Chương 1: Vai trò của hoạt động tổng kết thực tiễn đối với sự phát triển của lý luận chính trị 1. Những vấn đề lý luận cơ bản về nâng cao năng lực kết hợp giữa lý luận với hoạt động tổng kết thực tiễn 1. Vai trò của tổng kết thực tiễn đối với sự phát triển lý luận chính trị 1. Hoạt động tổng kết thực tiễn phục vụ nhiệm vụ chính trị ở Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Chương 2: Thực trạng hoạt động tổng kết thực tiễn để bổ sung và phái triển lý luận ở Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh 2.
Tình hình hoạt động nghiên cứu lý luận ở Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh 2. Thực trạng hoạt động tổng kết thực tiễn ở Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh 2. Những yêu cầu và quy trình đối với hoạt động tổng kết thực tiễn nhằm phát triển lý luận ở Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Chương 3: Phương hướng và những giải pháp cơ bản để tăng cường tổng kết thực tiễn nhằm phát triển lý luận ở Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh 3. Một số phương hướng cơ bản nhằm tăng cường hoạt động tổng kết thực tiễn ở Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh 3.
Những giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường hoạt động tổng kết thực tiễn đối với sự phát triển lý luận ở Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Chương † VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG TỔNG KẾT THỰC TIỀN ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ 1. NHUNG VAN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC KẾT HỢP GIỮA LÝ LUẬN VỚI HOẠT ĐỘNG THỰC TIEN 1. Những nhận thức lý luận chung Một là, lý luận và tư duy lý luận Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin. Lý luận là sự tổng kết thực tiễn, rồi đem nó chứng minh với thực tế.
Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Lý luận cũng như cái tên (hoặc viên đạn). Thực hành cũng như cái đích để bắn. Có tên mà không bắn, hoặc bắn lung tung, cũng như không có tên.
Mặt khác, lý luận không phải là một cái gì cứng nhấc, nó đầy tính chất sáng tạo, lý luận cần được bổ sung bằng những kết luận mới, rút ra từ trong thực tiễn sinh động. Đồng thời, lý luận là sự tổng hợp khái quát những hiểu biết thực tế và kinh nghiệm thực tiễn. Lý luận là hệ thống những tri thức đã được khái quát, tạo ra một quan niệm hoàn chỉnh về cái quy luật và mối liên hệ cơ bản của hiện thực. Lý luận khác với thực tiễn bởi vì nó là “cái khuôn mẫu” tính thần trong tư tưởng, là sự phản ánh và tái hiện hiện thực trong thực tế.
Đồng thời, nó gắn chặt với thực tiến, là cái nêu lên trước nhận thức những nhiệm vụ đang chin muổồi, và đòi hỏi phải được giải quyết. Nói một cách khác lý luận là kinh nghiệm đã được khái quát trong ý thức con người, là toàn bộ những tri thức về thế giới khách quan, là hệ thống tương đối độc lập của các tri thức có tác dụng tái hiện trong lôgíc của các khái niệm, cái lôgíc khách quan của các sự vật. Lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin là sự tổng kết kinh nghiệm của phong trào công nhân từ trước tới nay của tất cả các nước. Nó là “khoa học về các quy luật phát triển của tự nhiên và xã hội, khoa học về cách mạng của quần chúng bị áp bức và bóc lột, khoa học về sự thắng lợi của CNXH và chủ nghĩa cộng sản.
Trong thực tiễn (C.Mác đã nghiên cứu CNTB ở Châu Âu để viết “Tư bản luận” phát hiện sứ mệnh lịch sử trên toàn thế giới của giai cấp vô sản là người đào huyệt chôn CNTB và là người xây dựng chủ nghĩa cộng sản. Ông cũng là người sáng tạo ra lý luận, sách lược cách mạng vô sản. Ông kêu gọi “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại” đánh đổ chủ nghĩa tư bản, giải phóng cho giai cấp mình, đồng thời giải phóng cho toàn thể xã hội khỏi ách áp bức bóc lột, khỏi những cuộc đấu tranh giai cấp.Mác, trong điều kiện CNTB, cách mang vô sản chỉ có thể nổ ra cùng một lúc ở các nước tư bản phát triển mới giành được thắng lợi. Khi CNTB phát triển thành chủ nghĩa đế quốc, Lênin đã làm cho lý luận của Mác thêm phong phú và trở thành hiện thực bằng những luận điểm mới phù hợp với điều kiện mới: “Vô sản tất cả các nước và các đân tộc bị áp bức đoàn kết lại”, đánh đổ chủ nghĩa đế quốc.
Khẩu hiệu của Lênin đã tập hợp được lực lượng cách mạng ở cả hai loại nước: Tư bản chính quốc và thuộc địa. Ông cũng là người sáng tạo ra lý luận và sách lược cách mạng vô sản ở thời đại tư bản đế quốc chủ nghĩa, bằng luận điểm chuyển biến cách mạng dân chủ tư sản thành cách mạng xã hội chủ nghĩa, Học thuyết cách mạng không ngừng. Với học thuyết này Lênin đã tổ chức và lãnh đạo thành công cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga, mở ra thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Từ khi trở thành người cộng sản, Nguyễn Ái Quốc tích cực nghiên cứu nắm vững những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin, đường lối cách mạng thuộc địa của quốc tế cộng sản để vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, vạch ra đường lối cách mạng đúng đắn, đưa cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Từ những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin, từ phương pháp luận Mác xít chỉ dẫn và từ thực tế cách mạng Việt Nam và thế giới kết hợp với những giá trị của kho tàng văn hoá dân tộc và nhân loại, Hồ Chí Minh chẳng những vận dụng sáng tạo mà còn phát triển chủ nghĩa Mác- Lênin trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong vấn đề giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản do Người vạch ra đã được thực tiễn cách mạng Việt Nam kiểm nghiệm và thế giới thừa nhận. Trong các bài viết, bài nói chuyện của mình Người đã đưa ra một số quan niệm về lý luận với cách diễn đạt cụ thể khác nhau. Trong tác phẩm sửa đổi lối làm việc, Hồ Chí Minh đã nêu: “Lý luận là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc tranh đấu, xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm thành kết luận. Rồi đem nó chứng minh lại với thực tế”!.Trong một chỗ khác của tác phẩm này, Hồ Chí Minh lại diễn đạt lý luận là do “Kinh nghiệm từ trước và kinh nghiệm hiện nay gom góp, phân tích và kết luận những kinh nghiệm đó mà thành””.
Trong diễn văn khai mạc lớp học lý luận khoá I của trường Nguyễn Ái Quốc ngày 7/9/1957 Hồ Chí Minh coi “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lich str’. Từ những diễn đạt trên của Hồ Chí Minh về lý luận, chúng ta thấy lý luận phải được tổng kết từ kinh nghiệm thực tiễn. Không có kinh nghiệm thực tiễn, rõ ràng là không thể có lý luận. Nhưng kinh nghiệm thực tiễn tự thân chúng chưa phải là lý luận.
Chúng chỉ là điều kiện, tiền đề để khái quát thành lý luận. Nói khác đi những kinh nghiệm này phải được tổng kết thành những kết luận. Những kết luận này phản ánh đúng quy luật vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng một cách khái quát thì mới được coi là lý luận. Như vậy, lý luận phải gắn với thực tiễn, có cơ sở là kinh nghiệm thực tiễn và phải có tính khái quát cao và được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn bởi chủ thể tổng kết thực tiễn.
Điều này cũng cho thấy, không có tổng kết thực tiễn thì không thể ' Hồ Chí Minh, Toàn ráp, NXB CTQG,HN, 1995, tập 5, tr.233 ? Hồ Chí Minh, Sđd, tập 5, tr.272 * Hồ Chí Minh, Sđd, tập 8, tr. Một vấn đề quan trọng nữa, theo Hồ Chí Minh là khi khái quát được những kết luận rồi thì phải “đem nó chứng minh với thực tế. Nghĩa là, lý luận phải được kiểm tra bởi thực tiễn, chứng minh bằng thực tế. Đó mới là lý luận chân chính”!.
Các cách diễn đạt của Hồ Chí Minh về lý luận đều toát lên tỉnh thần: Lý luận là kết quả tổng kết kinh nghiêm thực tiễn. Sau khi ra đời, lý luận phải được chứng minh bằng thực tiễn, thực tế. Lý luận nói chung là hệ thống những tri thức khoa học được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn phản ánh những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, mang tính quy luật của cái sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan. Như vậy, có thể nói lý luận chính trị là hệ thống những tri thức khoa học được khái quát chủ yếu từ kinh nghiệm cải tạo chính trị- xã hội, cải tạo các quan hệ xã hội (hình thức quan trọng của thực tiễn) và thiếu các hoạt động này thì không thể có lý luận chính trị.
Có thể nói, chính tổng kết kinh nghiệm thực tiễn đã cung cấp tư liệu, dữ liệu, thông số khoa học cho các nhà lý luận khái quát thành lý luận chính trị. Về tư duy lý luận: Với tư cách là một công cụ nhận thức khoa học, tư duy lý luận ngày càng có khả năng tiến sâu vào bản chất sự vật, hiện tượng, quá trình của thế giới khách quan. Chính vì vây, nó có thể vạch ra tính quy luật còn ẩn dấu đằng sau các sự vật, hiện tượng để nắm bắt và vận dụng nhu cầu thực tiễn. Tư duy lý luận đã làm cho “trí tuệ con người tìm thấy nhiều điều kỳ diệu trong tự nhiên và sẽ tìm thấy nhiều điều kỳ diệu hơn nữa, do đó làm tăng thêm quyền lực của mình đối với tự nhiên”.
Thực tiễn chứng minh rằng, tư duy lý luận ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển của các khoa học cũng như thực tiễn xã hội. Sự ra đời và phát triển của các khoa học vẫn dựa trên cơ sở thực tiễn, nhưng mối liên hệ phụ thuộc của các khoa học đối với thực tiễn ngày càng to lớn và chủ động. Về vai trò của tư duy lý luận Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “Một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận”. ! Hồ Chí Minh, Sđd, tập 5, tr.233 ?