Luận văn thạc sĩ: Pháp luật về thuế TNCN của DNVVN tại quận Tân Bình, TP.HCM

Luận văn thạc sĩ luật kinh tế về thuế TNCN của DNVVN tại Tân Bình, TP.HCM. Phân tích thực trạng, khó khăn và đề xuất giải pháp hoàn thiện.

Trường đại học

Học Viện Khoa Học Xã Hội

Chuyên ngành

Luật Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

84
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan cơ sở lý luận về thuế TNCN tại DNVVN Tân Bình

Nghiên cứu về thuế thu nhập cá nhân (TNCN) tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNVVN) ở Quận Tân Bình, TP.HCM đòi hỏi một nền tảng lý luận vững chắc. Đây là cơ sở để phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp phù hợp. Thuế TNCN là loại thuế trực thu, đánh vào thu nhập của cá nhân, đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, điều tiết thu nhập và đảm bảo công bằng xã hội. Theo luận văn của tác giả Lê Thị Tố Nga (2021), pháp luật về thuế TNCN bao gồm hai nhóm quy phạm chính: quy phạm xác định nghĩa vụ thuế và quy phạm về tổ chức thực hiện nghĩa vụ thuế. Việc thực thi pháp luật này tại các DNVVN trên địa bàn Quận Tân Bình chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố. Các yếu tố này bao gồm sự hoàn thiện của hệ thống chính sách thuế TNCN, hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý tại Chi cục thuế Quận Tân Bình, và đặc biệt là ý thức tuân thủ của chính doanh nghiệp và người lao động. Các DNVVN, với đặc điểm quy mô nhỏ, nguồn lực hạn chế, thường gặp nhiều khó khăn trong việc cập nhật và áp dụng đúng các quy định phức tạp của Luật Thuế thu nhập cá nhân. Do đó, việc tìm hiểu sâu về các khái niệm, đặc điểm và vai trò của thuế TNCN trong bối cảnh cụ thể của DNVVN là bước đi đầu tiên và cần thiết cho mọi khóa luận tốt nghiệp thuế hay nghiên cứu chuyên sâu.

1.1. Khái niệm và vai trò của thuế thu nhập cá nhân

Về bản chất, thuế thu nhập cá nhân là khoản tiền mà cá nhân phải nộp vào ngân sách nhà nước khi có thu nhập chịu thuế theo quy định. Đây là loại thuế trực thu, có diện đánh thuế rộng, bao gồm nhiều nguồn thu nhập từ tiền lương tiền công đến đầu tư, kinh doanh. Vai trò của thuế TNCN rất đa dạng: tạo nguồn thu ổn định cho quốc gia, góp phần điều tiết thu nhập, giảm khoảng cách giàu nghèo thông qua biểu thuế lũy tiến, và thúc đẩy ý thức công dân về nghĩa vụ đối với nhà nước. Trong bối cảnh DNVVN, thuế TNCN còn gián tiếp giúp minh bạch hóa các khoản chi trả cho người lao động, hạn chế thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp.

1.2. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam

Các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNVVN) chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế, đặc biệt tại các khu vực kinh tế năng động như Quận Tân Bình. Đặc điểm của DNVVN là quy mô vốn và lao động hạn chế, bộ máy quản lý gọn nhẹ, linh hoạt nhưng thường thiếu chuyên môn sâu, đặc biệt là về kế toán thuế trong doanh nghiệp. Đội ngũ kế toán thường kiêm nhiệm nhiều vai trò, dẫn đến những sai sót khi quyết toán thuế. Đồng thời, áp lực cạnh tranh và chi phí khiến nhiều DNVVN chưa thực sự chú trọng đến việc tuân thủ đầy đủ các quy định pháp luật về thuế, tạo ra nhiều thách thức cho công tác quản lý của cơ quan thuế.

1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến thực thi luật thuế TNCN

Việc thực thi Luật Thuế thu nhập cá nhân tại DNVVN bị chi phối bởi nhiều nhân tố. Thứ nhất là hệ thống pháp luật, chính sách có rõ ràng, dễ hiểu và ổn định hay không. Thứ hai là hiệu quả hoạt động của cơ quan quản lý thuế, cụ thể là Chi cục thuế Quận Tân Bình, trong việc tuyên truyền, hỗ trợ và thanh tra, kiểm tra. Thứ ba là khả năng kiểm soát thu nhập của nhà nước. Cuối cùng, và quan trọng nhất, là ý thức tuân thủ pháp luật của chính doanh nghiệp và người lao động. Một hệ thống pháp lý minh bạch kết hợp với công tác quản lý hiệu quả sẽ thúc đẩy sự tự giác, giảm thiểu các hành vi trốn tránh nghĩa vụ thuế.

II. Vướng mắc về thuế TNCN DNVVN tại Quận Tân Bình thường gặp

Quá trình áp dụng pháp luật thuế TNCN tại các DNVVN ở Quận Tân Bình bộc lộ nhiều khó khăn và vướng mắc cố hữu. Thực trạng công tác thuế cho thấy, dù đã có nhiều nỗ lực từ cơ quan quản lý, các doanh nghiệp vẫn thường xuyên đối mặt với các thách thức trong việc tuân thủ quy định. Một trong những vấn đề lớn nhất là sự phức tạp và thường xuyên thay đổi của các văn bản pháp luật, từ luật, nghị định đến thông tư hướng dẫn. Điều này khiến bộ phận kế toán của DNVVN, vốn đã mỏng và kiêm nhiệm, dễ bị quá tải và cập nhật không kịp thời, dẫn đến các sai sót khi quyết toán thuế không đáng có. Các vướng mắc về thuế TNCN không chỉ đến từ sự thiếu hiểu biết mà còn xuất phát từ những quy định chưa thực sự rõ ràng hoặc chưa phù hợp với thực tiễn hoạt động của DNVVN. Ví dụ, việc xác định các khoản phụ cấp, trợ cấp nào thuộc thu nhập chịu thuế, khoản nào không chịu thuế vẫn còn gây nhiều tranh cãi. Bên cạnh đó, thủ tục chứng minh người phụ thuộc để được giảm trừ gia cảnh đôi khi còn rườm rà, gây khó khăn cho cả doanh nghiệp và người lao động. Những bất cập này không chỉ gây thiệt hại về tài chính cho doanh nghiệp thông qua các khoản phạt mà còn làm giảm tính tuân thủ tự nguyện, ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý chung.

2.1. Các sai sót khi quyết toán thuế TNCN phổ biến

Trong các báo cáo thực tập kế toán thuế và thực tế kiểm tra, một số sai sót phổ biến thường được ghi nhận. Phổ biến nhất là việc xác định sai thu nhập chịu thuế, bỏ sót các khoản thu nhập không thường xuyên hoặc áp dụng sai các khoản miễn giảm. Tiếp theo là lỗi tính toán sai mức giảm trừ gia cảnh cho bản thân và người phụ thuộc, hoặc không có đủ hồ sơ chứng minh hợp lệ. Ngoài ra, việc chậm nộp tờ khai quyết toán thuế TNCN, kê khai thiếu thông tin hoặc sai mã số thuế cũng là những lỗi thường gặp, dẫn đến việc bị cơ quan thuế xử phạt vi phạm hành chính.

2.2. Khó khăn trong việc xác định các khoản khấu trừ hợp lệ

Một vướng mắc về thuế TNCN lớn đối với DNVVN là phân biệt các khoản chi cho người lao động có được tính là chi phí được trừ khi tính thuế TNDN và có phải khấu trừ thuế TNCN hay không. Các khoản chi phúc lợi, tiền thưởng, phụ cấp... thường có quy định không rõ ràng, dẫn đến việc doanh nghiệp áp dụng không thống nhất. Nhiều doanh nghiệp lúng túng trong việc xác định các khoản chi như tiền ăn trưa, tiền trang phục, tiền điện thoại... có vượt mức quy định để tính vào thu nhập chịu thuế hay không. Sự thiếu rõ ràng này tạo ra rủi ro tiềm ẩn khi bị thanh tra, kiểm tra thuế.

2.3. Bất cập trong việc áp dụng giảm trừ gia cảnh cho NLĐ

Mặc dù quy định về giảm trừ gia cảnh mang tính nhân văn, việc áp dụng trên thực tế tại các DNVVN còn nhiều bất cập. Thủ tục đăng ký người phụ thuộc lần đầu và đăng ký thay đổi còn phức tạp, đòi hỏi nhiều giấy tờ chứng minh. Người lao động thường không nắm rõ quy định, dẫn đến việc cung cấp hồ sơ cho doanh nghiệp chậm trễ hoặc không đầy đủ. Điều này gây khó khăn cho bộ phận kế toán trong việc tổng hợp và thực hiện quyết toán thuế TNCN cuối năm, đôi khi làm mất quyền lợi của chính người lao động.

III. Hướng dẫn quy trình kê khai thuế TNCN DNVVN Tân Bình chuẩn

Để giảm thiểu rủi ro và đảm bảo tuân thủ, việc nắm vững quy trình kê khai thuế TNCN là yêu cầu bắt buộc đối với mọi DNVVN tại Quận Tân Bình. Một quy trình chuẩn không chỉ giúp doanh nghiệp thực hiện đúng nghĩa vụ với nhà nước mà còn bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Quy trình này bắt đầu từ khâu đăng ký mã số thuế cho nhân viên mới, tổng hợp thu nhập hàng tháng, thực hiện khấu trừ thuế TNCN chính xác, và cuối cùng là nộp tờ khai và tiền thuế đúng hạn. Đối với các nghiệp vụ kế toán thuế TNCN, việc thiết lập một hệ thống theo dõi tiền lương tiền công và các khoản thu nhập khác một cách khoa học là nền tảng. Doanh nghiệp cần phân loại rõ ràng các khoản thu nhập, xác định chính xác đâu là thu nhập chịu thuế, và áp dụng đúng các quy định về giảm trừ gia cảnh. Việc sử dụng các phần mềm kế toán hiện đại có thể hỗ trợ đắc lực trong công tác này, tự động hóa nhiều bước tính toán và giảm thiểu sai sót do con người. Việc quyết toán thuế TNCN cuối năm là bước quan trọng nhất, đòi hỏi sự cẩn trọng và chính xác tuyệt đối. Doanh nghiệp phải tổng hợp thu nhập cả năm, thực hiện quyết toán thay cho những nhân viên có ủy quyền, và cấp chứng từ khấu trừ thuế cho những người tự đi quyết toán.

3.1. Nghiệp vụ kế toán thuế TNCN từ tiền lương tiền công

Nghiệp vụ cốt lõi trong kế toán thuế trong doanh nghiệp là xử lý thu nhập từ tiền lương tiền công. Hàng tháng, kế toán phải lập bảng lương chi tiết, tính toán số thuế TNCN phải khấu trừ của từng cá nhân dựa trên biểu thuế lũy tiến từng phần. Việc này đòi hỏi kế toán phải nắm vững cách tính thu nhập chịu thuế sau khi đã trừ các khoản bảo hiểm bắt buộc, các khoản đóng góp từ thiện (nếu có) và mức giảm trừ gia cảnh cho bản thân người nộp thuế và người phụ thuộc đã đăng ký. Sai sót trong bước này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người lao động và nghĩa vụ của doanh nghiệp.

3.2. Thủ tục đăng ký và kê khai thuế TNCN qua mạng

Hiện nay, việc kê khai thuế TNCN chủ yếu được thực hiện qua mạng, giúp tiết kiệm thời gian và đơn giản hóa thủ tục. Các DNVVN tại Quận Tân Bình cần đăng ký tài khoản giao dịch điện tử với Chi cục thuế Quận Tân Bình. Sau đó, sử dụng phần mềm Hỗ trợ kê khai (HTKK) để lập các tờ khai thuế hàng tháng/quý (Mẫu 05/KK-TNCN) và tờ khai quyết toán năm (Mẫu 05/QTT-TNCN). Sau khi lập xong, tờ khai sẽ được ký số và nộp trực tuyến qua cổng thông tin của Tổng cục Thuế. Việc nắm vững các thao tác này là kỹ năng thiết yếu của một kế toán thuế hiện đại.

3.3. Trách nhiệm của doanh nghiệp trong khấu trừ thuế TNCN

Theo Luật Thuế thu nhập cá nhân, doanh nghiệp trả thu nhập có trách nhiệm thực hiện khấu trừ thuế TNCN trước khi chi trả cho người lao động. Đây là nghĩa vụ bắt buộc. Doanh nghiệp phải khấu trừ theo biểu lũy tiến từng phần đối với hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên, và khấu trừ 10% đối với các khoản chi trả từ 2 triệu đồng/lần trở lên cho cá nhân không ký hợp đồng lao động hoặc hợp đồng dưới 3 tháng. Doanh nghiệp cũng có trách nhiệm cấp chứng từ khấu trừ thuế theo yêu cầu của cá nhân để họ có cơ sở thực hiện quyết toán thuế.

IV. Thực trạng công tác quản lý thuế TNCN tại Quận Tân Bình

Phân tích thực trạng công tác thuế TNCN tại các DNVVN trên địa bàn Quận Tân Bình cho thấy những kết quả tích cực song song với các thách thức còn tồn tại. Luận văn của tác giả Lê Thị Tố Nga (2021), dựa trên số liệu giai đoạn 2017-2019, đã chỉ ra rằng Chi cục thuế Quận Tân Bình đã có nhiều nỗ lực trong việc hiện đại hóa quản lý và hỗ trợ người nộp thuế. Việc triển khai kê khai và nộp thuế điện tử đã tạo thuận lợi lớn, giảm thời gian và chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp. Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách thuế TNCN mới cũng được thực hiện thường xuyên qua nhiều kênh. Nhờ đó, ý thức tuân thủ của một bộ phận lớn DNVVN đã được nâng cao, số lượng mã số thuế cá nhân được cấp mới tăng đều qua các năm. Tuy nhiên, công tác quản lý vẫn đối mặt với không ít khó khăn. Lực lượng cán bộ thuế còn mỏng so với số lượng DNVVN khổng lồ trên địa bàn. Việc kiểm soát thu nhập, đặc biệt là các khoản thu nhập vãng lai, thu nhập từ kinh doanh online, vẫn là một bài toán khó. Tình trạng doanh nghiệp cố tình lách luật, chi trả lương "hai sổ" để trốn khấu trừ thuế TNCN vẫn còn diễn ra. Công tác thanh tra, kiểm tra sau quyết toán chưa thể bao phủ hết, dẫn đến nguy cơ thất thu cho ngân sách nhà nước.

4.1. Tình hình quản lý của Chi cục thuế Quận Tân Bình

Chi cục thuế Quận Tân Bình là đơn vị trực tiếp quản lý thu thuế đối với các DNVVN trên địa bàn. Trong những năm qua, đơn vị đã tích cực áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý, từ cấp mã số thuế, xử lý tờ khai đến quản lý nợ. Tuy nhiên, với đặc thù là một trong những quận có nền kinh tế phát triển mạnh, số lượng doanh nghiệp và người lao động đông, áp lực công việc đối với cơ quan thuế là rất lớn. Việc phối hợp với các cơ quan khác để xác minh thông tin, đặc biệt là thông tin về người phụ thuộc, còn hạn chế, ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý giảm trừ gia cảnh.

4.2. Đánh giá thực trạng công tác thuế giai đoạn 2017 2019

Số liệu từ luận văn cho thấy, trong giai đoạn 2017-2019, số lượng DNVVN đăng ký mới tại Quận Tân Bình tăng mạnh. Tương ứng, số lượng cá nhân được cấp mã số thuế TNCN cũng tăng lên đáng kể, cho thấy sự mở rộng của đối tượng nộp thuế. Thực trạng công tác thuế trong giai đoạn này ghi nhận sự cải thiện trong việc kê khai và nộp thuế đúng hạn. Tuy nhiên, các sai sót khi quyết toán thuế vẫn còn phổ biến, và số hồ sơ xin hoàn thuế cũng tăng, đặt ra yêu cầu về công tác kiểm tra, hậu kiểm chặt chẽ hơn để chống gian lận.

4.3. Phân tích số liệu từ khóa luận và báo cáo thực tập

Các nghiên cứu như khóa luận tốt nghiệp thuế hay báo cáo thực tập kế toán thuế tại các DNVVN ở Quận Tân Bình thường cung cấp những góc nhìn thực tế. Các báo cáo này chỉ ra rằng, nhiều doanh nghiệp vẫn áp dụng các nghiệp vụ kế toán thuế TNCN một cách máy móc, chưa thực sự hiểu bản chất. Sự phụ thuộc vào kinh nghiệm kế toán cũ hoặc các diễn đàn không chính thống là nguyên nhân của nhiều sai sót. Đây là nguồn dữ liệu quan trọng để cơ quan thuế xác định các vấn đề cần tập trung tuyên truyền và hỗ trợ.

V. Top giải pháp hoàn thiện chính sách thuế TNCN cho DNVVN

Để nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật thuế TNCN tại các DNVVN ở Quận Tân Bình nói riêng và cả nước nói chung, cần có một hệ thống các giải pháp đồng bộ. Các giải pháp này không chỉ nhắm vào việc sửa đổi quy định mà còn tập trung vào việc cải thiện công tác quản lý và nâng cao ý thức tuân thủ của các bên liên quan. Đây là những đề xuất quan trọng thường được đưa ra trong các khóa luận tốt nghiệp thuế và nghiên cứu chuyên sâu, nhằm giải quyết các vướng mắc về thuế TNCN đang tồn tại. Một hệ thống giải pháp hoàn thiện cần bắt nguồn từ việc rà soát và đơn giản hóa các văn bản pháp luật. Cần có những hướng dẫn rõ ràng, cụ thể hơn về việc xác định thu nhập chịu thuế và các khoản miễn giảm, tránh các cách hiểu khác nhau. Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin cần được đẩy mạnh hơn nữa, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về người nộp thuế để quản lý tập trung, hạn chế tình trạng một người có nhiều mã số thuế hoặc gian lận trong đăng ký giảm trừ gia cảnh. Các giải pháp không chỉ đến từ phía nhà nước mà còn đòi hỏi sự chủ động từ chính các DNVVN và người lao động trong việc tìm hiểu và tuân thủ pháp luật.

5.1. Giải pháp hoàn thiện quy định của Luật Thuế TNCN

Một trong những giải pháp hoàn thiện hàng đầu là tiếp tục sửa đổi Luật Thuế thu nhập cá nhân và các văn bản hướng dẫn. Cần nghiên cứu điều chỉnh biểu thuế lũy tiến cho phù hợp hơn với thực tế thu nhập và mức sống, đặc biệt là sau các biến động kinh tế. Các quy định về giảm trừ gia cảnh nên được xem xét điều chỉnh linh hoạt hơn theo chỉ số giá tiêu dùng (CPI) mà không cần chờ đợi chu kỳ dài. Hơn nữa, cần đơn giản hóa thủ tục hành chính, đặc biệt là các thủ tục liên quan đến hồ sơ chứng minh người phụ thuộc, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người nộp thuế.

5.2. Nâng cao hiệu quả quản lý của Chi cục thuế Quận Tân Bình

Về phía cơ quan quản lý, Chi cục thuế Quận Tân Bình cần tăng cường công tác tuyên truyền và hỗ trợ DNVVN. Tổ chức nhiều hơn các buổi tập huấn, đối thoại trực tiếp để giải đáp các vướng mắc về thuế TNCN. Đồng thời, cần đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra dựa trên phân tích rủi ro, tập trung vào các doanh nghiệp, lĩnh vực có nguy cơ gian lận cao. Việc xây dựng một đội ngũ cán bộ thuế chuyên nghiệp, am hiểu sâu về nghiệp vụ kế toán thuế TNCN và có thái độ phục vụ tận tình sẽ củng cố niềm tin và khuyến khích sự tuân thủ tự nguyện của doanh nghiệp.

5.3. Tăng cường ý thức tuân thủ của người lao động và DN

Giải pháp cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng là nâng cao ý thức pháp luật. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa cần nhận thức rằng việc tuân thủ pháp luật thuế không chỉ là nghĩa vụ mà còn là yếu tố xây dựng uy tín và sự phát triển bền vững. Doanh nghiệp nên đầu tư vào việc đào tạo, nâng cao trình độ cho bộ phận kế toán thuế trong doanh nghiệp. Về phía người lao động, cần chủ động tìm hiểu quyền lợi và nghĩa vụ của mình liên quan đến thuế thu nhập cá nhân, cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ cho doanh nghiệp để thực hiện quyết toán thuế TNCN.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

04/10/2025
Luận văn thạc sĩ pháp luật về thuế tncn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ từ thực tiễn quận tân bình thành phố hồ chí minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 1. Những vấn đề lý luận cơ bản về thuế TNCN 1. Khái niệm và đặc điểm thuế TNCN 1. Khái niệm về thuế TNCN Về bản chất, thuế TNCN là sắc thuế trực thu, điều tiết vào thu nhập của các cá nhân.

Tuy nhiên, khái niệm TNCN cũng có thể tiếp cận theo nhiều cách khác nhau. Để hiểu rõ khái niệm thuế TNCN, trước tiên ta tìm hiểu hai khái niệm có tính chất tiền đề là “thu nhập” và “thuế thu nhập”. Theo định nghĩa Haig - Simons, thu nhập của một cá nhân được xem là sự gia tăng về sức mua ròng của cá nhân đó trong một giai đoạn nhất định, ví dụ là một năm. Nói cách khác, đó là “tổng chi cho tiêu dùng” cộng với “sự gia tăng ròng về mức độ giàu có” của một cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định.

TNCN khi được định nghĩa theo cách này được gọi là “thu nhập toàn diện” và thường bao quát tất cả các loại hình thu nhập mà một cá nhân được hưởng dưới các hình thức khác nhau, bao gồm thu nhập từ tiền lương, tiền công, kinh doanh, tiền cho thuê, tiền bản quyền, cổ tức, tiền lãi cho vay… Ở một phạm vi hẹp hơn, TNCN có thể được định nghĩa là tổng số tiền mà cá nhân thu được trong một khoảng thời gian nhất định, thường được tính theo năm. Về “thuế”, ở khía cạnh nghiên cứu thuế với tư cách là một nội dung điều chỉnh của luật pháp, các chuyên gia về luật thuế cũng đã nhận định “thuế là một trật tự đã được thiết lập hòa bình giữa chính phủ với cộng đồng trong sự tôn trọng thực hiện nghĩa vụ thu, nộp vào ngân sách. Thuế không có bất kì sự phân biệt đối xử nào giữa các bang hay vùng lãnh thổ”. Mặc dù có nhiều cách định nghĩa về thuế như vậy nhưng chúng ta đều có thể nhận thấy nét chung sau: thuế là khoản thu nộp mang tính bắt buộc mà các tổ chức hoặc cá nhân phải nộp cho nhà nước khi có đủ những điều kiện nhất định.

Với cách nhìn nhận khách quan về thuế, có thể thấy bản chất của thuế là loại quan hệ phân phối gắn với nhà nước, loại quan hệ giữa nhà 8 nước với NNT. Bản chất này không thay đổi trong những xã hội có chế độ kinh tế, chính trị khác nhau. Bất kể xã hội nào cũng thể hiện quan hệ thu và nộp như nhau. “Thuế thu nhập” là một loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập thực tế của các cá nhân hoặc các pháp nhân.

Tuy nhiên, không phải toàn bộ thu nhập của các thể nhân và pháp nhân đều là đối tượng đánh thuế thu nhập, mà thuế thu nhập điều chỉnh hay thu trên phần thu nhập chịu thuế tức là khoản thu nhập sau khi đã được miễn trừ chi phí hợp lý, hợp lệ. Từ việc giải thích khái niệm về “thu nhập cá nhân” và “thuế” nói trên, định nghĩa “thuế TNCN” như sau: “Thuế TNCN là khoản tiền mà cá nhân phải nộp vào ngân sách nhà nước theo nguyên tắc bắt buộc, không hoàn trả khi phát sinh thu nhập chịu thuế theo quy định của pháp luật”. Đặc điểm của thuế TNCN Thuế TNCN mang những đặc tính nhất định, có thể kể đến như sau: Thứ nhất, thuế TNCN là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của từng cá nhân. Do là thuế trực thu nên nó phản ánh sự đồng nhất giữa đối tượng nộp thuế theo luật và đối tượng chịu thuế theo ý nghĩa kinh tế.

Người chịu thuế TNCN không có khả năng chuyển giao gánh nặng thuế khoá sang cho các đối tượng khác tại thời điểm đánh thuế. Không giống các loại thuế gián thu (như thuế tiêu dùng…), khoản thuế được tính sẵn trong giá thanh toán nên nó không ảnh hưởng nhiều đến tâm lý người mua về khoản thuế mình phải nộp, thuế trực thu trực tiếp vào khoản thu nhập, lợi ích thu được của các tổ chức kinh tế hoặc cá nhân, điều đó chắc chắn có ảnh hưởng mạnh về tâm lý của NNT. Chính vì vậy mỗi khi chính phủ có những thay đổi trong chính sách thuế TNCN như việc điều chỉnh thuế suất hay thay đổi phạm vi các đối tượng được miễn giảm thuế thì đều gây ra những phản ứng mạnh mẽ trong dân cư. Thứ hai, thuế TNCN có diện đánh thuế rất rộng, thể hiện trên hai khía cạnh: một là đối tượng đánh thuế TNCN là toàn bộ các khoản thu nhập của cá nhân thuộc diện đánh thuế không phân biệt thu nhập đó có nguồn gốc phát sinh trong nước hay ở nước ngoài; hai là đối tượng phải kê khai nộp thuế TNCN là toàn bộ những người có thu nhập, bao gồm tất cả công dân của nước sở tại và những người nước ngoài 9 cư trú thường xuyên hay không thường xuyên nhưng có số ngày có mặt, làm việc, có thu nhập theo quy định của pháp luật thuế TNCN.

[29] Thứ ba, thuế TNCN có tính tất yếu gắn với chính sách xã hội của mỗi quốc gia, là công cụ điều tiết thu nhập dân cư, đảm bảo mục tiêu công bằng xã hội, tuy nhiên mang tính trung lập đối với cơ cấu kinh tế. Thể hiện, nó luôn quy định loại trừ một số khoản thu nhập trước khi tính thuế TNCN như thu nhập mang tính trợ cấp xã hội, khoản chi cần thiết cho cuộc sống cá nhân, gia đình NNT, khoản chi mang tính nhân đạo xã hội… Thứ tư, thuế TNCN có góc độ kỹ thuật tính thuế khá phức tạp bởi diện đánh thuế rộng, liên quan chặt chẽ với hoàn cảnh cá nhân, chính sách xã hội cụ thể, có áp dụng phương pháp luỹ tiến. Có như vậy mới đảm bảo công bằng xã hội, người có thu nhập cao thì trước và sau khi nộp thuế họ vẫn còn một khoản thu nhập cao hơn so với người có thu nhập thấp khi chưa nộp thuế. Vai trò của thuế TNCN 1.

Đối với nền kinh tế - xã hội Thứ nhất, nền kinh tế ngày càng phát triển, mức sống người dân càng cao thì thuế thu nhập cá nhân ngày càng góp phần quan trọng trong nguồn thu ngân sách Nhà nước. Thuế thu nhập cá nhân có diện đánh thuế rộng, khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách lớn. Thứ hai, thuế thu nhập cá nhân góp phần điều tiết thu nhập, tiêu dùng và tăng tỉ lệ tiết kiệm quốc gia, tạo điều kiện tăng đầu tư và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Thứ ba, thuế thu nhập cá nhân góp phần đảm bảo tính công bằng và giảm bớt sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội thông qua việc áp dụng biểu thuế luỹ tiến từng phần.

Thứ tư, ở các nước phát triển thuế thu nhập cá nhân là loại thuế được Chính phủ sử dụng rộng rãi trong việc điều hành chính sách tài khoá và các chính sách kinh tế khác. Thứ năm, thuế thu nhập cá nhân làm cho mỗi người dân có ý thức hơn về nghĩa vụ và quyền của mình đối với Nhà nước. Đồng thời đóng vai trò tích cực trong việc phát hiện các thu nhập bất hợp pháp. Đối với hệ thống thuế - Thuế TNCN góp phần khắc phục nhược điểm của một số loại thuế khác.

Một số thuế gián thu như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt đều có nhược điểm là có tính lũy thoái và ảnh hưởng đến người nghèo nhiều hơn người giàu vì khi tiêu thụ cùng một lượng hàng hoá mọi người không phân biệt giàu nghèo và đều phải chịu thuế như nhau. Nếu tính thuế thu nhập cá nhân theo phương pháp luỹ tiến từng phần sẽ góp phần khắc phục được nhược điểm này. - Thuế TNCN góp phần hạn chế sự thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp. Một doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường sẽ có nghĩa vụ kê khai và nộp cả thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân.

Giữa hai loại thuế này luôn luôn tồn tại mối quan hệ gắn bó với nhau. Thuế thu nhập cá nhân góp phần khắc phục sự thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp khi có sự thông đồng giữa các doanh nghiệp hay giữa doanh nghiệp với cá nhân. Trong trường hợp doanh nghiệp kê khai cao hơn thực tế những khoản chi phí mang tính chất tiền lương, tiền công phải trả cho người lao động để làm giảm thu nhập tính thuế của doanh nghiệp nhằm trốn thuế thu nhập doanh nghiệp thì các cá nhân nhận được những khoản trả nói trên sẽ phải nộp thêm thuế thu nhập cá nhân đối với phần thu nhập kê khai tăng thêm đó. Lúc này, sẽ xảy ra tình huống người lao động sẽ không chấp nhận nộp số thuế TNCN tăng thêm do khoản tiền lương, tiền công bị kê khai khống như vậy.

Kết quả, doanh nghiệp nếu muốn đưa các khoản tiền lương, tiền công kê khai khống vào chi phí được trừ thì đồng thời cũng phải kê khai và nộp luôn số thuế TNCN tương ứng tăng thêm cho người lao động. Như vậy, dù muốn hay không, cũng phải thực hiện nghĩa vụ kê khai và nộp đối với một trong hai loại thuế thu nhập này. Những vấn đề lý luận về pháp luật thuế TNCN 1. Khái niệm pháp luật thuế Thu nhập cá nhân Pháp luật thuế Thu nhập cá nhân là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thu nộp thuế TNCN giữa Nhà nước với NNT.

Nội dung của pháp luật thuế TNCN bao gồm hai nhóm quy phạm: (i) nhóm quy phạm pháp luật về xác định nghĩa vụ thuế TNCN và (ii) nhóm quy phạm pháp luật về tổ chức thực hiện nghĩa vụ thuế TNCN (quản lý thuế TNCN). Pháp luật thuế TNCN có một số đặc trưng cơ bản như sau: 11 - Đối tượng tác động của pháp luật thuế TNCN rất rộng, bao gồm chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế và chủ thể khác (tham gia khấu trừ tại nguồn, các tổ chức tín dụng, đại lý thuế, đơn vị được ủy nhiệm thu). Nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam đều dùng tiêu chí cư trú và không cư trú của cá nhân NNT để xác định các khoản thu nhập chịu thuế, cách tính thuế và phương thức nộp của họ. Trong thực tế, đối tượng này rất đông về số lượng, đa dạng về tầng lớp, giai cấp với trình độ nhận thức và ý thức pháp luật rất khác nhau.

Đặc biệt, trong điều kiện các nước thiết lập mối quan hệ trên nhiều mặt khác nhau của đời sống tạo ra sự luân chuyển thường xuyên về lao động và di dân giữa các nước làm cho tính phức tạp của đối tượng nộp thuế TNCN ngày càng tăng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ