MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài - Cây cà tím (Solanum melongena L.) có nguồn gốc ở Ấn Độ và được trồng ở Trung Quốc từ rất sớm, khoảng 500 năm trước công nguyên. Sau đó được người Ả rập và Ba Tư đưa đến châu Phi vào thời trung đại và tìm thấy nó ở Italia vào thế kỉ XIV. Mặc dù cà tím được sử dụng ở nhiều nước một cách dễ dàng, nhưng ở châu Âu người ta đã không ăn quả này, và được gọi là cà dại (Eggplant, 2008) [39].
Bởi vì nó thuộc họ cà, là những cây có chứa chất độ có thể gây nguy hiểm cho con người khi ăn. - Vào những năm 1600 quả cà lần đầu tiên đã được vua Louis thứ XVI giới thiệu vào thực đơn, nhưng thật không may mắn nó đã không được chấp nhận một cách thích thú và bị gọi là loại quả to như quả lê nhưng chất lượng thì tồi. Và người ta cũng nghĩ rằng ăn cà sẽ bị sốt thương hàn, động kinh thậm chí bị điên. Do đó, hơn một thế kỉ sau đó cây cà chỉ được trồng làm cảnh ở châu Âu do màu sắc hoa và quả rất đẹp.
Ở Mỹ cũng vậy, cho đến tận cuối những năm 1800, đầu 1900 khi người Trung Quốc và Ấn Độ đến nhập cư và sử dụng nó như là một loại rau, từ đó mới bắt đầu được chấp nhận tại Bắc Mỹ. Cho đến nay cà đã được sử dụng ở hầu hết các nước trên thế giới. Hàng loạt các tên gọi trong tiếng Ả Rập và các ngôn ngữ Bắc Phi cho cà tím, các tên gọi Hy Lạp và La Mã cổ đã chỉ ra rằng nó được những người Ả Rập đưa tới khu vực địa Trung Hải vào đầu thời Trung cổ. Tên khoa học melongena có nguồn gốc từ một tên gọi trong tiếng Ả Rập vào thế kỷ 16 cho một giống cà tím.
Cà tím được gọi là "eggplant" tại Hoa Kỳ, Australia và Canad. Tên gọi này có từ một thực tế là quả của một số giống ban đầu có màu trắng và trông giống như quả trứng gà. Do quan hệ họ hàng gần của nó với cà độc dược, nên đã có thời người ta tin rằng nó là một loại cây có độc tính. cà tím là một loài cây thuộc họ Cà với quả cùng tên gọi, quả là loại quả mọng n 2 nhiều cùi thịt.
Quả chứa nhiều hạt nhỏ và mềm, chứa nhiều chất dinh dưỡng như nó chứa một hàm lượng xơ cao và các khoáng chất như Vitamin C, Vitamin K, Thiamin, Niacin, Vitamin B6, axit Pantothenic, Magnesium, Phosphorus và đồng, Folate, kali và mangan. trong thành phần của cà tím có 92% nước, 5,5% glucid, 1,3% protid, 0,2% lipid. Các khoáng chất (tính theo mg/100g) gồm: kali 220 mg, phốt pho 15 mg, magiê 12 mg, calcium 10 mg, lưu huỳnh 15 mg, clor 15 mg, sắt 0,5 mg, mangan 0,2 mg, kẽm 0,2 mg, đồng 0,1 mg, iod 0,002 mg. Các vitatmin B1, B12, PP rất ít, nhiều chất nhầy.
Vì lượng chất nhầy này mà cà tím còn có tác dụng hỗ trợ rất điều trị bệnh dạ dày. Chính vì vậy mà người Hàn Quốc thường dùng cà tím phơi khô làm thuốc giảm đau, trị sưng khớp, loét dạ dày còn người Nigeria thường dùng cà tím để chữa đau bụng do tiêu hóa. - Trong cà tím còn chứa nightshade soda, một chất có tác dụng chống ung thư theo các chuyên gia Nhật Bản thì trong nước ép cà tím có nhiều hoạt chất có khả năng ngăn ngừa ung thư dạ dày. - Thực phẩm này là rất thấp trong Chất béo bão hòa, cholesterol và natri tốt cho tim mạch, nhưng lại chứa nhiều đường cao calo.
Quả tươi có mùi vị hơi không hấp dẫn, nhưng khi chế biến rồi thì nó trở thành dễ chịu hơn và có kết cấu rắn chắc, giàu hương vị. Việc ngâm qua nước pha muối và sau đó rửa lại các miếng cà tím đã thái sẽ làm nó mềm hơn và loại bỏ gần hết vị đắng của nó. Nó đặc biệt hữu ích trong nấu ăn, nhờ đó nó có khả năng hấp thụ nhiều dầu ăn mỡ hơn, tạo điều kiện để chế biến được các loại thức ăn giàu dinh dưỡng hơn. Cùi thịt của quả cà tím trơn mượt, các hạt mềm và (giống như hạt cà chua) có thể ăn được cùng với các phần còn lại của quả.
Vỏ quả cũng có thể ăn được, mặc dù nhiều người thích gọt bỏ nó đi. Ở Việt Nam, cà tím thường được nấu cùng tía tô và có trong các món ăn như: cà bung, cà tím xào cần tỏi, cà tím om tôm thịt, cà tím nhồi thịt om cà chua, cà tím tẩm bột rán, cà tím làm dưa muối xổi. n 3 - Tại khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới, cà tím có thể trồng trực tiếp trong vườn. Tại các khu vực ôn đới, việc trồng cây cà tím giống ra vườn chỉ thích hợp khi đã hết sương muối.
Việc gieo hạt thường bắt đầu khoảng 8-10 tuần trước khi hết sương muối. - Nhiều loại sâu bệnh phá hoại các loài thực vật họ Cà khác như cà chua, khoai tây, ớt v.v cũng gây ra phiền toái cho cà tím. Vì lý do này, không nên trồng cà tím tại các khu ruộng trước đó đã trồng các loài cây kia. Người ta cũng khuyến cáo nên canh tác trở lại cà tím trên cùng một thửa ruộng chỉ sau khoảng 4 năm để có thể có mùa màng với thu hoạch tốt.
Các loài sâu hại phổ biến tại Bắc Mỹ là: bọ cánh cứng phá khoai tây, bọ chét, các loài rệp và ve bét. Nhiều loại sâu bệnh này có thể được kiểm soát bằng cách sử dụng Bacillus thurengensis (Bt), một loài vi khuẩn tấn công các phần mềm trên cơ thể của ấu trùng. Sâu trưởng thành có thể kiểm soát bằng cách bẫy bắt. Các loài bọ chét là rất khó kiểm soát.
Vệ sinh tốt khi quay vòng canh tác là cực kỳ quan trọng trong việc kiểm soát bệnh nấm đối với cà tím, trong đó nguy hiểm nhất là các loài Verticillium. - Qua quá trình thực tập sinh tại Israel khoảng cách gieo trồng là khoảng 45-60 cm (18-24 inch) giữa các cây, phụ thuộc vào giống và từ 60- 90 cm (24-36 inch) giữa các luống, phụ thuộc vào các loại công cụ gieo trồng được sử dụng. Thiết kế nhà kính chiều rộng 6,5m,chiều cao 3m đối với nhà kính nhỏ, rộng 8,5m,cao 3,5m đối với nhà kính lớn Lớp phủ bổi là cần thiết để giữ ẩm và chống cỏ dại cũng như nấm. Quả thường được thu hoạch trước khi đài hoa chuyển thành dạng nửa gỗ hóa.
- Để thấy rõ được giá trị và hiệu quả kinh tế của việc trồng cà tím mang lại và tìm hiểu việc tổ chức sản xuất như thế nào cho hiệu quả, em đã được thực tập và tiến hành: “Tìm hiểu công tác tổ chức sản xuất Cà Tím tại Trang trại số 22, Moshav Hatzeva vùng Arava, Israel thuộc trung tâm liên kết và Phát Triển Quốc Tế”. Mục tiêu đề tài - Tìm hiểu công tác tổ chức sản xuất cà tím tại trang trại nghiên cứu, từ đó suy ra bài học kinh nghiệm trong việc trồng và hiệu quả cây cà tím. Mục tiêu cụ thể - Tìm hiểu công tác tổ chức của trang trại, phân tích cách thức sản xuất, thị trường, hiệu quả kinh tế của trang trại qua đó nắm rõ cách thức tổ chức, sản xuất của trang trại. - Định hướng đưa ra các giải pháp đẩy mạnh phát triển hiệu quả sản xuất, tăng giá trị kinh tế từ sản xuất cà tím mang lại.
Về chuyên môn nghiệp vụ - Tạo cơ hội cho sinh viên có cơ hội cọ sát với thực tế, gắn kết nhứng lý thuyết đã học trong nhà trường với môi trường hoạt động sản xuất tại cơ sở, ứng dụng những kiến thức đã học vào thực tế. - Phân tích được điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức trong việc tổ chức sản xuất cà tím - Nắm được các hoạt động sản xuất của trang trại và vai trò của chủ trang trại trong công tác tổ chức và hoạt động kinh doanh. - Đề xuất một số biện pháp, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong trang trại, góp phần phát triển kinh tế cho trang trại trồng cà tím nói riêng và tất cả các trang trại nói chung. - Tạo cơ hội cho sinh viên tham gia các hoạt động tổ chức sản suất tại trang trại, đồng thời tăng khả năng giao tiếp, học hỏi và làm việc tại một môi trường mới.
- Thông qua đợt thực tập này giúp sinh viên nâng cao kỹ năng sử dụng máy tính, kỹ năng thu thập và xử lý thông tin, kỹ năng thuyết trình… là những kỹ năng rất quang trọng cho sinh viên, đặc biệt là đối với những sinh viên năm cuối. Về thái độ và ý thức - Ham học hỏi, biết nắng nghe, ghi chép đầy đủ, hoàn thành tốt công việc chủ trang trại giao. - Nâng cao kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng ứng sử hiệu quả trong công việc. - Có tinh thần trách nhiệm cao khi nhận công việc được giao, làm đến nơi đến chốn, chính xác kịp thời do đơn vị thực tập phân công.
- Quan sát và tìm hiểu những hoạt động ảnh hưởng đến trang trại.Lắng nghe những ý kiến của chủ trang trại. Về kỹ năng sống, kỹ năng làm việc - Tuân thủ giờ giấc hoạt động của trang trại. - Làm việc nghiêm túc, làm việc theo kế hoạch đã được quy định,đúng giờ giấc. - Không tự ý nghỉ, không tự động rời bỏ vị trí thực tập.
- Giao tiếp ứng sử trung thực, lịch sự nhã nhặn, luôn giữ thái độ khiêm nhường và cầu thị. - Biết đóng góp ý kiến của riêng mình trong trường hợp cần thiết. - Tham gia đầy đủ, tích cực các hoạt động và phong trào tại đơn vị thực tập. Nội dung và phƣơng pháp thực hiện 1.
Nội dung thực tập - Tìm hiểu điều kiện tự nhiên của trang trại trồng cà tím tại “Trang trại số 22, Moshav Hatzeva vùng Arava, Israel thuộc trung tâm liên kết và Phát Triển Quốc Tế”. - Tham gia vào quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh tại trang trại. - Tình hiểu công tác tổ chức sản xuất tại Chi nhánh nghiên cứu và phát triển động thực vật bản địa. - Phân tích được những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức và giải pháp phát triển trang trại trồng cà tím.
Phương pháp thực hiện 1. Tiếp cận có sự tham gia - Phương pháp tiếp cận đánh giá có sự tham gia: Đi thực tế, quan sát đánh giá thực trạng và thu thập những thông tin về tình hình sản xuất qua người sản xuất ở vùng nghiên cứu. Nhờ sự giúp đỡ của họ tham gia vào quá trình tìm hiểu để thu thập những thông tin cần thiết.