Chương 1: Lý luận chung về vấn đề hợp đồng tín dụng và ADPL về Hợp đồng tín dụng Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật về tranh chấp hợp đồng tín dụng tại thị xã nghĩa lộ - tỉnh yên bái Chương 3: Giải pháp, kiến nghị về hoàn thiện pháp luật và nâng cao chất lượng giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa lộ - Yên Bái 4 CHUƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ VẤN ĐỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG VÀ ADPL VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG 1.1 Khái niệm, đặc điểm về hợp đồng tín dụng, tranh chấp hợp đồng tín dụng 1.1 Khái niệm hợp đồng tín dụng 1.1 Khái niệm “Hợp đồng tín dụng là một căn cứ pháp lý mà qua đó, tổ chức tín dụng thực hiện hoạt động cho vay. Trong đó, tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoạt động ngân hàng, bao gồm: ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân” [1, Điều 4]. “Việc cho vay của tổ chức tín dụng và khách hàng vay phải được lập thành hợp đồng tín dụng.
Hợp đồng tín dụng phải có nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng vốn vay, phương thức cho vay, số vốn vay, lãi suất, thời hạn cho vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên thỏa thuận”[2, Điều 17]. Theo quy định tại điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015:“Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định”[4, Điều 463] thì hợp đồng tín dụng là một dạng cụ thể của hợp đồng vay tài sản. Tuy nhiên, chỉ gọi là hợp đồng tín dụng trong trường hợp bên cho vay là các tổ chức tín dụng. Hợp đồng tín dụng chỉ là hợp đồng cho vay, theo đấy tổ chức tín dụng là bên cho vay đưa cho bên vay một khoản vốn nhằm phục vụ các lợi ích quy định tại một kỳ hạn tương ứng theo cam kết với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Theo điều 388 BLDS 2005 quy định: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuẩn giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ 5 dân sự”[3, Điều 388] thì hợp đồng tín dụng là một dạng cụ thể của hợp đồng dân sự vì quan hệ tín dụng về bản chất cũng là một quan hệ dân sự. Do đó có thể hiểu: “Hợp đồng tín dụng là sự thỏa thuận chung bằng văn bản giữa bên cho vay là tổ chức tín dụng và bên vay là cá nhân, tổ chức có đủ những điều kiện luật định, theo đó tổ chức tín dụng chuyển giao một số tiền cho bên vay sử dụng vào mục đích và trong một thời hạn được xác định, khi đến hạn, bên vay phải trả gốc và lãi được xác định theo lãi suất và các bên đã thỏa thuận”. Như vậy hợp đồng tín dụng là văn bản phản án thỏa thuận của tổ chức tín dụng và khách hàng trong việc xác lập một quan hệ cho vạy, xác lập quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể của các bên trong đó việc vay và trả nợ.2 Đặc điểm hợp đồng tín dụng 1.1 Đặc điểm chung của hợp đồng tín dụng Với các định nghĩa trên, có thể thấy ngoài những dấu hiệu chung của một loại hợp đồng, hợp đồng tín dụng còn có một số đặc điểm đặc trưng sau đây để phân biệt với các chủng loại hợp đồng khác trong giao lưu dân sự và thương mại hiện nay. Về chủ thể: Một bên tham gia hợp đồng bao giờ cũng là tổ chức tín dụng có đủ điều kiện luật định, với tư cách là bên cho vay.
Còn chủ thể bên kia (bên vay) có thể là tổ chức, cá nhân thỏa mãn những điều kiện vay vốn do pháp luật quy định. Về đối tượng: Đối tượng của hợp đồng tín dụng bao giờ cũng là tiền (bao gồm tiền mặt và bút tệ). Về nguyên tắc, đối tượng của hợp đồng tín dụng bao giờ cũng phải là một số tiền xác định và phải được các bên thỏa thuận, ghi rõ trong văn bản hợp đồng Về tính rủi ro: Hợp đồng tín dụng vốn chứa đựng nguy cơ rủi ro rất lớn cho quyền lợi của bên cho vạy. Sở dĩ như vậy là vì theo cam kết trong hợp đồng tín dụng, bên cho vay chỉ có thể đòi tiền của bên vay sau một thời hạn nhất định.
Nếu thời hạn cho vay càng dài thì nguy cơ rủi ro và bất trắc càng 6 lớn. Vì thế mà các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng cũng thường xảy ra với số lượng và tỷ lệ lớn hơn so với đa số các loại hợp đồng khác Về cơ chế thực hiện quyền và nghĩa vụ: Trong hợp đồng tín dụng, nghĩa vụ chuyển giao tiền vay (nghĩa vụ giải ngân) của bên cho vay bao giờ cũng phải được thực hiện trước, làm cơ sở, tiền đề cho việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của bên vay. Do đó, chỉ khi nào bên cho vay chứng minh được rằng họ đã chuyển giao tiền vay theo đúng hợp đồng tín dụng cho bên vay thì khi đó họ với có quyền yêu cầu bên vay phải thực hiện các nghĩa vụ đối với mình (bao gồm các nghĩa vụ chính như sử dụng tiền vay đúng mục đích; nghĩa vụ hoàn trả tiền vay đúng hạn cả gốc và lãi…) 1.2 Phân loại hợp đồng tín dụng a) Nếu căn cứ vào đối tượng tín dụng cho vay - Hợp đồng tín dụng vốn cố định: “Là loại tín dụng để hình thành vốn cố định cho các tổ chức kinh tế như mua sắm máy móc, thiết bị xây dựng mới, mở rộng sản xuất…” - Hợp đồng tín dụng vốn lưu động: “Là loại tín dụng hình thành vốn lưu động của các tổ chức kinh tế như cho vay dự trữ hàng hóa, cho vay chi phí sản xuất hoặt để thanh toán các khoản nợ.” b) Nếu căn cứ vào thời hạn cho vay[5, Điều 10] - Hợp đồng tín dụng ngắn hạn: Là loại hợp đồng tín dụng có thời hạn dưới một năm và thường áp dụng với trường hợp để vay bổ sung thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động hoặc cho vay sửa chữa lớn tài sản cố định của doanh nghiệp. Đây là loại cho vay phổ biến ở các ngân hàng thương mại và trong quan hệ cấp vốn ngắn hạn và trong quan hệ cấp tín dụng của ngân hàng trung ương với các Tổ chức tín dụng và Ngân hàng Nhà nước.
- Hợp đồng tín dụng trung hạn: “Là loại hợp đồng tín dụng có thời gian từ 01 – 05 năm. Loại tín dụng này áp dụng cho vay để mua sắm tài sản cố định, cải 7 tiến, đổi mới hệ thống kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình quy mô nhỏ, thời gian thu hồi vốn nhanh.” - Hợp đồng tín dụng dài hạn: “Là hợp đồng tín dụng có thời gian trên 05 năm, loại tín dụng này chủ yếu đầu tư vào xây dựng những xí nghiệp mới, cải tiến và mở rộng cơ sở sản xuất mới với quy mô lớn hoặc các công trình cơ sở hạ tầng như: sân bay, đường sá…” c) Nếu căn cứ vào mức độ tín nhiệm các tổ chức tín dụng - Hợp đồng tín dụng không cần đảm bảo: Biểu hiện dưới hình thức đảm bảo bằng tín chấp, được tổ chức tín dụng áp dụng đối với những khách hàng đáng tin cậy - Hợp đồng tín dụng có đảm bảo: Áp dụng đối với những khách hàng mà năng lực tài chính thấp, hiệu quả kinh doanh không cao hoặc ít có quan hệ tín dụng với ngân hàng, nghĩa là rủi ro cao. Tổ chức tín dụng yêu cầu phải có tài sản tương đương để thế chấp như động sản, bất động sản, những giấy tờ có giá trị hoặc đòi hỏi sự bảo lãnh từ một chủ thể hợp pháp khác 1.3 Đối tượng, phạm vi của hợp đồng tín dụng a) Đối tượng của hợp đồng tín dụng Đối tượng của “hợp đồng tín dụng” bao giờ cũng là tiền như: đồng Việt Nam, vàng hoặc ngoại tệ. Về nguyên tắc, đối tượng của hợp đồng tín dụng bao giờ cũng phải là một số tiền xác định và phải được các bên thỏa thuận, ghi rõ trong văn bản hợp đồng.
b) Phạm vi của hợp đồng tín dụng - Về thời hạn vay: “Tổ chức tín dụng và khách hàng căn cứ vào chu kỳ hoạt động kinh doanh, thời hạn thu hồi vốn, khả năng trả nợ của khách hàng, nguồn vốn cho vay và thời hạn hoạt động còn lại của tổ chức tín dụng để thỏa thuận về thời hạn cho vay. Đối với khách hàng là pháp nhân được thành lập và hoạt động tại Việt Nam, pháp nhân được thành lập ở nước ngoài và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam, thời hạn cho vay không quá thời hạn hoạt động 8 hợp pháp còn lại của khách hàng; đối với cá nhân có quốc tịch nước ngoài cư trú tại Việt Nam, thời hạn cho vay không vượt quá thời hạn được phép cư trú còn lại tại Việt Nam”[5, Điều 28]. - Về lãi suất cho vay: Mức lãi suất cho vay do tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là lãi suất vay trong các hợp đồng vay tài sản, bao gồm cả các hợp đồng tíndụng do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng [6, Điều 476]. Mới đây, lãi suất vay đã được thay đổi lãi suất vay theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay theo khoản 4 điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015 có hiệu lực từ ngày 01/01/2017 [4, Điều 468].
- Về mức cho vay: Tổ chức tín dụng căn cứ vào phương án sử dụng vốn, khả năng tài chính của khách hàng, các giới hạn cấp tín dụng đối với khách hàng và khả năng nguồn vốn của tổ chức tín dụng để thỏa thuận với khách hàng về mức cho vay[7,Điều 12]. - Về giới hạn cho vay: Tổng dư nợ cho vay đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng, trừ trường hợp đối với những khoản cho vay từ các nguồn vốn ủy thác của Chính phủ, của các tổ chức và cá nhân.