MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của đề tài Nƣớc ta là một nƣớc nông nghiệp có truyền thống là trồng cây lúa nƣớc. Với diện tích ¾ là đồi núi, dân cƣ sinh sống tập trung ở các khu đô thị, các thành phố lớn, trung tâm các huyện, thị trấn và sinh sống thƣa thớt ở các khu vực nông thôn trong phạm vi cấp làng, xã, ấp, bản. Đến nay, tuy quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ nhƣng vẫn còn khoảng 66,94% dân số và 70,2% lực lƣợng lao động nƣớc ta tập trung ở khu vực nông thôn.
Ở nƣớc ta, phát triển nông nghiệp có liên quan mật thiết đến tính bền vững của sự phát triển. Nếu khoảng cách giữa thành thị và nông thôn ngày càng tăng, phân hóa xã hội quá mức thì dù có đạt đƣợc sự tăng trƣởng cao cũng chƣa thể coi là đã có phát triển. Hơn thế nữa, nông nghiệp, nông dân và nông thôn là ba vấn đề tuy khác nhau, nhƣng nếu không cùng đƣợc giải quyết một cách đồng bộ thì không thể công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc thành công đƣợc. Vấn đề nông nghiệp Hiện nay, có ý kiến cho rằng, nông nghiệp nƣớc ta đã phát triển tƣơng đối tốt.
Đặc biệt, chúng ta xuất khẩu đƣợc nhiều nông sản trong điều kiện giá lƣơng thực và nông sản thế giới đang tăng. Tuy nhiên, thực tế không hẳn nhƣ vậy, vẫn còn nhiều bất cập khiến chúng ta phải quan tâm nhiều hơn đến sự phát triển của nông nghiệp. Tỷ trọng của nông nghiệp trong sản phẩm quốc nội (GDP) giảm dần, nhƣng không có nghĩa là vai trò của nông nghiệp ngày càng giảm. Thực tế cho thấy, Hoa Kỳ và Pháp, hai nƣớc có nền công nghiệp phát triển vào bậc nhất thế giới cũng là hai nƣớc xuất khẩu nông sản lớn nhất thế giới.
Ngƣợc lại, các nƣớc Đông Á, vốn đƣợc coi là giải quyết tốt vấn đề n 2 nông nghiệp song song với công nghiệp hóa, thì hiện nay phải nhập khẩu lƣơng thực và nông sản ngày càng nhiều, vì nông nghiệp đã giảm sút nghiêm trọng. Việc các nƣớc đã phát triển đang phải trợ cấp cho nông nghiệp rất nhiều làm cho các nƣớc đang phát triển gặp không ít khó khăn là cái giá phải trả cho việc đã không chú ý đến nông nghiệp trong thời kỳ công nghiệp hóa. Vấn đề nông dân Một thực tế là, nông dân còn quá nghèo, việc giải quyết giảm nghèo chƣa gắn liền với phát triển kinh tế nông thôn nên chƣa bền vững, nguy cơ tái nghèo vẫn còn rất cao. Nông dân là bộ phận công dân ít đƣợc hƣởng phúc lợi xã hội, nhất là về giáo dục, y tế.
Những vấn đề xã hội ở nông thôn chƣa đƣợc giải quyết một cách cơ bản nhƣ: bảo hiểm thiệt hại do thiên tai và thị trƣờng, bảo hiểm xã hội. Theo kinh nghiệm của các nƣớc, không thể chỉ giải quyết các vấn đề xã hội của nông thôn bằng các biện pháp thị trƣờng. Nông dân thiếu việc làm ở nông thôn phải di cƣ ra thành thị để tìm việc, làm thuê với giá lao động rất thấp và bị đối xử nhƣ "công dân loại hai", mặc dù họ là động lực chủ yếu của công cuộc đổi mới. Chƣa có một quy hoạch chuyển đổi cơ cấu lao động, rút lao động ra khỏi nông thôn và nông nghiệp.
Nông dân tham gia thị trƣờng lao động nhƣng không đƣợc đào tạo nghề, không đƣợc Nhà nƣớc hỗ trợ nhƣ trƣớc kia đã làm trong các chƣơng trình kinh tế mới. Do vậy, cần có một hệ thống biện pháp đồng bộ giúp đào tạo nông dân, đó chính là biện pháp để xây dựng giai cấp công nhân mới. Đây cũng là giải pháp hữu hiệu giúp cho lớp ngƣời này không trở thành "vô sản lƣu manh", kéo theo đó là tội phạm và tệ nạn xã hội. Vấn đề nông thôn Trong quá trình đổi mới, khoảng cách giữa thành thị và nông thôn ngày càng xa nhau, do chƣa có chiến lƣợc đổi mới hiệu quả.
n 3 Nông nghiệp mâu thuẫn với phát triển nông thôn. Các vùng phát triển nông nghiệp mạnh thì không chuyển đổi đƣợc cơ cấu kinh tế nông thôn, không tạo thêm đƣợc việc làm và không tăng nhanh thu nhập của nông dân. Tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn không thuận lợi cho việc nâng cao năng suất lao động nông thôn và tăng thu nhập của nông dân. Việc để nông dân đi bán sức lao động ở nơi khác với giá rẻ mạt và việc không có quy hoạch lao động đã dẫn đến nhiều vùng thiếu lao động và giá lao động tăng mạnh.
Mức đóng góp của nông dân, nông thôn cao, phúc lợi cung cấp cho nông dân lại thấp, nông dân còn ít đƣợc hƣởng lợi về đầu tƣ kết cấu hạ tầng và các nguồn cung cấp phúc lợi của Nhà nƣớc. Từ các hộ nông dân đang xuất hiện nhiều doanh nghiệp nhỏ: nông trại gia đình, doanh nghiệp nông nghiệp, doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ từ các làng nghề, nhƣng các doanh nghiệp này không đƣợc các chƣơng trình doanh nghiệp nhỏ và vừa hỗ trợ. Nông thôn còn thiếu các thể chế dựa vào cộng đồng nhƣ hợp tác xã và các tổ chức nghề nghiệp của nông dân để phụ trách việc cung cấp các dịch vụ công. Chuyên ngành Phát triển nông thôn đƣợc xây dựng nhằm đào tạo cho xã hội các cán bộ làm công tác quản lý và phát triển.
Theo đó sẽ trang bị cho sinh viên các kiến thức cơ bản và chuyên sâu trên các lĩnh vực kinh tế, kinh tế phát triển, nông – lâm – ngƣ nghiệp, các vấn đề về nông nghiệp và nông thôn, phát triển nông thôn, phát triển cộng đồng, thể chế, chính sách phát triển, tài chính tiền tệ, sinh thái môi trƣờng, tài nguyên và môi trƣờng, các kiến thức về các lĩnh vực văn hóa – xã hội… - Có kỹ năng tìm kiếm, tổng hợp, phân tích, lập kế hoạch và đề xuất giải pháp về phát triển nông nghiệp, nông thôn. n 4 - Có kỹ năng xây dựng, tổ chức, thẩm định, quản lý và đánh giá chƣơng trình, dự án phát triển nông thôn, khuyến nông có khả năng viết báo cáo về phát triển nông thôn - Có kỹ năng tổ chức các nguồn lực và quản lý sản xuất kinh doanh tại nông trại, cơ sở sản xuất chế biến nông lâm thuỷ sản, và các lĩnh vực khác trong nông nghiệp và nông thôn. - Có kỹ năng giải quyết đƣợc những vấn đề kinh tế -xã hội liên quan đến sự phát triển nông nghiệp và nông thôn. - Có khả năng tổ chức công tác phát triển nông thôn ở các cấp.
- Có kỹ năng làm việc độc lập, làm việc theo nhóm. - Có kỹ năng giao tiếp, hơ ̣p tác và làm vi ệc với cộng đồng, nhất là với cộng đồng nông dân và nông thôn. - Biết sử dụng tốt các thiết bị và phƣơng tiện hỗ trợ, đặc biệt là công nghệ thông tin trong lĩnh vực phát triển nông thôn. Thực tập là một dịp cho các sinh viên có đƣợc cơ hội đƣợc sử dụng kiến thức từ lớp học của mình trong môi trƣờng làm việc chuyên nghiệp.
Thực tập là một kinh nghiệm làm việc chứ không phải là một công việc. Cái kinh nghiệm thực tiễn này sẽ cho phép sinh viên đạt đƣợc những kỹ năng mới, xây dựng sự tự tin và tăng cƣờng năng lực chuyên môn. Thông qua thực tập, sinh viên có một cơ hội để khám phá và trải nghiệm những lựa chọn nghề nghiệp và mở rộng các mối quan hệ nghề nghiệp. Một kỳ thực tập là rất quan trọng để giúp sinh viên có những mối quan hệ nghề nghề nghiệp và có một công việc tiềm năng.
Để hiểu rõ đƣợc tầm quan trọng của ngƣời cán bộ phụ trách nông nghiệp của 1 địa phƣơng tôi tiến hành thực hiện đề tài:Tìm hiểu chức năng, nhiệm vụ của cán bộ nông nghiệp cấp xã. Từ đó, đề xuất một số giải pháp n 5 nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của cán bộ nông nghiệp cấp xã trong thời gian tới. Mục đích nghiên cứu - Củng cố kiến thức, nâng cao khả năng tiếp cận cũng nhƣ làm việc trực tiếp với môi trƣờng thực tế: “Học đi đôi với hành”. - Thâm nhập vào môi trƣờng thực tế.
- Nâng cao nhận thức vai trò và trách nhiệm đối với nghành nghề mình đang học. - Biết tổ chức và thực hiện công việc của cá nhân 1. Mục tiêu cụ thể - Khái quát những vấn đề chung nhất về nông nghiệp xã. - Tìm hiểu chức năng, nhiệm vụ của cán bộ nông nghiệp xã - Đánh giá những thuận lợi và khó khăn của cán bộ khuyến nông - Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực hiệu quả hoạt động của cán bộ nông nghiệp.
Yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ: - Biết xác định những thông tin cần cho bài khóa luận, từ đó giới hạn đƣợc phạm vi tìm kiếm, giúp cho việc tìm kiếm thông tin đúng hƣớng và chính xác. - Các kỹ năng nghiên cứu và đánh giá thông tin, biết xử lý, đánh giá, tổng hợp và phân tích kết quả thông tin tìm kiếm đƣợc. - Biết kỹ năng diễn đạt và trình bày thông tin tìm đƣợc phục vụ cho công tác học tập và nghiên cứu. - Khả năng xử lý số liệu, tổng hợp, tổng quan, tổng luận các nguồn lực thông tin tìm kiếm đƣợc.
Sử dụng thông tin có hiệu quả, biết cách vận dụng những thông tin tìm đƣợc vào giải quyết hiệu quả vấn đề đặt ra. n 6 Yêu cầu về thái độ và ý thức trách nhiệm: - Hoàn thành tốt công việc đƣợc giao. - Chấp hành nghiêm chỉnh nội quy, quy định của UBND xã. Yêu cầu về kỷ luật: - Chấp hành phân công của khoa, quy chế thực tập của trƣờng và các quy định của nơi thực tập.
- Đảm bảo kỷ luật lao động, có trách nhiệm trong công việc. - Chịu sự chỉ đạo trực tiếp của ngƣời hƣớng dẫn tại nơi thực tập. - Luôn trung thực trong lời nói và hành động. Yêu cầu về tác phong, ứng xử - Luôn giữ thái độ khiêm nhƣờng, cầu thị.
Thực tập ngoài trƣờng không chỉ là để học tập chuyên môn mà còn là một dịp tốt để tập làm việc trong tập thể, đặc biệt trong lĩnh vực giao tiếp và xử thế. - Tạo mối quan hệ thân thiện với mọi ngƣời trong cơ quan nhƣng không can thiệp vào những việc nội bộ của cơ quan thực tập. - Hòa nhã với các nhân viên tại nơi thực tập. - Phong cách, trang phục luôn chỉnh tề, phù hợp, lịch sự.
Yêu cầu về kết quả đạt đƣợc - Tạo mối quan hệ tốt với mọi ngƣời tại cơ quan thực tập.