Luận văn ThS Phương Mai: Tổ chức HĐTN Cơ học Vật lí 10 phát triển năng lực

Luận văn thạc sĩ phân tích tổ chức hoạt động trải nghiệm phần cơ học vật lí 10 theo định hướng phát triển năng lực, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả thi

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục

2019

102
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các sơ đồ và hình

MỞ ĐẦU

1.1. Lí do chọn đề tài

1.2. Mục đích nghiên cứu của đề tài

1.3. Giả thuyết khoa học của đề tài

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

1.5. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

1.6. Phương pháp nghiên cứu của đề tài

1.7. Dự kiến đóng góp của đề tài

1.8. Cấu trúc của luận văn

1. Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NHẰM PHÁT TRIỂN NLST CỦA HS

1.1. Cơ sở lí luận của đề tài

1.2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu

1.3. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực

1.4. Tổ chức hoạt động trải nghiệm trong nhà trường phổ thông

1.5. Năng lực sáng tạo của học sinh trong hoạt động trải nghiệm

1.6. Nghiên cứu cơ sở thực tiễn

1.7. Đặc điểm tâm sinh lí học sinh THPT

1.8. Mục đích điều tra

1.9. Đối tượng điều tra

1.10. Phương pháp điều tra

1.11. Kết quả điều tra

2. Chương 2: XÂY DỰNG TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC HĐTN THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HAI CHƯƠNG “ĐỘNG LỰC HỌC CHẤT ĐIỂM” VÀ “CÂN BẰNG VÀ CHUYỂN ĐỘNG CỦA VẬT RẮN” - VẬT LÍ 10, NHẰM PHÁT TRIỂN NLST CỦA HS

2.1. Đề xuất tiến trình tổ chức HĐTN theo định hướng phát triển năng lực trong hoạt động NCKH của học sinh nhằm phát triển NLST của học sinh

2.2. Mục tiêu dạy học môn Vật lí

2.3. Sơ đồ logic mối quan hệ nội dung và chuẩn kiến thức kĩ năng hai chương “Động lực học chất điểm” và “Cân bằng và chuyển động của vật rắn”

2.4. Sơ đồ logic mối quan hệ nội dung của hai chương “Động lực học chất điểm” và “Cân bằng và chuyển động của vật rắn”

2.5. Chuẩn kiến thức kĩ năng cần đạt của hai chương “Động lực học chất điểm” và “Cân bằng và chuyển động của vật rắn”

2.6. Xây dựng tiến trình tổ chức HĐTN hai chương “Động lực học chất điểm” và “Cân bằng và chuyển động của vật rắn” theo định hướng phát triển năng lực nhằm phát triển NLST của học sinh

2.7. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Mục đích và nhiệm vụ củaTNSP

3.2. Mục đích TNSP

3.3. Đối tượng và nội dungTNSP

3.4. Nội dung TNSP

3.5. Tiến trìnhTNSP

3.6. Công tác chuẩn bị TNSP

3.7. Kế hoạch TNSP chi tiết

3.8. Đánh giá kết quả TNSP

3.9. Xây dựng tiêu chí đánh giá

3.10. Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm

3.11. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

KẾT LUẬN CHUNG

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khám phá HĐTN Vật lí 10 Cơ học Chìa khóa phát triển năng lực học sinh

Trong bối cảnh giáo dục hiện đại, việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực học sinh Vật lí đang trở thành yêu cầu cấp thiết. Nghị quyết số 29 của Hội nghị TW 8 khóa XI và Nghị quyết 88/2014/QH13 của Quốc hội đã khẳng định tầm quan trọng của việc thay đổi căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo, hướng tới mục tiêu phát triển năng lực người học [13],[22]. Chương trình giáo dục phổ thông 2018 Vật lí cũng nhấn mạnh việc tăng cường hoạt động trải nghiệm (HĐTN) ở các cấp học, đặc biệt đối với môn Vật lí – một môn khoa học thực nghiệm có tính ứng dụng cao. Mục tiêu cốt lõi là thông qua các hoạt động trải nghiệm Vật lí 10, học sinh có thể hình thành và phát triển thế giới quan khoa học, cùng với các năng lực quan trọng như năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, và đặc biệt là năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo.

Tổ chức HĐTN Vật lí 10 (Cơ học) phát triển năng lực không chỉ là một phương pháp dạy học tích cực mà còn là nền tảng để học sinh vận dụng kiến thức vào thực tiễn, từ đó nâng cao hứng thú và khả năng tư duy. Phần Cơ học trong chương trình Vật lí 10 với những kiến thức phong phú, liên quan đến nhiều hiện tượng thực tiễn đơn giản và lý thú, tạo điều kiện thuận lợi để học sinh tự mình trải nghiệm quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và vận dụng kiến thức. Việc này không chỉ kích thích hứng thú đối với bộ môn Vật lí nói riêng mà còn giúp rèn luyện kỹ năng, phát triển năng lực, đặc biệt là năng lực sáng tạo [Tác giả luận văn, Mở đầu]. Luận văn này tập trung vào việc xây dựng tiến trình và tổ chức hoạt động trải nghiệm trong hai chương “Động lực học chất điểm” và “Cân bằng và chuyển động của vật rắn” thuộc phần Cơ học của Vật lí 10. Cách tiếp cận này giúp học sinh không chỉ tiếp thu tri thức mà còn chủ động khám phá, ứng dụng kiến thức vào việc chế tạo các thiết bị kỹ thuật có ý nghĩa thực tiễn, qua đó phát triển năng lực học sinh Vật lí một cách toàn diện và bền vững. Việc triển khai dạy học vật lí cơ học 10 theo định hướng này cần sự chuẩn bị kỹ lưỡng về lý luận và thực tiễn, đồng thời đòi hỏi sự đổi mới trong tư duy của cả giáo viên và học sinh để đạt được hiệu quả giáo dục tối ưu.

1.1. Tầm quan trọng của hoạt động trải nghiệm Vật lí phổ thông

Trong chương trình giáo dục phổ thông 2018 Vật lí, hoạt động trải nghiệm được xem là một hợp phần giáo dục bắt buộc từ lớp 1 đến lớp 12, đặc biệt ở cấp THPT còn được định hướng gắn liền với nghề nghiệp [1]. Hoạt động này không chỉ giúp học sinh củng cố kiến thức đã học mà còn tạo cơ hội để các em thử sức, sáng tạo trong việc vận dụng kiến thức vào những tình huống thực tế cụ thể. Mục tiêu của giáo dục Vật lí phổ thông là hình thành và phát triển năng lực học sinh Vật lí, đồng thời hình thành thế giới quan khoa học. Việc tổ chức hoạt động trải nghiệm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc hoàn thiện những năng lực, phẩm chất, kỹ năng và thái độ cho người học. Tri thức được truyền tải qua hoạt động nhận thức, trong khi năng lực, nhân cách, tâm lý lại được xây dựng và hoàn thiện thông qua các hoạt động trải nghiệm có định hướng [11].

Theo Đinh Thị Kim Thoa, hoạt động trải nghiệm là một hoạt động giáo dục cấp cao hơn, đưa người học đến sự phát triển năng lực tự nhiên và toàn diện nhất. Hoạt động này khuyến khích sự kết nối kinh nghiệm học được ở nhà trường với thực tiễn cuộc sống, từ đó củng cố, tích lũy kinh nghiệm và chuyển hóa thành những năng lực cụ thể [15]. Việc lồng ghép hoạt động trải nghiệm vào dạy học vật lí cơ học 10 không chỉ giúp học sinh hiểu sâu hơn về các định luật như định luật Newton Vật lí hay bảo toàn năng lượng Vật lí, mà còn giúp các em phát triển hài hòa về thể chất, tinh thần, hình thành những phẩm chất và năng lực cá nhân dựa trên nỗ lực của bản thân. Tầm quan trọng này càng được thể hiện rõ khi các hoạt động được thiết kế linh hoạt, phong phú và gắn liền với thực tiễn, tạo điều kiện cho học sinh phát huy tối đa tiềm năng sáng tạo của mình.

1.2. Mục tiêu dạy học Vật lí 10 theo định hướng phát triển năng lực

Mục tiêu của dạy học Vật lí 10 (Cơ học) theo định hướng phát triển năng lực học sinh Vật lí vượt ra ngoài việc truyền thụ kiến thức đơn thuần. Theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong "Chương trình giáo dục phổ thông", mục tiêu dạy học Vật lí tập trung vào ba khía cạnh chính: kiến thức, kỹ năng và thái độ. Về kiến thức, học sinh cần đạt được hệ thống kiến thức Vật lí phổ thông, cơ bản, bao gồm các khái niệm, định luật, nguyên lý và những ứng dụng phổ biến của Vật lí trong đời sống và sản xuất. Đặc biệt, cần nắm vững chủ đề cơ học lớp 10, bao gồm động lực học Vật lí 10, bảo toàn năng lượng Vật líđịnh luật Newton Vật lí.

Về kỹ năng, học sinh phải biết quan sát, điều tra, sưu tầm tài liệu, sử dụng các dụng cụ đo phổ biến, lắp ráp và tiến hành các thí nghiệm Vật lí 10 Cơ học đơn giản. Quan trọng hơn, cần biết phân tích, tổng hợp thông tin, đề ra dự đoán và đề xuất phương án thí nghiệm để kiểm tra. Các em phải vận dụng được kiến thức để giải thích các hiện tượng, giải bài tập và giải quyết các vấn đề đơn giản trong cuộc sống. Về thái độ, mục tiêu là khơi gợi hứng thú học Vật lí, yêu thích tìm tòi khoa học, có thái độ khách quan, trung thực, tỉ mỉ và tinh thần hợp tác. Việc thiết kế hoạt động học tập Vật lítổ chức hoạt động trải nghiệm Vật lí 10 là con đường hiệu quả để đạt được những mục tiêu này, giúp học sinh không chỉ nắm vững lý thuyết mà còn biết cách áp dụng chúng một cách linh hoạt, sáng tạo trong thực tiễn.

II. Thực trạng tổ chức HĐTN Vật lí 10 Thách thức nào cần vượt qua

Mặc dù tầm quan trọng của tổ chức hoạt động trải nghiệm Vật lí 10 (Cơ học) phát triển năng lực đã được khẳng định rõ trong các văn bản chỉ đạo và lý luận giáo dục, thực tế triển khai vẫn còn đối mặt với nhiều thách thức đáng kể. Việc tổ chức hoạt động trải nghiệm theo định hướng phát triển năng lực trong quá trình dạy học Vật lí còn gặp khó khăn và chưa được chú trọng đúng mức [Tác giả luận văn, Mở đầu]. Một trong những nguyên nhân chính là hạn chế về thời gian trong chương trình chính khóa, khiến giáo viên khó có thể bố trí các hoạt động trải nghiệm đòi hỏi nhiều thời gian và sự chuẩn bị. Bên cạnh đó, nhiều giáo viên vẫn chưa nắm vững quy trình cụ thể để thiết kế hoạt động học tập Vật lí và triển khai hoạt động trải nghiệm Vật lí 10 một cách hiệu quả. Điều kiện học tập của địa phương, đặc biệt là cơ sở vật chất và nguồn lực, cũng là yếu tố ảnh hưởng lớn đến khả năng thực hiện các thí nghiệm Vật lí 10 Cơ học và các hoạt động thực hành.

Kết quả điều tra thực tiễn tại các trường THPT Lương Phú và Phú Bình (Thái Nguyên) đã chỉ ra rằng, phần lớn giáo viên chưa thực sự quan tâm đến việc định hướng phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh trong quá trình học tập. Phương pháp dạy học chủ yếu vẫn là truyền thống như thuyết trình, vấn đáp [Tác giả luận văn, Chương 1, Bảng 1]. Mặc dù giáo viên nhận thức được vai trò của hoạt động trải nghiệm nhưng việc tổ chức còn ít, một phần do tâm lý e dè, ngại đổi mới, lo lắng không đảm bảo phân phối chương trình hay thời gian tiết học. Về phía học sinh, phần lớn các em còn khá xa lạ với việc học tập thông qua hoạt động trải nghiệm như nghiên cứu khoa học giáo dục hay chế tạo thiết bị kỹ thuật. Sự nhận thức về vai trò và khả năng vận dụng kiến thức hai chương “Động lực học chất điểm” và “Cân bằng và chuyển động của vật rắn” còn hạn chế, dẫn đến việc các em cảm thấy kiến thức quá xa vời thực tiễn và thiếu hứng thú. Những thách thức này đòi hỏi một cách tiếp cận toàn diện, từ việc nâng cao nhận thức, bồi dưỡng năng lực cho giáo viên đến việc xây dựng các quy trình và tài liệu hướng dẫn cụ thể để tổ chức hoạt động trải nghiệm Vật lí 10 (Cơ học) một cách hiệu quả, giúp phát triển năng lực học sinh Vật lí thực sự.

2.1. Khó khăn trong triển khai hoạt động trải nghiệm Vật lí tại trường

Việc tổ chức hoạt động trải nghiệm Vật lí 10 gặp nhiều rào cản từ cả yếu tố chủ quan và khách quan. Một trong những khó khăn lớn nhất là thời lượng dạy học chính khóa còn hạn hẹp, khiến giáo viên không có đủ thời gian để lồng ghép hoạt động trải nghiệm một cách sâu rộng. Lượng kiến thức cần truyền đạt trong dạy học vật lí cơ học 10 lại khá nhiều, gây áp lực cho giáo viên trong việc đảm bảo tiến độ chương trình. Ngoài ra, nhiều giáo viên chưa được tiếp cận đầy đủ hoặc chưa nắm vững quy trình cụ thể để thiết kế hoạt động học tập Vật lí và triển khai hiệu quả. Điều này dẫn đến sự thiếu tự tin và e dè trong việc đổi mới phương pháp.

Cơ sở vật chất của các trường học cũng là một vấn đề. Việc thiếu thốn các thiết bị thí nghiệm Vật lí 10 Cơ học hoặc không gian phù hợp cho các hoạt động thực hành, chế tạo thiết bị kỹ thuật gây cản trở đáng kể. Mặt khác, trình độ nhận thức và khả năng tự chủ của học sinh ở một số địa phương còn chưa đồng đều, đòi hỏi giáo viên phải đầu tư nhiều công sức hơn trong việc định hướng và hỗ trợ. Tâm lý ngại đổi mới, lo lắng không thực hiện đúng phân phối chương trình cũng là rào cản lớn đối với giáo viên [Tác giả luận văn, Chương 1, Bảng 1]. Để khắc phục những khó khăn này, cần có sự đầu tư đồng bộ về thời gian, nguồn lực, và đặc biệt là các chương trình bồi dưỡng chuyên sâu cho giáo viên về phương pháp dạy học định hướng năng lựctổ chức hoạt động trải nghiệm.

2.2. Nhận thức của giáo viên và học sinh về dạy học định hướng năng lực

Qua điều tra thực tế, nhận thức về dạy học định hướng phát triển năng lựctổ chức hoạt động trải nghiệm Vật lí 10 vẫn còn nhiều khoảng trống. Đối với giáo viên, chỉ khoảng 18,75% thể hiện sự chú trọng đến việc định hướng phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh, nhưng việc tổ chức các hoạt động này vẫn chưa thường xuyên và thiếu quy trình cụ thể. Phương pháp giảng dạy chủ yếu vẫn là truyền thống, ít tạo cơ hội cho học sinh tham gia các hoạt động trải nghiệm thực tế [Tác giả luận văn, Chương 1, Bảng 1]. Giáo viên nhận thấy hoạt động trải nghiệm rất cần thiết nhưng lại không tổ chức nhiều do thiếu quy trình, hạn chế thời gian và chưa được tiếp cận phương pháp mới.

Về phía học sinh, phần lớn các em tỏ ra hứng thú với các cách học thông qua hoạt động trải nghiệm, nhận thức được những tác động tích cực mà chúng mang lại. Tuy nhiên, trên thực tế, học sinh chưa được tiếp cận nhiều với các hoạt động như nghiên cứu khoa học giáo dục hay chế tạo thiết bị kỹ thuật. Nếu có, các hoạt động này cũng chỉ dừng lại ở mức độ tự phát hoặc được hướng dẫn sơ sài, khiến các em cảm thấy lúng túng khi ứng dụng Vật lí 10 thực tiễn. Sự vận dụng kiến thức thường chỉ giới hạn ở các ví dụ do giáo viên đưa ra, thiếu đi sự sáng tạo và linh hoạt. Tình trạng này làm cho một bộ phận học sinh cảm thấy kiến thức Cơ học 10 quá xa vời, khó hiểu, từ đó giảm hứng thú với môn học [Tác giả luận văn, Chương 1, Bảng 2]. Để thúc đẩy phát triển năng lực học sinh Vật lí, cần nâng cao nhận thức cho cả giáo viên và học sinh về vai trò của dạy học định hướng năng lực, đồng thời cung cấp các công cụ và điều kiện cần thiết để triển khai hiệu quả.

III. Bí quyết xây dựng tiến trình tổ chức HĐTN Vật lí 10 phát triển NLST

Việc xây dựng một tiến trình cụ thể và khoa học là yếu tố then chốt để tổ chức HĐTN Vật lí 10 (Cơ học) phát triển năng lực đạt hiệu quả cao nhất, đặc biệt là trong việc khơi dậy và bồi dưỡng năng lực sáng tạo cho học sinh. Luận văn đã đề xuất một tiến trình tổ chức hoạt động trải nghiệm theo định hướng phát triển năng lực sáng tạo trong hoạt động nghiên cứu khoa học giáo dục thông qua việc chế tạo thiết bị kỹ thuật [Tác giả luận văn, Chương 2, Sơ đồ 2]. Tiến trình này có sự tương đồng lớn với các bước của hoạt động nghiên cứu khoa học truyền thống, giúp học sinh được tự mình tham gia và thực hiện các hoạt động, thao tác như một nhà nghiên cứu thực thụ. Mục tiêu là chuyển hóa kiến thức lý thuyết về động lực học Vật lí 10cân bằng và chuyển động của vật rắn thành những sản phẩm cụ thể, hữu ích.

Tiến trình được chia thành bốn giai đoạn chính: lựa chọn chủ đề và đặt tên cho HĐTN; lập kế hoạch tổ chức HĐTN; tiến hành HĐTN theo kế hoạch; và tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm HĐTN. Mỗi giai đoạn đều có những mục đích, nhiệm vụ cụ thể cho cả giáo viên và học sinh, đồng thời tích hợp các biện pháp phù hợp để phát triển năng lực sáng tạo của học sinh. Chẳng hạn, trong giai đoạn đầu, học sinh được khuyến khích phát hiện vấn đề thực tiễn, đề xuất ý tưởng về thiết bị kỹ thuật có thể ứng dụng. Giai đoạn lập kế hoạch đòi hỏi học sinh phải thiết kế hoạt động học tập Vật lí một cách chi tiết, từ bản vẽ mô hình đến dự trù vật liệu và chi phí. Việc này không chỉ rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề Vật lí mà còn khuyến khích năng lực tư duy khoa học Vật lí.

Thông qua việc lồng ghép hoạt động trải nghiệm dưới hình thức nghiên cứu khoa học này, học sinh không chỉ được củng cố kiến thức về Cơ học 10 mà còn phát triển các kỹ năng thực hành, tư duy phản biện và khả năng làm việc nhóm. Đây là một phương pháp dạy học định hướng năng lực hiệu quả, giúp học sinh chủ động hơn trong quá trình học tập và trang bị những kỹ năng cần thiết cho tương lai. Sự thành công của tiến trình này phụ thuộc vào sự chuẩn bị kỹ lưỡng của giáo viên và sự chủ động, tích cực của học sinh trong từng hoạt động.

3.1. Các giai đoạn thiết kế hoạt động trải nghiệm Vật lí hiệu quả

Việc thiết kế hoạt động học tập Vật lí theo mô hình hoạt động trải nghiệm đòi hỏi một quy trình bài bản để đảm bảo hiệu quả. Theo tài liệu tập huấn của Bộ GD-ĐT, quy trình này gồm 7 bước [9]. Đầu tiên là xác định nhu cầu tổ chức hoạt động trải nghiệm, dựa trên nhiệm vụ, mục tiêu giáo dục và điều kiện thực tế. Bước này cần làm rõ đối tượng thực hiện và các biện pháp phòng ngừa rủi ro. Tiếp theo là đặt tên cho hoạt động, tên phải hấp dẫn, nói lên chủ đề, mục tiêu, nội dung, hình thức của hoạt động, ví dụ như một giáo án Vật lí 10 Cơ học về việc chế tạo nhà nổi chống lũ.

Bước thứ ba là xác định mục tiêu của hoạt động, dự kiến kết quả đạt được về tri thức, kỹ năng, thái độ, và định hướng giá trị. Mục tiêu rõ ràng sẽ định hướng cho hoạt động và là cơ sở để đánh giá năng lực học sinh Vật lí. Sau đó, xác định nội dung và phương pháp, phương tiện, hình thức của hoạt động, dựa vào chủ đề, mục tiêu và điều kiện cụ thể của lớp. Đây là lúc tích hợp các thí nghiệm Vật lí 10 Cơ học hoặc ứng dụng Vật lí 10 thực tiễn.

Các bước tiếp theo bao gồm lập kế hoạch chi tiết, dự trù nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài liệu, thời gian, chi phí), sau đó là thiết kế chi tiết hoạt động trên bản giấy, phân công công việc cụ thể cho từng nhóm, cá nhân. Cuối cùng, kiểm tra, điều chỉnh và hoàn thiện chương trình hoạt động để đảm bảo tính hợp lý, khả thi và hiệu quả. Việc tuân thủ quy trình này giúp tổ chức hoạt động trải nghiệm Vật lí 10 một cách bài bản, khoa học, góp phần phát triển năng lực học sinh Vật lí một cách toàn diện.

3.2. Đề xuất quy trình hoạt động nghiên cứu khoa học chế tạo TBKT

Trong luận văn, tiến trình tổ chức hoạt động trải nghiệm Vật lí 10 (Cơ học) tập trung vào hình thức nghiên cứu khoa học giáo dục thông qua việc chế tạo thiết bị kỹ thuật (TBKT). Quy trình này được chia thành ba giai đoạn chính, tương ứng với các bước của nghiên cứu khoa học thực thụ. Giai đoạn 1 là phát hiện và xác định vấn đề/đề tài nghiên cứu. Học sinh sẽ bắt đầu bằng việc xác định hiện trạng, hình thành vấn đề nghiên cứu từ các tình huống thực tiễn (ví dụ: ngập lụt), sau đó tìm kiếm, phân tích tổng quan các nghiên cứu liên quan để xác định tên đề tài cụ thể. Ví dụ, chế tạo mô hình Nhà nổi chống ngập lụt, sử dụng kiến thức về động lực học Vật lí 10cân bằng và chuyển động của vật rắn.

Giai đoạn 2 là lập kế hoạch và tiến hành nghiên cứu. Học sinh xây dựng đề cương nghiên cứu, xác định mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ, phương pháp và phương tiện. Đây là lúc các em sẽ thiết kế hoạt động học tập Vật lí một cách chi tiết, bao gồm bản vẽ, vật liệu, chi phí. Sau đó, tiến hành nghiên cứu, thực hiện tác động/can thiệp (chế tạo TBKT), đồng thời giám sát và thu thập dữ liệu. Đây là cơ hội tuyệt vời để học sinh rèn luyện năng lực thực nghiệm Vật línăng lực giải quyết vấn đề Vật lí.

Giai đoạn 3 là viết báo cáo và công bố kết quả. Học sinh sẽ tổng hợp quá trình và kết quả nghiên cứu thành báo cáo, sau đó công bố kết quả thông qua các buổi trình bày hoặc hội thảo. Quy trình này không chỉ giúp học sinh nắm vững kiến thức về Cơ học 10 mà còn phát triển kỹ năng tư duy khoa học Vật lí, khả năng hợp tác và đặc biệt là năng lực sáng tạo thông qua việc tìm tòi, cải tiến sản phẩm. Việc lồng ghép hoạt động trải nghiệm này vào giáo án Vật lí 10 Cơ học giúp học sinh học bằng cách làm, từ đó ghi nhớ và hiểu sâu sắc hơn.

IV. Phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực Cơ học 10

Để tổ chức HĐTN Vật lí 10 (Cơ học) phát triển năng lực một cách hiệu quả, việc lựa chọn và áp dụng các phương pháp dạy học định hướng năng lực là vô cùng quan trọng. Theo Bộ GD-ĐT, dạy học theo quan điểm định hướng phát triển năng lực không chỉ tích cực hóa học sinh về mặt trí tuệ mà còn tập trung rèn luyện năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề Vật lí gắn với các tình huống thực tế cuộc sống, kết hợp hoạt động trí tuệ với thực hành, thực tiễn [2], [3], [4]. Điều này đòi hỏi giáo viên phải vượt ra khỏi khuôn khổ thuyết trình truyền thống, tăng cường dạy học tích cực Vật lí thông qua các hoạt động trải nghiệm, giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn để học sinh có thể phát triển nhiều năng lực đồng thời.

Trong bối cảnh chủ đề Cơ học lớp 10, các phương pháp này càng trở nên thiết yếu. Thay vì chỉ giảng giải về định luật Newton Vật lí hay bảo toàn năng lượng Vật lí, giáo viên cần thiết kế hoạt động học tập Vật lí mà ở đó học sinh được tự mình khám phá, thực hành các thí nghiệm Vật lí 10 Cơ học, hoặc tham gia vào các dự án nhỏ. Điều này giúp các em không chỉ ghi nhớ công thức mà còn hiểu sâu sắc bản chất vật lý của các hiện tượng. Việc lồng ghép hoạt động trải nghiệm còn có thể thông qua các hình thức như câu lạc bộ, tham quan dã ngoại, trò chơi, hội thi, hoặc tổ chức sự kiện liên quan đến Vật lí trong đời sống. Đặc biệt, phương pháp làm việc nhóm được luận văn nhấn mạnh là có ý nghĩa lớn trong việc phát huy vai trò chủ thể, tích cực, sáng tạo của học sinh, đồng thời hình thành các kỹ năng xã hội và phẩm chất nhân cách cần thiết như kỹ năng tổ chức, quản lý, hợp tác [Tác giả luận văn, Chương 1, Mục 1.4].

Việc áp dụng đa dạng các mô hình dạy học Vật lí và phương pháp này giúp học sinh không chỉ phát triển năng lực giải quyết vấn đề Vật lí mà còn cả năng lực tư duy khoa học Vật línăng lực thực nghiệm Vật lí. Đây là cách tiếp cận toàn diện để đảm bảo rằng giáo dục Vật lí không chỉ cung cấp kiến thức mà còn trang bị cho học sinh những kỹ năng thiết yếu để đối mặt với các thách thức trong tương lai và ứng dụng Vật lí 10 thực tiễn một cách hiệu quả.

4.1. Tích hợp giáo dục STEM và phương pháp làm việc nhóm trong HĐTN

Tổ chức hoạt động giáo dục STEM là một xu hướng quan trọng trong giáo dục hiện đại, đặc biệt phù hợp khi lồng ghép hoạt động trải nghiệm vào dạy học Vật lí 10 (Cơ học). STEM (Science, Technology, Engineering, Mathematics) khuyến khích học sinh áp dụng kiến thức đa ngành để giải quyết các vấn đề thực tiễn, từ đó phát triển năng lực giải quyết vấn đề Vật línăng lực sáng tạo. Khi tổ chức hoạt động trải nghiệm Vật lí 10, ví dụ như chế tạo mô hình nhà nổi chống ngập lụt, học sinh sẽ cần vận dụng kiến thức Vật lí (Cơ học), kỹ thuật thiết kế, công nghệ vật liệu và toán học để tính toán, tối ưu hóa sản phẩm.

Phương pháp làm việc nhóm đóng vai trò trung tâm trong các hoạt động STEM và HĐTN. Nó không chỉ phát huy vai trò chủ thể, tích cực, sáng tạo của học sinh mà còn giúp hình thành các kỹ năng xã hội và phẩm chất nhân cách cần thiết như kỹ năng tổ chức, quản lý, giải quyết vấn đề và hợp tác. Khi làm việc nhóm, học sinh học cách phân công nhiệm vụ, thảo luận, đóng góp ý tưởng, và cùng nhau khắc phục khó khăn. Ví dụ, trong dự án chế tạo thiết bị kỹ thuật, các thành viên nhóm cần phối hợp để thực hiện các công việc từ khảo sát, thiết kế, thu thập vật liệu đến lắp ráp và thử nghiệm. Điều này giúp phát triển năng lực học sinh Vật lí không chỉ về mặt kiến thức mà còn về các kỹ năng mềm quan trọng, chuẩn bị cho các em khả năng làm việc hiệu quả trong môi trường thực tế.

4.2. Biện pháp phát triển năng lực sáng tạo trong hoạt động trải nghiệm

Phát triển năng lực sáng tạo là một trong những mục tiêu hàng đầu khi tổ chức hoạt động trải nghiệm Vật lí 10. Các biện pháp hiệu quả cần được áp dụng một cách linh hoạt. Thứ nhất, sử dụng phương pháp tương tự, cho học sinh tìm hiểu những hiện tượng, tình huống thực tế trong cuộc sống thông qua các thí nghiệm Vật lí 10 Cơ học, video, hình ảnh liên quan đến kiến thức đã học. Qua đó, học sinh dự đoán nguyên nhân, kết quả hoặc đề xuất các chủ đề nghiên cứu, các thiết bị kỹ thuật có thể chế tạo. Biện pháp này kích thích sự liên tưởng và tư duy độc đáo.

Thứ hai, đặt các câu hỏi có tính định hướng, ẩn chứa thông tin, nhiệm vụ hay vấn đề để học sinh khi tìm cách trả lời sẽ phát hiện, tưởng tượng ra yếu tố mới, vấn đề mới. Ví dụ, câu hỏi về cách cải thiện độ ổn định của một mô hình bè nổi sử dụng kiến thức động lực học Vật lí 10 có thể khơi gợi nhiều ý tưởng sáng tạo. Thứ ba, hướng dẫn, gợi ý học sinh cách áp dụng kiến thức vào những tình huống cụ thể trong thực tiễn nhằm giải thích hiện tượng, xây dựng phương án thiết kế thiết bị kỹ thuật, cải tiến sản phẩm sẵn có. Sau đó, yêu cầu học sinh làm việc với các tình huống tương tự hoặc hoàn toàn mới. Điều này giúp rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề Vật línăng lực tư duy khoa học Vật lí.

Cuối cùng, hướng dẫn học sinh phát huy khả năng phân tích, phán đoán, tư duy phản biện trong nghiên cứu vấn đề, chỉ ra ưu nhược điểm của các phương án thiết kế, đề xuất khắc phục hạn chế, vận dụng linh hoạt kiến thức về bảo toàn năng lượng Vật lí hay định luật Newton Vật lí để giải quyết bài toán thực tế. Những biện pháp này giúp học sinh không chỉ tiếp thu kiến thức mà còn biến kiến thức thành công cụ để tạo ra những giá trị mới, phát triển toàn diện năng lực sáng tạo.

V. Đánh giá hiệu quả HĐTN Vật lí 10 Minh chứng thực nghiệm sư phạm

Để khẳng định hiệu quả của việc tổ chức HĐTN Vật lí 10 (Cơ học) phát triển năng lực, đặc biệt là năng lực sáng tạo, luận văn đã tiến hành thực nghiệm sư phạm (TNSP) tại trường THPT Lương Phú, Phú Bình, Thái Nguyên. Mục đích của TNSP là kiểm tra tính khả thi và hiệu quả của tiến trình HĐTN đã xây dựng. Kết quả TNSP không chỉ cung cấp minh chứng thực tiễn mà còn là cơ sở để điều chỉnh, hoàn thiện mô hình dạy học Vật lí này. Việc đánh giá năng lực học sinh Vật lí trong quá trình trải nghiệm được thực hiện thông qua nhiều hình thức, đảm bảo tính khách quan và toàn diện. Điều này bao gồm quan sát trực tiếp, đánh giá sản phẩm hoạt động, và phân tích báo cáo của học sinh.

Quá trình TNSP được chuẩn bị kỹ lưỡng, từ việc xây dựng tiêu chí đánh giá cho đến kế hoạch thực hiện chi tiết. Các tiêu chí đánh giá sự phát triển năng lực sáng tạo của học sinh trong HĐTN được xây dựng cụ thể, với các mức độ từ thấp đến cao, hướng đến các khía cạnh như tính độc đáo, tính thành thục, tính mềm dẻo, tính mới mẻ và tính hiệu quả của sản phẩm. Việc lồng ghép hoạt động trải nghiệm dưới hình thức chế tạo thiết bị kỹ thuật như Nhà nổi chống ngập lụt hay Bè ứng cứu cơ động đã giúp học sinh vận dụng trực tiếp kiến thức Cơ học 10 vào việc giải quyết các vấn đề thực tiễn, qua đó bộc lộ rõ rệt năng lực thực nghiệm Vật línăng lực giải quyết vấn đề Vật lí.

Kết quả định tính và định lượng từ TNSP cho thấy sự chuyển biến tích cực trong thái độ và năng lực của học sinh. Các em trở nên hứng thú, chủ động hơn trong học tập, khả năng ứng dụng Vật lí 10 thực tiễn được nâng cao, và đặc biệt là năng lực sáng tạo được kích thích mạnh mẽ. Điều này minh chứng cho tính hiệu quả của phương pháp dạy học định hướng năng lực thông qua hoạt động trải nghiệm Vật lí 10, góp phần vào việc đổi mới giáo dục Vật lí phổ thông theo hướng hiện đại và bền vững. Việc đánh giá năng lực học sinh Vật lí một cách toàn diện là cực kỳ quan trọng để nhận diện những điểm mạnh, điểm yếu và đưa ra các biện pháp hỗ trợ kịp thời.

5.1. Tiêu chí đánh giá năng lực sáng tạo và kết quả hoạt động trải nghiệm

Để đánh giá năng lực học sinh Vật lí nói chung và năng lực sáng tạo nói riêng trong hoạt động trải nghiệm Vật lí 10, cần có hệ thống tiêu chí rõ ràng và khách quan. Luận văn đã xây dựng các tiêu chí đánh giá dựa trên các mức độ phát triển năng lực sáng tạo của học sinh trong HĐTN, từ cấp độ vận dụng kiến thức đã biết để thực hiện chủ đề tương tự, đến cấp độ đề xuất nhiều phương án thiết kế (PATK) và cải tiến để xây dựng mô hình tối ưu nhất [Tác giả luận văn, Chương 1, Sơ đồ Các mức độ phát triển NLST của HS]. Các tiêu chí này tập trung vào các khía cạnh như tính độc đáo của ý tưởng, tính thành thục trong thao tác thực hiện, tính mềm dẻo trong việc điều chỉnh giải pháp, tính mới mẻ của sản phẩm, và tính hiệu quả trong việc giải quyết vấn đề.

Việc đánh giá năng lực sáng tạo được thực hiện ở hai nội dung: đánh giá cá nhân và đánh giá nhóm học sinh, thông qua nhiều hình thức như quan sát trực tiếp quá trình làm việc, đánh giá sản phẩm cuối cùng (ví dụ: mô hình thiết bị kỹ thuật), và phân tích các bài viết báo cáo. Các bảng tiêu chí đánh giá được xây dựng đảm bảo tính khách quan và hệ thống, giúp giáo viên và cả học sinh tự đánh giá lẫn nhau (đánh giá đồng đẳng). Điều này không chỉ giúp thu thập thông tin chính xác về mức độ phát triển năng lực học sinh Vật lí mà còn khuyến khích học sinh phát triển năng lực tư duy khoa học Vật lí và khả năng tự phản biện. Hệ thống tiêu chí này là công cụ hữu ích để xác định mức độ đạt được của mục tiêu phát triển năng lực thông qua tổ chức hoạt động trải nghiệm Vật lí 10.

5.2. Phân tích kết quả thực nghiệm sư phạm tại trường THPT Lương Phú

Kết quả từ thực nghiệm sư phạm tại trường THPT Lương Phú và Phú Bình đã cung cấp minh chứng rõ ràng về hiệu quả của tiến trình tổ chức HĐTN Vật lí 10 (Cơ học) phát triển năng lực. Việc triển khai các hoạt động chế tạo mô hình thiết bị kỹ thuật như Nhà nổi chống ngập lụt hay Bè ứng cứu cơ động đã mang lại những thay đổi tích cực đáng kể. Cụ thể, học sinh thể hiện sự hứng thú, tích cực hơn trong các hoạt động học tập, không còn cảm thấy chủ đề Cơ học lớp 10 khô khan, trừu tượng. Khả năng ứng dụng Vật lí 10 thực tiễn của các em được nâng cao rõ rệt, đặc biệt là trong việc giải thích các hiện tượng liên quan đến động lực học Vật lí 10bảo toàn năng lượng Vật lí.

Đánh giá định tính và định lượng cho thấy, phần lớn học sinh đã phát triển được các biểu hiện của năng lực sáng tạo, từ việc xác định chủ đề nghiên cứu, đề xuất phương án thiết kế, đến khả năng cải tiến sản phẩm. Các em thể hiện năng lực giải quyết vấn đề Vật línăng lực thực nghiệm Vật lí một cách chủ động, linh hoạt hơn. Qua các hoạt động nhóm, kỹ năng giao tiếp và hợp tác cũng được cải thiện đáng kể. Mặc dù vẫn còn một bộ phận học sinh cần được hỗ trợ thêm, nhưng kết quả chung đã khẳng định giả thuyết khoa học của luận văn: nếu tổ chức hoạt động trải nghiệm Vật lí 10 (Cơ học) dựa trên cơ sở lý luận vững chắc, có thể phát triển năng lực sáng tạo của học sinh. Điều này cung cấp một cơ sở thực tiễn quan trọng cho việc nhân rộng mô hình dạy học Vật lí này trong giáo dục Vật lí phổ thông và các đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục tiếp theo, góp phần vào sự đổi mới toàn diện của giáo dục.

VI. HĐTN Vật lí 10 Tầm nhìn tương lai và khuyến nghị cho giáo dục

Việc tổ chức HĐTN Vật lí 10 (Cơ học) phát triển năng lực đã và đang mở ra một hướng đi mới đầy triển vọng cho giáo dục Vật lí phổ thông. Kết quả từ các nghiên cứu và thực nghiệm sư phạm cho thấy hoạt động trải nghiệm không chỉ là một phương pháp mà còn là một triết lý giáo dục, giúp học sinh chuyển hóa tri thức thành năng lực, chuẩn bị tốt hơn cho cuộc sống và sự nghiệp tương lai. Tầm nhìn tương lai của giáo dục Vật lí sẽ tiếp tục ưu tiên việc lồng ghép hoạt động trải nghiệm một cách sâu rộng, đa dạng và có hệ thống hơn nữa. Điều này đòi hỏi sự đồng bộ trong chính sách, chương trình, tài liệu và đặc biệt là năng lực của đội ngũ giáo viên.

Các khuyến nghị quan trọng bao gồm việc tiếp tục nghiên cứu và phát triển các mô hình dạy học Vật lí mới, linh hoạt hơn, phù hợp với điều kiện và đặc thù của từng địa phương. Cần có thêm các đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục tập trung vào việc đánh giá năng lực học sinh Vật lí trong các bối cảnh khác nhau của hoạt động trải nghiệm. Việc biên soạn các giáo án Vật lí 10 Cơ học tích hợp các hoạt động trải nghiệm một cách chi tiết, dễ áp dụng cũng là yếu tố then chốt để hỗ trợ giáo viên. Ngoài ra, cần tăng cường các chương trình bồi dưỡng chuyên môn, tập huấn cho giáo viên về phương pháp dạy học định hướng năng lực, tổ chức hoạt động giáo dục STEM và kỹ năng thiết kế hoạt động học tập Vật lí sáng tạo.

Sự đầu tư vào cơ sở vật chất, thiết bị thí nghiệm Vật lí 10 Cơ học và các nguồn tài nguyên học liệu số cũng cần được đẩy mạnh để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc triển khai hoạt động trải nghiệm. Hơn hết, cần thay đổi nhận thức của cả cộng đồng về vai trò của Vật lí trong đời sống và tầm quan trọng của việc học Vật lí thông qua trải nghiệm thực tế, từ đó tạo ra một môi trường học tập cởi mở, khuyến khích sự tò mò, khám phá và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng một thế hệ học sinh không chỉ giỏi về kiến thức mà còn thành thạo về kỹ năng, có khả năng giải quyết vấn đề Vật lí và đóng góp tích cực cho xã hội.

6.1. Ý nghĩa của việc lồng ghép hoạt động trải nghiệm trong dạy học Vật lí

Việc lồng ghép hoạt động trải nghiệm vào dạy học Vật lí 10 mang ý nghĩa sâu sắc, vượt ra ngoài việc truyền thụ kiến thức. Trước hết, nó giúp học sinh nhận thức rõ hơn về vai trò của Vật lí trong đời sống, kết nối lý thuyết hàn lâm với các hiện tượng thực tiễn. Khi học sinh được trực tiếp tham gia vào các thí nghiệm Vật lí 10 Cơ học hoặc dự án chế tạo thiết bị kỹ thuật, các em sẽ hiểu sâu sắc hơn về định luật Newton Vật lí, bảo toàn năng lượng Vật lí, hay các khái niệm trong động lực học Vật lí 10 thông qua việc nhìn thấy ứng dụng cụ thể. Điều này giúp nâng cao hứng thú và động lực học tập, biến môn Vật lí từ một môn học 'khó' thành 'hấp dẫn' và 'có ý nghĩa'.

Thứ hai, hoạt động trải nghiệm là nền tảng vững chắc để phát triển năng lực học sinh Vật lí toàn diện. Các em được rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề Vật lí, năng lực tư duy khoa học Vật lí, năng lực thực nghiệm Vật lí, kỹ năng làm việc nhóm, giao tiếp và đặc biệt là năng lực sáng tạo. Qua mỗi hoạt động, học sinh không chỉ thu nhận kiến thức mà còn hình thành các kỹ năng mềm quan trọng, cần thiết cho thế kỷ 21. Đây là cách tiếp cận phù hợp với chương trình giáo dục phổ thông 2018 Vật lí, nhấn mạnh vào việc đào tạo con người có phẩm chất và năng lực, sẵn sàng đối mặt với những thách thức mới. Việc lồng ghép hoạt động trải nghiệm cũng góp phần vào việc thực hiện dạy học tích cực Vật lí, khuyến khích học sinh chủ động, khám phá và tự xây dựng tri thức cho bản thân.

6.2. Định hướng tiếp tục nghiên cứu và ứng dụng mô hình dạy học Vật lí

Để phát huy hơn nữa hiệu quả của việc tổ chức HĐTN Vật lí 10 (Cơ học) phát triển năng lực, cần có những định hướng rõ ràng cho các đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục và ứng dụng trong tương lai. Một trong những định hướng quan trọng là tiếp tục phát triển và đa dạng hóa các mô hình dạy học Vật lí dựa trên hoạt động trải nghiệm. Cần có thêm các nghiên cứu sâu về việc lồng ghép hoạt động trải nghiệm vào các chương khác của Vật lí 10 cũng như các cấp học khác, không chỉ giới hạn trong chủ đề Cơ học lớp 10.

Thứ hai, cần xây dựng các bộ tài liệu hướng dẫn chi tiết, các giáo án Vật lí 10 Cơ học mẫu tích hợp HĐTN, và các nguồn học liệu số phong phú để hỗ trợ giáo viên. Các tài liệu này nên bao gồm hướng dẫn về cách thiết kế hoạt động học tập Vật lí, quy trình tổ chức hoạt động giáo dục STEM và cách đánh giá năng lực học sinh Vật lí một cách toàn diện. Thứ ba, tăng cường hợp tác giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng để tạo môi trường thuận lợi cho học sinh tham gia các hoạt động thực tiễn. Việc kết nối với các doanh nghiệp, trung tâm nghiên cứu có thể mở ra nhiều cơ hội cho học sinh ứng dụng Vật lí 10 thực tiễn và tham gia vào các dự án mang tính đột phá.

Cuối cùng, việc đào tạo và bồi dưỡng giáo viên cần được chú trọng để nâng cao năng lực chuyên môn và sư phạm, giúp họ tự tin triển khai các phương pháp dạy học định hướng năng lực. Các luận văn thạc sĩ giáo dục Vật lí trong tương lai có thể tiếp tục khai thác các khía cạnh về hiệu quả của HĐTN, các yếu tố ảnh hưởng, và các giải pháp tối ưu để phát triển năng lực học sinh Vật lí một cách bền vững. Điều này sẽ góp phần vào sự phát triển không ngừng của giáo dục Vật lí phổ thông.

01/10/2025
Luận văn thạc sĩ tổ chức hoạt động trải nghiệm phần cơ học vật lí 10 theo định hướng phát triển năng lực

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NHẰM PHÁT TRIỂN NLST CỦA HS 1. Cơ sở lí luận của đề tài 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1. Lịch sử nghiên cứu nước ngoài Trải qua nhiều thời kì, hệ thống lý luận giáo dục đã được các nhà tâm lý học, giáo dục học luôn quan tâm nghiên cứu và ngày càng phát triển một cách hoàn thiện hơn.

Trong đó có hệ thống lý luận về HĐTN. Tuy được nghiên cứu ở nhiều phương diện khác nhau, nhưng có thể thấy hệ thống lý luận về HĐTN trong giáo dục đã được nghiên cứu từ khá sớm và được trình bày thống nhất với hệ thống lý luận giáo dục chung. Theo “Lí thuyết về hoạt động”, hoạt động chính là một phương thức tồn tại của con người. Thông qua những hoạt động của mình, con người dần hình thành và phát triển, bản chất, nhân cách.

Đây cũng chính là nguyên tắc “Tâm lý hình thành qua hành động” - nguyên tắc có ý nghĩa định hướng, chỉ đạo, tổ chức các hoạt động giáo dục con người. Từ việc vận dụng nguyên tắc trên, nhiều nhà nghiên cứu lí luận dạy học đã chỉ ra vai trò của hoạt động trong quá trình giáo dục. Theo nhà tâm lí học Vưgotxki: “Trong lớp học cần coi trọng sự khám phá có trợ giúp hơn sự tự khám phá, trong đó sự sự khuyến khích định hướng của giáo viên và sự hoạt động hợp tác của các bạn học cũng đóng vai trò rất quan trọng”.Kolb trong “Lý thuyết học qua trải nghiệm” đã chỉ ra rằng: “Học từ trải nghiệm là một quá trình học theo đó kiến thức, năng lực được tạo ra thông qua việc chuyển hóa kinh nghiệm. Học từ trải nghiệm gần giống với học thông qua làm nhưng khác là ở chỗ nó gắn với kinh nghiệm và cảm xúc cá nhân”.

Như vậy, ngoài mục tiêu mang đến tri thức khoa học, hoạt động giáo dục còn có nhiệm vụ hoàn thành, phát triển những năng lực, phẩm chất, kĩ năng,thái độ cho người học. Tri thức sẽ truyền tải thông qua hoạt động nhận Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn download by : skknchat@gmail.com thức, còn năng lực, nhân cách, tâm lý thì phải được xây dựng, hoàn thiện thông qua các hoạt động trải nghiệm một cách có định hướng [11]. Lịch sử nghiên cứu trong nước Trong khoảng thời gian gần đây, giáo dục Việt Nam đã có nhiều đổi mới tích cực. Điển hình là đã chú trọng đến việc tổ chức HĐTN trong chương trình phổ thông.

Điều này được khẳng định trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể ban hành năm 2018: “HĐTN và HĐTN, hướng nghiệp là HĐGD bắt buộc thực hiện từ lớp 1 đến lớp 12; ở cấp tiểu học được gọi là HĐTN, ở cấp THPT được gọi là HĐTN, hướng nghiệp” [1]. Ở cấp THPT tập trung hơn vào các HĐGD có tính hướng nghiệp, nhằm giúp học sinh phát triển khả năng định hướng nghề nghiệp. Thông qua các HĐTN hướng nghiệp, học sinh được đánh giá và tự đánh giá về những năng lực, thế mạnh, hứng thú nghề nghiệp, ngoài ra còn rèn luyện, phát triển những phẩm chất và năng lực để thích ứng nghề nghiệp trong tương lai [9]. Trên tinh thần đó, HĐTN cũng được rất nhiều tác giả trong nước nghiên cứu ở các phương diện.

Mặc dù có nhiều quan điểm của các nhà nghiên cứu khác nhau nhưng có thể thấy các tác giả đều cho rằng: HĐTN là những HĐGD được tổ chức gắn liền với những kinh nghiệm, với cuộc sống, để học sinh có thể thực sự trải nghiệm. Đây là một hoạt động mang tính tập thể, trên tinh thần tự chủ của mỗi cá nhân, giúp mỗi cá nhân có thể phát triển tính sáng tạo và cá tính riêng [15][24]. Theo Đinh Thị Kim Thoa thì HĐTN là một hoạt động rất quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông mới. Thông qua các HĐGD với sự trải nghiệm và sáng tạo trong việc thực hiện kết nối kinh nghiệm đã tiếp thu được ở nhà trường với thực tiễn cuộc sống, người học có thể củng cố, tích lũy thêm kinh nghiệm và chuyển hóa thành những năng lực cụ thể.

Ngoài ra, tác giả cũng chỉ ra sự khác biệt giữa quan điểm “học đi đôi với hành” và “học từ trải nghiệm”. Có thể nói rằng “học từ trải nghiệm” là một HĐGD ở cấp cao hơn, đưa người học hướng đến sự phát triển tự nhiên và toàn diện nhất [15]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn download by : skknchat@gmail.com Các tác giả cũng chỉ ra: Để có thể thực hiện những mục tiêu này, HĐTN cần có hình thức và phương pháp tổ chức đa dạng, phong phú và linh hoạt, đặc biệt cần gắn liền với thực tiễn. HĐTN không chỉ giúp HS củng cố được các kiến thức đã học mà còn giúp HS có cơ hội thử sức, sáng tạo trong vận dụng ở những tình huống thực tế cụ thể.

Qua đó, HS có thể phát triển hài hòa về thể chất, tinh thần và hình thành những phẩm chất, năng lực cá nhân dựa trên sự nỗ lực của bản thân. HĐTN có thể tổ chức dưới nhiều hình thức và phương pháp tổ chức khác nhau. Tùy theo tính chất, mục tiêu, đối tượng của HĐGD, đặc điểm vùng miền,…mà nhà trường có thể lựa chọn những phương pháp và hình thức tổ chức HĐTN phù hợp nhất [10],[12],[15],[25]. Sau mỗi HĐTN, cần có sự đánh giá cụ thể về kết quả thu được.

Có thể sử dụng nhiều cách thức đánh giá, theo những quy trình đánh giá khác nhau. Để việc đánh giá có tính chính xác, hiệu quả nhất, cần căn cứ vào đối tượng, mục đích đánh giá để xây dựng những quy trình và bộ tiêu chí đánh giá phù hợp. Từ đó, đưa ra cách thức và công cụ thu thập, xử lý thông tin hợp lý. Qua kết quả thu được, phải có những phân tích cụ thể, xác nhận kết quả: đạt hay không đạt yêu cầu, đạt ở mức độ nào, dấu hiệu dẫn chứng cụ thể…[1][17] 1.

Dạy học theo định hướng phát triển năng lực 1. Xác định các năng lực chung cốt lõi và năng lực chuyên biệt môn Vật lí cấp THPT a. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực. Theo một số tài liệu về dạy học theo định hướng PTNL của Bộ GD-ĐT: Dạy học theo quan điểm định hướng PTNL là phương pháp dạy học ngoài việc tích cực hóa học sinh về mặt trí tuệ thì còn tập trung vào rèn luyện năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề (NL PH&GQVĐ) gắn với các tình huống thực tế cuộc sống, gắn hoạt động trí tuệ với thực hành, thực tiễn [2], [3], [4].

- Mục tiêu dạy học: Học sinh nhận biết, tái hiện kiến thức và vận dụng kiến thức trong các tình huống cụ thể, nhiệm vụ học tập cụ thể gắn với thực tiễn cuộc sống. - Phương pháp dạy học: Ngoài việc dạy học thuyết trình kiểu truyền thống, cần tăng cường thêm việc tổ chức các HĐTN, giải quyết những nhiệm vụ thực tiễn để HS có thể phát triển nhiều năng lực đồng thời. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn download by : skknchat@gmail.com - Nội dung dạy học được xây dựng thông qua các chủ đề, các hoạt động, nhiệm vụ đa dạng gắn với thực tiễn cuộc sống. - Về kiểm tra đánh giá: Cần xây dựng bộ công cụ đánh gía trong đó chỉ rõ các thành tố của năng lực chung và năng lực chuyên biệt cần được đánh giá.

Sự liên hệ giữa mục tiêu, hoạt động dạy học và công cụ đánh giá được thể hiện một cách gắn bó chặt chẽ với nhau. Các năng lực chuyên biệt môn Vật lí Có nhiều quan điểm để xây dựng chuẩn các năng lực chuyên biệt trong dạy học bộ môn Vật lý. Tuy nhiên, theo các tài liệu “Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể” và “Tài liệu tập huấn kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực HS môn Vật lí cấp THPT” thì việc xây dựng các chuẩn năng lực chuyên biệt bằng cách cụ thể hóa các năng lực chung là phù hợp hơn cả. Theo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể năm 2018, nhóm các năng lực chung cần hình thành gồm có: - Nhóm năng lực tự học và tự chủ.

- Năng lực giải quyết vấn đề (đặc biệt là năng lực giải quyết vấn đề bằng con đường thực nghiệm) và NLST - Năng lực giao tiếp và hợp tác Trong giáo dục Vật lí, nhóm năng lực tự chủ và tự học được hình thành và phát triển thông qua các hoạt động làm thực hành, dự án, thiết kế và thực hiện phép đo, nhất là trong việc tìm tòi và khám phá khoa học. Quá trình này định hướng sự PTNL thành phần trong Vật lí như NL PH&GQVĐ, năng lực hợp tác, năng lực thực nghiệm, năng lực quan sát, NLST……[1][3] 1. Các phương pháp và hình thức dạy học vật lí tạo điều kiện phát triển năng lực Theo Phạm Xuân Quế và các tác giả: Phương pháp dạy học theo định hướng PTNL được thực hiện theo định hướng nhằm đảm bảo: - Thông qua các hoạt động như thực hành, trải nghiệm, khám phá các hiện tượng Vật lí để phát triển các phẩm chất chủ yếu, năng lực chung và năng lực vật lí cốt lõi. Giúp HS có thể vận dụng những kiến thức,kĩ năng để phát Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn download by : skknchat@gmail.com hiện và giải quyết vấn đề trong thực tiễn.

Quan tâm, chú trọng tổ chức cho HS tự học theo kế hoạch dưới sự hướng dẫn của GV, đảm bảo phù hợp với tâm sinh lí lứa tuổi và khả năng của mỗi HS. - HĐHT của HS bao gồm các hoạt động khám phá vấn đề, hoạt động luyện tập, thực hành, thực hiện bởi sự hỗ trợ của các thiết bị dạy học, của công cụ tin học, các hệ thống tự động hóa và kĩ thuật số. - Các HĐGD này được thực hiện cả trong và ngoài nhà trường thông qua các hình thức học tập phong phú, đa dạng. Căn cứ vào mục tiêu, tính chất của các HĐGD, HS được tổ chức làm việc độc lập, làm việc nhóm…đảm bảo mỗi HS được tạo điều kiện để tự bản thân được thực hiện nhiệm vụ và trải nghiệm thực tế [3].

Đánh giá theo định hướng phát triển năng lực Theo các tài liệu tập huấn của Bộ GD-ĐT: Sau khi HS kết thúc một nhiệm vụ hay một giai đoạn học tập thì cần tổ chức kiểm tra, đánh giá .

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ