CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tài sản và quyền sở hữu tài sản 1. Khái niệm và phân loại tài sản a.
Khái niệm tài sản Theo từ điển tiếng Việt, tài sản là của cải vật chất hoặc tinh thần có giá trị đối với chủ sở hữu. Nhìn tổng quát, tài sản được hiểu là tất cả các nguồn lực hữu hình hoặc vô hình, bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản của một chủ thể nhất định, có khả năng mang lại lợi ích cho các chủ thể đó. Theo quy định tại Điều 105, Luật Dân sự năm 2015, khái niệm tài sản được hiểu như sau: Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản [8]. Phân loại tài sản Theo quy định tài Điều 107, Luật Dân sự năm 2015, tài sản được phân thành hai loại là động sản và bất động sản.
Trong đó: - Bất động sản là các tài sản bao gồm: Đất đai; Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; Các tài sản gắn liền với đất đai; Các tài sản khác do luật qui định. - Động sản là những tài sản không phải là bất động sản. Các quy định về bất động sản trong pháp luật của Việt Nam là khái niệm mở, chưa có các quy định cụ thể về danh mục các tài sản này, nên việc phân định các tài sản là động sản hay bất động sản thường không đơn giản. Dựa vào cách hiểu phổ biến rằng bất động sản là những tài sản vật chất không thể di dời, tồn tại và ổn định lâu dài, người ta coi tài sản là bất động sản khi chúng có các điều kiện sau: là một yếu tố vật chất có ích cho con người; được kiểm chứng bởi cá nhân hoặc cộng đồng người; có thể đo lường bằng giá trị nhất định; không thể di dời hoặc di dời hạn chế để tính chất, công năng, hình thái của nó không thay đổi; tồn tại lâu dài.
Với quan niệm này, bất động sản được phân chia thành những nhóm: + Đất đai: Đất không di dời được hoặc di dời không đáng kể; đất đai đã được xác định chủ quyền; đất đai đó phải được đo lường bằng giá trị (căn cứ vào số lượng và chất lượng). PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 + Nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà ở, công trình xây dựng đó: Nhà cửa xây dựng cố định không thể di dời hoặc di dời không đáng kể; các công trình xây dựng công nghiệp, công trình giao thông, công trình thương mại - du lịch - dịch vụ được xây dựng gắn liền với đất đai; các công trình đó phải có khả năng đo lường và lượng hóa theo các tiêu chuẩn đo lường nhất định (các công trình tôn giáo, các di sản văn hóa vật thể, các công trình bảo tồn quốc gia,. không coi là bất động sản hoặc coi là bất động sản đặc biệt); các tài sản khác gắn liền không thể tách rời với công trình xây dựng đó như máy điều hòa trung tâm, các máy móc thiết bị điều khiển hoạt động của công trình, cây cảnh trồng cố định tạo cảnh quan cho công trình. + Các tài sản khác gắn liền với đất: Vườn cây lâu năm (bao gồm cả cây trồng và đất trồng cây); một số công trình khai thác hầm mỏ và các tài sản khác do pháp luật quy định.
Thông thường việc gắn các “động sản” vào nhà ở và công trình xây dựng phải do chủ sở hữu đối với nhà ở, công trình xây dựng đó thực hiện, do vậy các bất động sản và động sản này là cùng một chủ sở hữu. Tuy nhiên, có những trường hợp động sản và bất động sản không nhất thiết là của một chủ sở hữu, đó là trường hợp cho thuê nhà, thuê khoán công trình xây dựng mà người thuê gắn các “động sản” của mình vào bất động sản đang thuê. Các tài sản khác gắn liền với đất đai cũng được xem là bất động sản. Những tài sản này chỉ được xem là bất động sản khi nó “gắn liền” với đất do vị trí tự nhiên, nếu tách ra khỏi đất đai thì các tài sản này trở thành động sản như khoáng sản đã khai thác, cây đã bị đốn khỏi mặt đất, lúa đã bị thu hoạch,…[8].
Khái niệm quyền sở hữu tài sản Theo quy định tại Điều 158, Luật Dân sự năm 2015, quyền sở hữu tài sản bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật. Trong đó: Quyền chiếm hữu: là quyền nắm giữ, quản lý tài sản. Trong chiếm hữu theo luật Việt Nam, xét dưới góc độ chủ thể chiếm hữu, có thể tồn tại hai khả năng gồm người chiếm hữu tài sản đồng thời là chủ sở hữu tài sản và người chiếm hữu không phải là chủ sở hữu của tài sản. Xét theo việc chiếm hữu có căn cứ hay không có căn cứ, có thể chia chiếm hữu thành chiếm hữu có căn cứ pháp luật và chiếm hữu không có căn cứ pháp luật.
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản. Chủ sở hữu hoàn toàn có toàn quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức của tài sản theo cách thức và mục đích sử dụng tài sản theo ý chí của mình. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, việc sử dụng tài sản phải dựa trên nguyên tắc không được làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó.Việc định đoạt tài sản có thể định đoạt số phận thực tế của các vật, làm chấm dứt sự tồn tại vật chất của tài sản, như huỷ bỏ, tiêu dùng hết hoặc từ bỏ quyền sở hữu đối với vật, hoặc bằng hành vi pháp lý (bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế, góp vốn vào công ty…)[8].
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất 1. Khái niệm về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất Theo quy định tại Khoản 16, Điều 3, Luật Đất đai năm 2013, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất đai là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất do Bộ Tài nguyên và Môi trường phát hành theo một mẫu thống nhất và được áp dụng trong phạm vi cả nước đối với mọi loại đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Giấy chứng nhận gồm một tờ có 04 trang, in nền hoa văn trống đồng màu hồng cánh sen (được gọi là phôi Giấy chứng nhận) và trang bổ sung nền trắng; mỗi trang có kích thước 190mm x 265mm [7]. Vai trò của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (GCNQSDĐ) là giấy chứng nhận do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho người sử dụng đất để đảm bảo họ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất.
GCNQSDĐ là căn cứ pháp lý để giải quyết mối quan hệ về đất đai, cũng là cở sở pháp lý để nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sử dụng đất của người sử dụng đất. Do vậy, GCNQSDĐ có vai trò rất quan trọng, cụ thể: - GCNQSDĐ là chứng thư pháp lý khẳng định các quyền của người sử dụng đất đối với diện tích đất đang sử dụng cũng như các tài sản gắn liền với đất. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 - GCNQSDĐ là căn cứ để xây dựng các quyết định cụ thể, như các quyết định về đăng kí, theo dõi biến động về đất đai. - GCNQSDĐ giúp người sử dụng đất được bồi thường thiệt hại về khi bị nhà nước thu hồi đất.
- GCNQSDĐ là căn cứ để xử lý vi phạm về đất đai. - Thông qua GCNQSDĐ, nhà nước có thể quản lý đất đai trên toàn lãnh thổ, kiểm soát được việc chuyển nhượng và các giao dịch liên quan đến đất đai trên thị trường. Bên cạnh đó, nhà nước có thể thu đúng, thu đủ các khoản thu tài chính liên quan đến đất đai theo quy định của pháp luật - GCNQSDĐ là căn cứ xác lập quan hệ về đất đai, là tiền đề để phát triển kinh tế xã hội, giúp cho các cá nhân, hộ gia đình sử dụng đất mở rộng khả năng vay vốn và yên tâm đầu tư trên mảnh đất đang sử dụng. Tổ chức kinh tế 1.
Khái niệm tổ chức kinh tế Theo quy định tại Điều 3, Luật Đầu tư năm 2014, Tổ chức kinh tế là tổ chức được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, tổ chức kinh tế là tổ chức được có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật nhằm thực hiện các hoạt động kinh doanh với mục đích thu lợi nhuận. Tổ chức kinh tế gồm doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và các tổ chức khác thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh [11]. Phân loại tổ chức kinh tế Theo Luật Doanh nghiệp năm 2014, tổ chức kinh tế bao gồm Doanh nghiệp tư nhân, Công ty Cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty hợp danh; Hợp tác xã, Liên hiệp Hợp tác xã được thành lập theo Luật Hợp tác xã và các tổ chức kinh tế thành lập theo Luật Đầu tư. Cụ thể: - Doanh nghiệp tư nhân: Là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.
Chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệp tư nhân là một cá nhân. Doanh nghiệp tư nhân thường làm việc theo nghề nghiệp của chủ doanh nghiệp. Chủ sở hữu doanh nghiệp đồng thời là nhà quản lý các hoạt động hằng ngày của doanh nghiệp.