Luận văn thạc sĩ: Tổ chức và hoạt động của UBND huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam

Luận văn thạc sĩ phân tích thực trạng tổ chức và hoạt động của UBND huyện Tây Giang, Quảng Nam, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện hiệu quả.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn

2021

88
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khám phá vai trò tổ chức hoạt động UBND huyện Tây Giang

Luận văn về tổ chức và hoạt động của UBND huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam cung cấp một cái nhìn sâu sắc về cơ chế vận hành của một chính quyền địa phương ở khu vực miền núi đặc thù. Ủy ban nhân dân (UBND) cấp huyện, theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân (HĐND) cùng cấp và là cơ quan hành chính nhà nước tại địa phương. UBND huyện Tây Giang chịu trách nhiệm trước nhân dân, HĐND huyện và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên. Vai trò của UBND không chỉ dừng lại ở việc thi hành Hiến pháp và pháp luật mà còn là đầu tàu trong việc hoạch định và thực thi các chính sách phát triển kinh tế - xã hội huyện Tây Giang. Cơ quan này đóng vai trò then chốt trong việc đảm bảo sự quản lý thống nhất, thông suốt từ trung ương đến cơ sở, đặc biệt tại một địa bàn có nhiều yếu tố đặc thù về địa lý, dân tộc và an ninh biên giới như Tây Giang. Việc nghiên cứu cơ cấu tổ chức UBND và hiệu quả hoạt động của nó là nhiệm vụ cấp thiết, nhằm xây dựng một bộ máy hành chính huyện Tây Giang tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

1.1. Cơ sở pháp lý về chức năng nhiệm vụ quyền hạn của UBND

Nền tảng pháp lý cho tổ chức và hoạt động của UBND huyện Tây Giang được quy định rõ trong Hiến pháp 2013 và cụ thể hóa tại Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015. Theo đó, UBND cấp huyện có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn bao trùm mọi lĩnh vực đời sống. Về kinh tế, UBND tổ chức thực hiện ngân sách, quản lý đất đai, tài nguyên và thúc đẩy phát triển công-nông nghiệp. Về xã hội, cơ quan này quản lý các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, đảm bảo an sinh. Đặc biệt quan trọng là nhiệm vụ củng cố quốc phòng, an ninh, giữ gìn trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, nhất là tại 8 xã biên giới của huyện. Vai trò của UBND còn thể hiện qua việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền và tổ chức thi hành các văn bản từ cấp trên. Các quy định này là kim chỉ nam cho mọi hoạt động, đảm bảo tính thống nhất và pháp chế trong quản lý nhà nước cấp huyện.

1.2. Phân tích cơ cấu tổ chức bộ máy hành chính huyện Tây Giang

Cơ cấu tổ chức của UBND huyện Tây Giang được thiết lập để đảm bảo hiệu quả quản lý đa ngành, đa lĩnh vực. Theo quy định, UBND huyện gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên. Căn cứ Quyết định 1841/QĐ-TTg, Tây Giang là đơn vị hành chính loại II, do đó có không quá 02 Phó Chủ tịch. Các Ủy viên là người đứng đầu các cơ quan chuyên môn, cùng với Ủy viên phụ trách quân sự và công an. Hiện tại, bộ máy hành chính huyện Tây Giang có 13 cơ quan chuyên môn trực thuộc, được tổ chức theo Nghị định 37/2014/NĐ-CP và Nghị định 108/2020/NĐ-CP. Các phòng ban này (như Phòng Tài chính – Kế hoạch, Phòng Giáo dục & Đào tạo, Phòng Dân tộc...) là bộ phận tham mưu, giúp UBND huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên từng lĩnh vực cụ thể. Quy chế làm việc của UBND phân định rõ trách nhiệm của tập thể và cá nhân, đặc biệt đề cao vai trò của Chủ tịch trong điều hành chung.

II. Thực trạng thách thức trong hoạt động của UBND Tây Giang

Việc phân tích tổ chức và hoạt động của UBND huyện Tây Giang không thể bỏ qua những thách thức đặc thù. Tây Giang là huyện nghèo, miền núi, có 8 xã biên giới, và trên 93% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số Cơtu. Những yếu tố này tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của chính quyền. Trình độ dân trí không đồng đều, kinh tế chủ yếu dựa vào nông-lâm nghiệp và trợ cấp của nhà nước, cơ sở hạ tầng còn nhiều thiếu thốn là những rào cản lớn trong việc triển khai chính sách. Năng lực quản lý của cán bộ, công chức dù đã được nâng cao nhưng vẫn còn những hạn chế nhất định, đặc biệt là trong việc ứng dụng công nghệ thông tin và ngoại ngữ. Công tác phối hợp giữa các cơ quan chuyên môn đôi khi còn chưa nhịp nhàng, gây chậm trễ trong xử lý công việc. Bên cạnh đó, áp lực từ việc phải cân bằng giữa mục tiêu phát triển kinh tế với bảo tồn văn hóa bản địa, bảo vệ môi trường và giữ vững an ninh biên giới đặt ra bài toán phức tạp cho cơ quan hành chính nhà nước cấp huyện. Đây là những thực trạng và giải pháp cần được luận văn mổ xẻ sâu sắc để đề ra phương hướng hoàn thiện.

2.1. Đánh giá ưu điểm và thành tựu đã đạt được

Mặc dù đối mặt với nhiều khó khăn, tổ chức và hoạt động của UBND huyện Tây Giang đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Công tác chỉ đạo, điều hành ngày càng chủ động, linh hoạt, bám sát thực tiễn địa phương. Hệ thống chính trị từ huyện đến xã được củng cố vững mạnh, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Hoạt động phát triển kinh tế - xã hội huyện Tây Giang có nhiều khởi sắc, đặc biệt trong việc phát triển các mô hình dược liệu dưới tán lá rừng như ba kích, đảng sâm, mang lại hiệu quả kinh tế cao và tạo sinh kế bền vững cho người dân. Công tác cải cách thủ tục hành chính được chú trọng, cơ chế một cửa, một cửa liên thông được triển khai tích cực, góp phần nâng cao sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp. Việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc Cơtu được xem là một điểm sáng, với nhiều di sản được công nhận cấp quốc gia, tiêu biểu như “Điệu múa Tân’tung Da’dă”.

2.2. Nhận diện các hạn chế và nguyên nhân cốt lõi

Bên cạnh thành tựu, vẫn còn tồn tại một số hạn chế. Hiệu quả hoạt động của chính quyền đôi khi chưa đáp ứng kỳ vọng do chất lượng một bộ phận cán bộ chưa đồng đều. Luận văn chỉ ra rằng, việc triển khai các chương trình, dự án đôi lúc còn chậm. Công tác phối hợp liên ngành chưa thực sự hiệu quả. Nguyên nhân chính bắt nguồn từ các yếu tố khách quan như địa hình chia cắt, nguồn lực đầu tư hạn chế, và các yếu tố chủ quan như năng lực quản lý của cán bộ, công chức ở một số vị trí còn yếu. Hơn nữa, việc áp dụng các quy định pháp luật vào thực tiễn một địa bàn có nhiều nét văn hóa, tập quán riêng biệt như Tây Giang đòi hỏi sự linh hoạt nhưng đôi khi còn cứng nhắc. Việc tinh giản biên chế gắn với cơ cấu lại đội ngũ cán bộ vẫn là một bài toán khó. Nhận diện rõ những hạn chế này là cơ sở quan trọng để đề xuất các giải pháp cải thiện tổ chức và hoạt động của UBND huyện Tây Giang.

III. Phương pháp cải cách thủ tục hành chính tại UBND Tây Giang

Một trong những giải pháp trọng tâm để nâng cao hiệu quả tổ chức và hoạt động của UBND huyện Tây Giang là đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính (TTHC). Đây là khâu đột phá nhằm xây dựng một nền hành chính phục vụ, minh bạch và hiện đại. UBND huyện đã triển khai nghiêm túc Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 và các văn bản chỉ đạo của tỉnh Quảng Nam. Trọng tâm của cải cách là rà soát, đơn giản hóa các TTHC, đặc biệt trong các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến người dân và doanh nghiệp như đất đai, xây dựng, đầu tư. Việc công khai, minh bạch toàn bộ TTHC trên Cổng thông tin điện tử huyện và niêm yết tại Bộ phận Một cửa đã tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân. Cơ chế một cửa, một cửa liên thông được áp dụng tại 100% các xã, giúp giảm thời gian đi lại và chi phí cho người dân. Những nỗ lực này không chỉ cải thiện môi trường kinh doanh mà còn củng cố niềm tin của nhân dân vào chính quyền địa phương.

3.1. Hiện đại hóa nền hành chính và ứng dụng công nghệ thông tin

Hiện đại hóa hành chính là một trụ cột của cải cách. UBND huyện Tây Giang đã chú trọng đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin. 100% cán bộ, công chức được trang bị máy tính và kết nối Internet. Phần mềm quản lý văn bản Q-Office được triển khai đồng bộ từ huyện đến xã, cho phép trao đổi văn bản điện tử và tiến tới thực hiện ký số, giúp giảm thiểu giấy tờ và rút ngắn thời gian xử lý công việc. Huyện cũng đã bắt đầu triển khai cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4, dù số lượng còn hạn chế nhưng đây là bước đi quan trọng để người dân có thể thực hiện TTHC mọi lúc, mọi nơi. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin không chỉ nâng cao hiệu suất làm việc của bộ máy hành chính huyện Tây Giang mà còn là công cụ hữu hiệu để giám sát, kiểm tra quá trình thực thi công vụ.

3.2. Triển khai cơ chế một cửa một cửa liên thông hiệu quả

Cơ chế một cửa, một cửa liên thông là mô hình cải cách TTHC mang lại hiệu quả rõ rệt nhất. Tại huyện Tây Giang, Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả được kiện toàn, hoạt động ngày càng chuyên nghiệp. Tất cả TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND cấp huyện và cấp xã đều được đưa vào giải quyết theo cơ chế này. Tài liệu nghiên cứu cho thấy, huyện đã "chỉ đạo tổ chức sắp xếp các cơ quan chuyên môn huyện còn 13 phòng chuyên môn" và kiện toàn tổ chức Bộ phận Một cửa theo Nghị định số 61/2018/NĐ-CP. Điều này giúp quy về một đầu mối, giảm phiền hà cho người dân khi không phải đi lại nhiều cơ quan khác nhau. Việc tăng cường tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả qua dịch vụ bưu chính công ích cũng là một giải pháp thiết thực, đặc biệt phù hợp với điều kiện đi lại khó khăn của người dân ở các xã vùng sâu, vùng xa.

IV. Bí quyết nâng cao năng lực quản lý của cán bộ công chức

Con người là yếu tố quyết định sự thành công của mọi cải cách. Do đó, việc nâng cao năng lực quản lý của cán bộ, công chức là giải pháp then chốt cho tổ chức và hoạt động của UBND huyện Tây Giang. Huyện ủy và UBND huyện luôn quan tâm đến công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Các chương trình đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị, kỹ năng quản lý nhà nước được tổ chức thường xuyên. Đặc biệt, huyện chú trọng đào tạo cán bộ là người dân tộc thiểu số, tạo nguồn cán bộ tại chỗ am hiểu sâu sắc văn hóa, phong tục địa phương. Việc xây dựng Đề án vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức là cơ sở để tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ một cách khoa học. Đồng thời, huyện tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, nâng cao đạo đức công vụ và tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ. Một đội ngũ công chức "vừa hồng, vừa chuyên" chính là nền tảng cho một chính quyền địa phương vững mạnh.

4.1. Công tác đào tạo bồi dưỡng và quy hoạch cán bộ

Công tác quy hoạch và đào tạo cán bộ tại Tây Giang được thực hiện bài bản. Luận văn nêu rõ "Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đạt nhiều kết quả, chất lượng cán bộ, công chức được nâng lên". Huyện đã cử nhiều cán bộ theo học các lớp đại học, sau đại học và cao cấp lý luận chính trị. Chất lượng thành viên UBND cấp huyện và xã ngày càng được chuẩn hóa, với 100% thành viên UBND huyện có trình độ đại học trở lên và cao cấp lý luận chính trị. Việc luân chuyển, điều động cán bộ giữa các phòng, ban và giữa huyện với xã cũng là một cách để rèn luyện, bồi dưỡng cán bộ một cách toàn diện, giúp họ có thêm kinh nghiệm thực tiễn và năng lực điều hành.

4.2. Xây dựng vị trí việc làm và tinh giản biên chế

Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, UBND huyện Tây Giang đã triển khai quyết liệt việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy và tinh giản biên chế. Huyện đã "chỉ đạo tổ chức sắp xếp các cơ quan chuyên môn huyện còn 13 phòng chuyên môn, 04 đơn vị sự nghiệp công lập (giảm 04 đơn vị)". Đồng thời, huyện thực hiện sáp nhập thôn, từ 25 thôn thành lập 14 thôn mới và đổi tên 21 thôn. Việc xây dựng và thực hiện Đề án vị trí việc làm theo Quyết định số 2804/QĐ-UBND giúp xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng vị trí, làm cơ sở cho việc tinh giản biên chế một cách hiệu quả, đảm bảo nguyên tắc "đúng người, đúng việc", góp phần xây dựng một bộ máy hành chính gọn nhẹ, hoạt động hiệu lực hơn.

V. Đánh giá hiệu quả hoạt động và quản lý nhà nước cấp huyện

Luận văn đã đưa ra những đánh giá toàn diện về hiệu quả hoạt động của chính quyền huyện Tây Giang. Nhìn chung, tổ chức và hoạt động của UBND huyện Tây Giang đã bám sát các mục tiêu chính trị, kinh tế, xã hội của địa phương và chỉ đạo của cấp trên. Công tác quản lý nhà nước cấp huyện trên các lĩnh vực được triển khai đồng bộ. An ninh quốc phòng được giữ vững, kinh tế có bước phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được cải thiện. Mối quan hệ công tác giữa UBND với HĐND, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể được duy trì chặt chẽ, tạo nên sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị. Quy chế làm việc của UBND được ban hành và thực hiện nghiêm túc, phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn, góp phần nâng cao hiệu quả điều hành. Các chỉ số cải cách hành chính của huyện tuy chưa ở mức cao nhưng đã có sự cải thiện qua từng năm, cho thấy sự nỗ lực không ngừng của cơ quan hành chính nhà nước tại địa phương.

5.1. Kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội

Dưới sự chỉ đạo của UBND huyện, kinh tế - xã hội của Tây Giang đã đạt được những thành tựu quan trọng. Tốc độ tăng trưởng kinh tế được duy trì ổn định. Các chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững và xây dựng nông thôn mới được triển khai tích cực. Luận văn nhấn mạnh việc huyện đã "chủ động và phối hợp lập nhiều dự án cơ hội để đầu tư phát triển kinh tế, xã hội; quan hệ rộng rãi với các tổ chức phi Chính phủ nước ngoài". Lĩnh vực văn hóa - xã hội có nhiều tiến bộ, chất lượng giáo dục, y tế được nâng lên. Việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Cơtu gắn với phát triển du lịch cộng đồng đang mở ra một hướng đi mới cho sự phát triển bền vững của huyện.

5.2. Mối quan hệ phối hợp trong hệ thống chính trị địa phương

Hiệu quả hoạt động của UBND không thể tách rời sự phối hợp chặt chẽ trong hệ thống chính trị. UBND huyện Tây Giang đã duy trì tốt mối quan hệ với Thường trực Huyện ủy để nhận sự lãnh đạo, chỉ đạo; phối hợp với Thường trực HĐND trong việc chuẩn bị các kỳ họp, giải quyết kiến nghị của cử tri. Sự phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể trong việc tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chủ trương, chính sách đã phát huy hiệu quả. Đồng thời, mối quan hệ với Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân được tăng cường, góp phần đảm bảo an ninh trật tự, đấu tranh phòng chống tội phạm và vi phạm pháp luật, củng cố nền tảng của một chính quyền địa phương vững mạnh.

04/10/2025
Luận văn thạc sĩ tổ chức và hoạt động của ủy ban nhân dân cấp huyện từ thực tiễn huyện tây giang tỉnh quảng nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN Ở VIỆT NAM 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân cấp huyện 1. Khái quát về bộ máy chính quyền địa phương ở Việt Nam Khái niệm về chính quyền địa phương tuy được giới nghiên cứu luật học và những nhà quản lý hiểu theo nhiều góc nhìn, song điểm chung nhất ở chỗ là xem chính quyền địa phương là cơ quan do nhân dân địa phương lập ra (mà không phải cơ quan tản quyền) nhằm quản lý điều hành các công việc tại địa phương. Đối với nước ta, một cấp chính quyền ở địa phương thường có cả Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân (hoặc tên gọi khác), nhưng cũng có thể chỉ có cơ quan hành chính nhà nước.

Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến nước ta, Hiến pháp đã xác định tên gọi mới thể hiện ở “Chương IX. Chính quyền địa phương” (gồm 7 điều, từ Điều 110 đến Điều 116). Chương IX của Hiến pháp sửa đổi, quy định nhiều mặt khác nhau của chính quyền địa phương, tại Điều 110 Hiến pháp này đã quy định rõ về đơn vị hành chính của nước ta, cụ thể là: “1. Các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam theo sự phân định sau: Nước được chia ra thành các tỉnh và thành phố trực thuộc TW (gọi chung cấp tỉnh); tỉnh được chia ra thành các huyện, thành phố thuộc tỉnh và thị xã (gọi chung cấp huyện); thành phố trực thuộc TW được chia ra thành quận, thị xã, huyện và đơn vị hành chính tương đương; Huyện được chia ra thành các xã và thị trấn; thành phố thuộc tỉnh và thị xã được chia ra thành các phường và xã; quận được chia ra thành các phường.

Đối với đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt thì do Quốc hội nhà nước ta thành lập. Việc thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính phải lấy ý kiến Nhân dân địa phương và theo trình tự, thủ tục do luật định”. Với cách phân chia đơn vị hành chính lãnh thổ đó có nhiều nét tương đối giống với những quy định trước đó, song dù vậy có một số điểm đáng chú ý: Một là, loại đơn vị hành chính cấp huyện được mở rộng thêm thông qua việc bổ sung “đơn vị hành chính tương đương, mà cụ thể Hiến pháp đã đề cập “đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt” thì do Quốc hội nước ta thành lập. Như vậy, có thể hiểu đây chính là một đơn vị hành chính tương đương, cùng tương đương với cấp huyện (mà không thể là tương đương với cấp xã hoặc cấp tỉnh); Hai là, quy định tại khoản 2, đó là: Việc giải thể, thành lập, điều chỉnh, chia, nhập về địa giới đơn vị hành chính là phải trưng cầu ý kiến Nhân dân địa phương và thực hiện theo luật định về trình tự thủ tục.

Đây chính là điểm đổi mới tiến bộ, phù hợp với xã hội dân chủ - khi quyền của người dân được tham gia quyết định về vấn đề đơn vị hành chính lãnh thổ đã được ghi nhận ở Hiến pháp. Trước khi sửa đổi, Hiến pháp 1992 đã liên kết ngay trong quy định về đơn vị hành chính là: “Việc thành lập Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ở các đơn vị hành chính do luật định” (Điều 108). Thì tại Điều 111 của Hiến pháp sửa đổi này đã quy định một điều riêng về mối liên kết trong Khoản 1 và Khoản 2 thuộc Điều 111, cụ thể là: (1). Chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; (2).

Cấp chính quyền địa phương được cơ cấu gồm HĐND và UBND cùng cấp và được tiến hành tổ chức trên cơ sở phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo và đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do pháp luật quy định”. Trong quy định của Hiến pháp sửa đổi, việc tổ chức chính quyền địa phương được định hướng rõ rệt hơn. Ở đó, có sự phân biệt hai khái niệm “chính quyền địa phương” và “cấp chính quyền địa phương”. Tại Khoản 1 đã ghi: 8 “Chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính”; đây là logic để dẫn dắt quy định tại khoản 2: “Cấp chính quyền địa phương được cơ cấu gồm HĐND và UBND cùng cấp và được tiến hành tổ chức trên cơ sở phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo và đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do pháp luật quy định” (Tức là không nhất thiết đơn vị hành chính nào cũng phải là một cấp chính quyền với hai loại cơ quan kể trên).

Việc tổ chức cấp chính quyền như thế nào tùy thuộc vào các đặc điểm các yếu tố địa lý, kinh tế - xã hội, quan niệm về bộ máy nhà nước, kinh nghiệm thực tiễn, cải cách. hiện tập trung trong các quy định tại các điều 112, 113, 114 của Hiến pháp sửa đổi. Điều 112 đã quy định rằng: “Chính quyền địa phương các cấp được tổ chức và đảm bảo thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; quyết định đối với những vấn đề của địa phương do pháp luật quy định; và chịu sự giám sát, kiểm tra của các cơ quan nhà nước cấp trên. Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương được xác định trên cơ sở phân định thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương và của mỗi cấp chính quyền địa phương.

Trong trường hợp cần thiết, chính quyền địa phương được giao thực hiện một số nhiệm vụ của cơ quan nhà nước cấp trên với các điều kiện bảo đảm thực hiện nhiệm vụ đó”. Xét khía cạnh hình thức, với quy định được nêu tại 03 khoản nói trên đã có nhiều dấu hiệu tương tự giống với những quy định của các quốc gia về tự quản địa phương (hay chính quyền địa phương tự quản), cụ thể là: Một là, chính quyền địa phương các cấp quyết định đối với những vấn đề và công việc của địa phương trên cơ sở pháp luật quy định; Hai là, việc xác định quyền hạn và nhiệm vụ của địa phương dựa trên sự phân định về thẩm quyền đối với từng cấp chính quyền từ TW tới địa phương cơ sở; 9 Ba là, từng cấp chính quyền địa phương thực hiện một số nhiệm vụ do cơ quan nhà nước cấp trên ủy thác với điều kiện phải đảm bảo thực hiện tốt các nhiệm vụ tương ứng. Bốn là, năng lực giám sát, kiểm tra của các cơ quan nhà nước cấp trên đối với hoạt động của chính quyền các cấp ở địa phương. Tuy nhiên, những dấu hiệu đó không là cơ sở để đi đến kết luận rằng chính quyền địa phương được quy định trong Hiến pháp sửa đổi khác biệt về chất so với chính quyền địa phương tại Hiến pháp trước sửa đổi hoặc xem đó là chính quyền địa phương tự quản theo quan niệm chung hiện nay.

Nếu quan niệm một cách khái quát có hai loại chính quyền địa phương, một loại chính quyền địa phương được xem là một bộ phận cấu thành thống nhất có khuynh hướng chủ đạo là tập quyền, tập trung (có ít nhiều có tính dân chủ) và loại chính quyền địa phương được gọi là tự quản thì giữa chúng có sự khác nhau căn bản. Đối với loại thứ nhất, chính quyền địa phương không có “chủ quyền” (hiểu chủ quyền theo nghĩa về phân định thẩm quyền rạch ròi và dứt khoát trong luật), nói chung, nó phải chịu sự tác động (chỉ đạo, mệnh lệnh) của chính quyền, cơ quan nhà nước cấp trên, không có tính độc lập đáng kể. Trái lại, đối với loại thứ hai, chính quyền địa phương có “chủ quyền” trong việc quyết định các mối quan hệ theo chiều dọc với bộ máy hành chính nhà nước. Khái niệm tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân cấp huyện Ở Việt Nam, Uỷ ban nhân dân là khái niệm được dùng từ khi có Hiến pháp năm 1980 đến nay, còn theo Hiến pháp năm 1959 và Hiến pháp năm 1946 cơ quan này được gọi là Uỷ ban hành chính.

Theo pháp luật hiện hành UBND do HĐND cùng cấp tiến hành bầu nên, gồm có chủ tịch UBND, những phó chủ tịch UBND và uỷ viên UBND. Chủ tịch UBND phải là đại biểu HĐND (đại biểu dân cử), các thành viên còn lại của UBND thì không hoàn toàn nhất thiết là đại biểu HĐND. Kết quả về việc bầu thành viên UBND phải do Chủ tịch UBND cấp trên 10 trực tiếp phê duyệt; đối với kết quả bầu thành viên UBND cấp tỉnh thì phải do Thủ tướng chính phủ trực tiếp phê chuẩn. Như vậy, theo luật định hiện hành có thể xác định: Uỷ ban nhân dân cấp huyện trực tiếp do Hội đồng nhân dân cấp huyện bầu nên, đây là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân cấp huyện, là cơ quan hành chính nhà nước cấp huyện, nên phải chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, các đạo luật, những VBQPPL của các cơ quan nhà nước cấp trên và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện.

Uỷ ban nhân dân thực hiện chức năng quản lí hành chính nhà nước ở địa phương trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế, quốc phòng, an ninh. Uỷ ban nhân dân họp mỗi tháng ít nhất một lần do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân triệu tập và chủ toạ. Những quyết định của UBND phải được hơn 50% tổng số thành viên của UBND biểu quyết tán thành. Chủ tịch UBMTTQVN và người đứng đầu những tổ chức chính trị xã hội hợp pháp ở địa phương được mời tham dự những phiên họp UBND cùng cấp một khi bàn bạc các vấn đề có liên quan.

UBND thảo luận tập thể và quyết định theo nguyên tắc đa số đối với những vấn đề quan trọng huyết mạch thuộc thẩm quyền của mình do pháp luật quy định thông qua những phiên họp, cụ thể là: Chương trình việc làm của UBND; quyết toán và dự toán ngân sách thường niên, quỹ dự trữ của địa phương để trình HĐND cùng cấp; báo cáo của UBND trước HĐND cùng cấp để thông qua; Kế hoạch phát triển KT-XH; những biện pháp thực thi nghị quyết HĐND về KT- XH; Đề án về việc thành lập mới, giải thể/ sáp nhập những cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND và việc phân vạch, điều chỉnh địa giới, đơn vị hành chính tại địa phương.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ