về các vụ việc NVYT bị hành hung, đe dọa,.Ví dụ, thống kê của Cục Quản lý khám, chữa bệnh (Bộ Y tế) cho thấy, từ 2010 đến 2017 đã có tổng cộng 22 vụ bác sĩ bị người nhà bệnh nhân tấn công [4]. Trong nàm 2017, Việt Nam đã xảy ra hàng chục vụ bạo hành, từ gây rối, làm mất an ninh trật tự trong bệnh viện, đến tấn công, thậm chí là đe dọa tính mạng [1]. Ngay đầu năm 2018 đã xảy ra vụ bố bệnh nhân nhi tát thẳng vào mặt bác sĩ tại bệnh viện đa khoa Xanh - Pôn [7], Hàng năm, bạo lực tại nơi làm việc tiêu tốn hàng triệu USD cho chi phí an ninh, y tế và luật pháp; bao gồm cả những tổn thất về mất thời gian làm việc và các tổn thất tài chính khác [26]. Tổ chức Lao động thế giới (ILO) ước tính, gánh nặng kinh tế của các hậu quả đối với thể chất và tinh thần do bạo lực tại nơi làm việc trong nhóm NVYT là xấp xỉ 30% tổng ngân sách cho điều trị các vấn đề sức khỏe và tai nạn [24], Trong khi chi phí tài chính cho bạo lực tại nơi làm việc được ước tính ở mức cao, thì chi phí tâm lý, cảm xúc và các mối quan hệ khó định lượng hơn 2 nhưng vẫn là con số đáng kể.

Bao gồm các vấn đề về sức khỏe tinh thần, như chán nản, sợ hãi, rối loạn căng thẳng sau chấn thương, đồng thời làm giảm hiệu quả và sự hài lòng của NVYT đối với công việc [15, 27, 31], và là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng phải nghỉ việc, làm gián đoạn công việc [39], Nhìn từ góc độ vĩ mô, bạo lực tại các cơ sở y tế có thể gây nên những ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả của hệ thống y tế, đặc biệt ở các nước đang phát triển [30], từ đó gây ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả điều trị y tế cho bệnh nhân [27]. Mục tiêu Bài tống quan tài liệu bao gồm 2 mục tiêu: 1. Mô tả thực trạng bạo lực tại nơi làm việc trong nhóm nhân viên y tế tại Việt Nam và trên thế giới trong giai đoạn 5 năm (tháng 1/2013 đến tháng 3/2018). Xác định một số yếu tố liên quan đến bạo lực tại nơi làm việc trong nhóm nhân viên y tế tại Việt Nam và trên thế giới trong giai đoạn 5 năm (tháng 1/2013 đến tháng 3/2018).

Phương pháp tổng quan Đây là một tổng quan các nghiên cứu định lượng về bạo lực tại nơi làm việc trong NVYT từ khắp nơi trên thế giới và đã được công bố trên các hệ thống cơ sở dữ liệu, bằng ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Anh trong 5 năm qua (2013-3/2018). Xây dựng câu hỏi tổng quan Chủ đề quan tâm của bài tổng quan này là mô tả thực trạng bạo lực tại nơi làm việc của NVYT và các yếu tố liên quan. Dữ liệu được trích xuất từ các nghiên cứu phù hợp với tổng quan bao gồm các thông tin chung về nghiên cứu (thiết kế nghiên cứu, phương pháp chọn mẫu, cỡ mẫu, đối tượng tham gia và bộ công cụ được sử dụng); tỷ lệ bị bạo lực; các yêu tô liên quan đến bạo lực. Tìm kiếm tài liệu Tài liệu được tìm kiếm trên các hệ thống cơ sở dữ liệu online và thư viện bằng việc sử dụng từ khóa.

Sau đó, dựa trên sơ đồ sàng lọc dữ liệu PRISMA (Preferred Reporting Items for Systematic reviews and Meta-Analyses) để chọn ra nghiên cứu phù hợp và đưa vào tổng quan. Tuy nhiên, trong phạm vi bài tổng quan không làm phân tích gộp nên tôi đã loại bỏ bước sàng lọc dữ liệu này ra khỏi sơ đồ. Các tài liệu phù hợp được trích dẫn vào phần mềm EndNote X7. Trích xuất dũ' liệu Xây dựng bảng Tóm tắt kết quả rà soát các tài liệu được sử dụng trong bài tổng quan đê trích các thông tin có liên quan đến câu hỏi và mục tiêu tổng quan.

Bao gồm thiết kế nghiên cứu, phương pháp chọn mẫu, cỡ mẫu, đối tượng tham gia và bộ công cụ; tỷ lệ bị bạo lực; yếu tố liên quan đến bạo lực (chỉ tiết tại phụ lục). Tống hợp các kết quả/ phát hiện và giải thích Đọc toàn bộ các bài báo đã lựa chọn, đưa vào tổng hợp, phân tích, trích dẫn các dữ liệu có liên quan đến câu hỏi tổng quan và mục tiêu tổng quan. Phương pháp thu thập dữ liệu Các định nghĩa, phân loại có liên quan Bạo lực tại nơi làm việc (workplace violence) được tổ chức Y tê thê giới (WHO) định nghía là bất kỳ trường hợp NVYT bị lạm dụng, đe dọa và tấn công trong hoàn cảnh có liên quan đến công việc, bao gồm việc di chuyển đến và đi từ nơi làm việc, những thách thức đối với sự an toàn, tinh thần và sức khỏe của họ (được chuyển thể từ định nghĩa của Hôi đồng châu Âu). Theo WHO, bạo lực tại nơi làm việc được phân thành 2 loại, là bạo lực thể chất và bạo lực tâm lý [44], Bạo lực thế chất (physical violence): Việc sử dụng vũ lực chông lại một người hoặc nhóm người, gây ra các tốn hại về thể chất, tình dục hoặc tâm thân.

Bao gồm đánh, đá, tát, đạp, xô đẩy, cắn và véo (được chuyển thể từ định nghĩa bạo lực của WHO). Bạo lực tâm lý (psychological violence): cố ý sử dụng quyền lực, bao gồm cả sự đe dọa bằng sức mạnh thể chất, chống lại một người/ nhóm người, có thể gây hại cho sự phát triển thể chất, tâm thần, tinh thần, xã hội. Bao gồm lạm dụng lời nói, bắt nạt, quấy rối và đe dọa (được chuyển thể từ định nghía bạo lực của WHO). Trong thực tế, bạo lực thể chất và bạo lực tâm lý thường bị trùng lặp, do vậy việc phân loại các hình thức bạo lực khác nhau là rất khó khăn.

Theo WHO, một số thuật ngữ được sử dụng thường xuyên nhất có liên quan đến bạo lực bao gồm: Tấn công (Assault/attack): Hành vi có chủ ý nhằm gây hại cho người khác về thể chất, bao gồm cả tấn công tình dục. Quẩy rối tình dục (Sexual harassment): Bất kỳ hành vi có liên quan đến tình dục không mong muốn, không hợp tác, xúc phạm và khiến một người cảm thấy bị đe doạ, làm nhục hoặc xấu hổ (Tổ chức Y tá Ireland). Quấy rối chủng tộc (Racial harassment): Mọi cư xử dựa trên chủng tộc, màu da, ngôn ngữ, nguồn gốc dân tộc, tôn giáo, dân tộc thiểu số, hoặc tình trạng khác không mong muốn hoặc không đáp ứng và nó ảnh hưởng đến nhân phẩm của người đàn ông và phụ nữ tại nơi làm việc (chuyển thể theo đạo luật Nhân quyền, vương quốc Anh). Đe dọa (Threat) là việc sử dụng sức mạnh thể chất hoặc thể lực (thậm chí cả sức mạnh tâm lý) dẫn đến nỗi sợ hãi về thể chất, nguy hại đến tình dục, tâm lý hoặc những hậu quả khác cho những cá nhân hoặc nhóm người.

Nơi làm việc (Workplace) là các cơ sở chăm sóc sức khỏe với bất ki quy mô, địa điểm (thành thị hoặc nông thôn) và loại dịch vụ được cung cấp. Bao gồm các bệnh viện chính của các thành phố lớn, bệnh viện khu vực và huyện, trung tâm chăm sóc sức khỏe, trạm y tế, trung tâm phục hồi, các cơ sở chăm sóc dài hạn, văn phòng của bác sĩ, các chuyên gia chăm sóc sức khỏe độc lập khác. Trong trường hợp các dịch vụ được thực hiện bên ngoài cơ sở chăm sóc sức khỏe, chẳng hạn như 7 dịch vụ xe cứu thương hoặc chăm sóc tại gia thì bất kỳ nơi nào các dịch vụ đó được thực hiện sẽ được coi là nơi làm việc. Nhãn viên y tể (health care workers) bao gồm công chức, viên chức, những người đang làm công tác chuyên môn, nghiệp vụ trong lình vực y tể [2].

Chiến lược tìm kiếm tài liệu Việc tìm kiếm tài liệu tiếng Anh được thực hiện trên các hệ thống cơ sở dữ liệu online, như Pubmed (https://www.gov/pubmed/), sử dụng từ khóa ((workplace OR work-related) AND violence AND (healthcare workers)); ‘‘((physical violence) AND (healthcare workers)) ”; “((psychological violence) AND (healthcare workers)) ” dùng bộ lọc free full text và published in the last 5 years; Google scholar (https://scholar.vn/), sử dụng từ khóa "workplace violence" in healthcare workers; work related violence in healthcare workers; “physical violence ” in healthcare workers; “psychological violence ” in healthcare workers bộ lọc custom range from 2013 to 2018 và sort by date. Các tài liệu tiếng Việt được tìm kiếm tại thư viện trường đại học y tế công cộng; truy cập cổng thông tin điện tử của cục thông tin khoa học và công nghệ quốc gia (http://db.vn/), sử dụng từ khóa là “bạo lực” và “bạo lực nhân viên y te” và từ danh mục tài liệu tham khảo của các tài liệu. Bảng 1: Chiến lược tìm kiếm tài liệu Tài liệu Cơ sỏ' dữ liệu Từ khóa tìm được PUBMED dùng bộ lọc free 1 ((workplace OR work-related) AND full text và published in the violence AND (healthcare workers)) last 5 years 2 ((physical violence) AND (healthcare workers)) 58 3 ((psychological violence) AND (healthcare workers)) Google scholar bộ lọc 1 workplace violence in healthcare workers custom range from 2013 to 87 2 work related violence in healthcare 2018 và sort by date workers 8 3 “physical violence” in healthcare workers_ 4 “spychological violence” in healthcare workers _ _. Thư viện trường đại học y tể ỉ Bạo lực nhânviên y tê 0 cô s cộng " -ị- Bao Irc.- To Cổng thông tin điện tử của 1 Bạo lực nhânviên y te 0 cục thông tin khoa học và -r :V.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ