Tổng quan nghiên cứu
Thực thi chính sách giảm nghèo bền vững là một trong những trụ cột chiến lược của hệ thống an sinh xã hội Việt Nam, góp phần củng cố ổn định chính trị và thúc đẩy tiến bộ xã hội. Tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định – trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa và du lịch biển của tỉnh – tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm địa phương duy trì ấn tượng ở mức 7% đến 7,5%/năm trong giai đoạn vừa qua, trong đó khu vực công nghiệp và xây dựng tăng từ 9,0% đến 9,5%, dịch vụ tăng từ 7,9% đến 8,7%. Nhờ những nỗ lực triển khai đồng bộ các chương trình mục tiêu quốc gia, tính đến cuối năm 2022, toàn thành phố đã giảm số hộ nghèo xuống còn 123 hộ trên tổng số 73.497 hộ dân, chiếm tỷ lệ 0,17%, cùng 200 hộ cận nghèo, chiếm tỷ lệ 0,27%.
Tuy nhiên, bức tranh giảm nghèo tại đô thị loại I này vẫn đối diện với nhiều rào cản mang tính cơ cấu. Đại dịch COVID-19 cùng sự biến động của thị trường bất động sản đã làm suy giảm nguồn thu ngân sách địa phương và gây đứt gãy chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch – ngành kinh tế mũi nhọn tạo sinh kế cho lao động nghèo. Thêm vào đó, việc thiếu hụt các mô hình sinh kế bền vững sau bồi thường quy hoạch đất đai khiến nguy cơ tái nghèo ở các nhóm yếu thế như người cao tuổi, người khuyết tật và người neo đơn luôn ở mức cao. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý công của tác giả Nguyễn Tấn Phát, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Trần Thị Vành Khuyên tại Học viện Hành chính Quốc gia, tập trung giải quyết bài toán hoàn thiện cơ chế thực thi chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn 21 đơn vị hành chính phường, xã thuộc thành phố Quy Nhơn giai đoạn 2018–2022 và định hướng đến năm 2025. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp hệ thống chỉ số đánh giá phục vụ trực tiếp cho công tác hoạch định và điều hành quản lý nhà nước tại địa phương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn tiếp cận vấn đề dựa trên lý thuyết chu trình chính sách công của William Jenkins, James Anderson và các nhà nghiên cứu quản lý công trong nước như Đỗ Phú Hải. Theo đó, chính sách công là tập hợp các quyết định chính trị có chủ đích của Nhà nước, và thực thi chính sách là giai đoạn then chốt chuyển hóa các mục tiêu trên văn bản thành kết quả thực tế thông qua hệ thống công cụ quản lý hành chính. Quy trình thực thi chính sách giảm nghèo bền vững cấp huyện được chuẩn hóa thành 6 nội dung cốt lõi: xây dựng kế hoạch và ban hành văn bản; phổ biến và tuyên truyền; huy động và phân bổ nguồn lực; phân công và phối hợp; theo dõi, kiểm tra, giám sát; đánh giá, sơ kết và tổng kết.
Nghiên cứu vận dụng lý thuyết nghèo đa chiều hiện đại do Liên Hợp Quốc và Ngân hàng Thế giới khởi xướng, kết hợp cùng chuẩn nghèo đa chiều quốc gia theo tinh thần Nghị quyết số 24/2021/QH15 của Quốc hội và Nghị quyết số 30a/NQ-CP của Chính phủ. Khái niệm giảm nghèo bền vững được xác định không chỉ đơn thuần là vượt qua ngưỡng thu nhập tối thiểu mà là quá trình đảm bảo quyền tiếp cận bình đẳng đối với 5 dịch vụ xã hội cơ bản: y tế, giáo dục, nhà ở, nước sinh hoạt cùng vệ sinh và thông tin. Luận văn phân tích cấu trúc chính sách qua 3 hợp phần trụ cột: tín dụng ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách Xã hội, hỗ trợ phát triển sản xuất gắn liền chuyển giao khoa học công nghệ, và mạng lưới an sinh xã hội toàn diện. Ngoài ra, tác giả mở rộng đối sánh với các bài học thực tiễn từ thành phố Đồng Hới (Quảng Bình) với tỷ lệ hộ nghèo 0,45% và thành phố Tuy Hòa (Phú Yên) với mục tiêu tỷ lệ nghèo 1,1% để đúc kết kinh nghiệm tổ chức bộ máy và huy động nguồn lực xã hội hóa.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử kết hợp hệ phương pháp nghiên cứu chuyên ngành quản lý công. Về nguồn dữ liệu, tác giả thu thập dữ liệu thứ cấp từ hệ thống báo cáo thống kê chính thức của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Quy Nhơn, Ủy ban nhân dân thành phố và các văn bản chỉ đạo của Thành ủy Quy Nhơn từ năm 2015 đến năm 2023.
Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát toàn bộ 73.497 hộ dân trên địa bàn 21 đơn vị hành chính gồm 16 phường và 5 xã. Phương pháp chọn mẫu là khảo sát toàn bộ kết hợp phân tầng theo khu vực địa bàn (thành thị và nông thôn), tập trung rà soát chuyên sâu 123 hộ nghèo và 200 hộ cận nghèo theo tiêu chuẩn đa chiều giai đoạn 2021–2025. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích tài liệu và thống kê mô tả so sánh là nhằm lượng hóa chính xác sự biến động của các chiều thiếu hụt an sinh, đồng thời đánh giá khách quan mối quan hệ nhân quả giữa quy trình quản trị hành chính cấp huyện với kết quả thoát nghèo thực tế. Trục thời gian nghiên cứu kéo dài từ năm 2018 đến năm 2023, phản ánh sự chuyển giao giữa hai chu kỳ Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, giai đoạn 2018–2020 ghi nhận sự sụt giảm liên tục của tỷ lệ hộ nghèo tại Quy Nhơn với tốc độ giảm bình quân 0,09%/năm và hộ cận nghèo giảm 0,15%/năm. Đến cuối năm 2020, toàn thành phố chỉ còn 123 hộ nghèo (tỷ lệ 0,17%) và 205 hộ cận nghèo (tỷ lệ 0,28%). Tuy nhiên, bước sang năm 2021, số hộ nghèo đã tăng vọt lên 261 hộ, tăng hơn 112% so với năm 2020 do tác động kép từ đại dịch COVID-19 và việc chuyển đổi sang áp dụng chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn mới. Sau khi triển khai các gói phục hồi, đến cuối năm 2022, số hộ nghèo được kéo giảm về mức 123 hộ và cận nghèo là 200 hộ.
Thứ hai, đặc trưng nghèo đói tại Quy Nhơn mang tính chất nghèo đô thị rõ nét. Số liệu năm 2022 cho thấy 16 phường nội thành tập trung tới 103 hộ nghèo (chiếm tỷ lệ 0,16% tổng số dân thành thị) và 134 hộ cận nghèo (tỷ lệ 0,20%), trong khi 5 xã ngoại thành chỉ có 20 hộ nghèo (tỷ lệ 0,29%) và 66 hộ cận nghèo (tỷ lệ 0,95%).
Thứ ba, thành phố đạt bước tiến vượt bậc trong việc xóa nghèo cục bộ khi có 8/21 phường, xã hoàn thành mục tiêu không còn hộ nghèo gồm: Lý Thường Kiệt, Lê Lợi, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Văn Cừ, Trần Phú, Thị Nại, Ghềnh Ráng và xã đảo Nhơn Lý; đồng thời có 3 phường xóa trắng cả hộ cận nghèo là Lý Thường Kiệt, Nguyễn Văn Cừ và Trần Phú.
Thứ tư, công tác tuyên truyền và tổ chức thực thi được triển khai với tần suất cao thông qua 18 hội nghị tập huấn chính sách mới, 25 buổi hướng dẫn mô hình kinh tế giảm nghèo cho cấp cơ sở, 1 hội thi tìm hiểu kiến thức và 4 diễn đàn chia sẻ điển hình tiên tiến.
Thảo luận kết quả
Diễn biến số liệu có thể được hình dung qua một biểu đồ cột chồng trực quan phản ánh xu hướng biến động hộ nghèo - cận nghèo thành thị và nông thôn giai đoạn 2018–2022, kết hợp cùng một bảng ma trận phân tích mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản giữa 16 phường và 5 xã. Sự gia tăng đột biến của số hộ nghèo năm 2021 phản ánh tính dễ bị tổn thương của kinh tế dịch vụ biển trước các cú sốc ngoại cảnh. Hàng loạt dự án bất động sản nghỉ dưỡng bị đóng băng đã kéo theo nguồn thu ngân sách từ đất sụt giảm nghiêm trọng, trực tiếp thu hẹp biên độ hỗ trợ tài chính cho các chương trình giảm nghèo đặc thù.
So sánh với mô hình của thành phố Đồng Hới (tỷ lệ nghèo 0,45%) và thành phố Tuy Hòa (tỷ lệ nghèo 1,1%), Quy Nhơn có tỷ lệ nghèo tổng thể thấp hơn nhưng lại đối diện với nguy cơ tái nghèo đô thị phức tạp hơn. Nguyên nhân bắt nguồn từ việc người dân sau khi nhận tiền đền bù đất quy hoạch thiếu kỹ năng quản trị tài chính cá nhân và không có nghề nghiệp ổn định. Bộ máy cán bộ làm công tác giảm nghèo tại một số phường, xã hoạt động kiêm nhiệm, dẫn đến khâu theo dõi, giám sát sau thoát nghèo chưa thực sự chặt chẽ.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả phân tích thực trạng, luận văn xác lập 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể nhằm hoàn thiện công tác thực thi chính sách giảm nghèo bền vững tại thành phố Quy Nhơn:
Thứ nhất, đổi mới và số hóa phương thức tuyên truyền chính sách. Ủy ban nhân dân thành phố cần chỉ đạo Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp Trung tâm Văn hóa – Thông tin – Thể thao chuyển đổi 100% tài liệu phổ biến sang định dạng infographic và phát thanh đa phương tiện trên nền tảng mạng xã hội. Mục tiêu đạt 95% hộ nghèo và cận nghèo nắm rõ các gói hỗ trợ tín dụng và y tế trong giai đoạn 2024–2025, xóa bỏ hoàn toàn tâm lý trông chờ, ỷ lại vào trợ cấp nhà nước.
Thứ hai, kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực đội ngũ công chức cơ sở. Phòng Nội vụ chủ trì xây dựng đề án chuẩn hóa chức danh cán bộ chuyên trách công tác xã hội tại 21 phường, xã. Đảm bảo 100% cán bộ, công chức làm công tác giảm nghèo được bồi dưỡng kỹ năng điều tra xã hội học và vận hành phần mềm quản lý hộ nghèo đa chiều định kỳ hàng năm từ năm 2024 đến năm 2026.
Thứ ba, mở rộng quy mô vốn tín dụng chính sách và lồng ghép nguồn lực xã hội hóa. Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội thành phố phối hợp Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tăng trưởng nguồn vốn ủy thác tại địa phương từ 15% đến 20%/năm trong giai đoạn 2024–2027. Huy động các quỹ hỗ trợ sinh kế từ cộng đồng doanh nghiệp du lịch để tài trợ trực tiếp cho các mô hình kinh tế biển hộ gia đình.
Thứ tư, thiết lập chuỗi sinh kế thích ứng và củng cố mạng lưới an sinh toàn diện. Phòng Kinh tế phối hợp Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội triển khai các lớp đào tạo nghề gắn trực tiếp với nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp tại các khu công nghiệp Nhơn Hội, Phú Tài. Phấn đấu đến năm 2030, 100% lao động thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo sau thu hồi đất được chuyển đổi nghề nghiệp ổn định, giữ vững tỷ lệ tái nghèo hàng năm dưới mức 0,05%.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Luận văn là nguồn tư liệu khoa học và thực tiễn giá trị cho nhiều nhóm đối tượng:
Cơ quan quản lý nhà nước và cán bộ hoạch định chính sách cấp huyện, thành phố trực thuộc tỉnh: Cung cấp khung quy trình 6 bước thực thi chính sách chuẩn hóa và mô hình điều phối liên ngành, giúp lãnh đạo địa phương tối ưu hóa việc phân bổ ngân sách giảm nghèo đa chiều trong bối cảnh đô thị hóa nhanh.
Học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Quản lý công, Chính sách công, Xã hội học: Sử dụng luận văn làm tài liệu tham khảo điển hình về phương pháp đánh giá chính sách công cấp địa phương, vận dụng hệ thống lý thuyết nghèo đa chiều vào phân tích thực chứng tại khu vực duyên hải miền Trung.
Cán bộ hệ thống Ngân hàng Chính sách Xã hội và các tổ chức chính trị - xã hội: Khai thác bức tranh phân bổ hộ nghèo tại 21 phường, xã để thiết kế các gói tín dụng ưu đãi phù hợp với chu kỳ sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy hải sản và kinh doanh dịch vụ du lịch.
Các tổ chức phi chính phủ và khối doanh nghiệp triển khai trách nhiệm xã hội: Định vị chính xác các địa bàn và nhóm dân cư yếu thế đang chịu sự thiếu hụt về chỉ số nhà ở, nước sạch và giáo dục nghề nghiệp để tài trợ các dự án an sinh xã hội đúng đối tượng và mang lại hiệu quả bền vững.
Câu hỏi thường gặp
Đặc trưng nổi bật nhất của bức tranh nghèo tại thành phố Quy Nhơn là gì?
Thực trạng nghèo tại Quy Nhơn mang tính chất nghèo thành thị áp đảo, với 103 trên tổng số 123 hộ nghèo toàn thành phố tập trung tại 16 phường nội thành vào năm 2022. Điều này bắt nguồn từ cơ cấu đô thị hóa nhanh, khiến nhóm lao động phi chính thức và dịch vụ dễ rơi vào cảnh mất thu nhập khi nền kinh tế chịu biến động.
Tại sao số lượng hộ nghèo tại Quy Nhơn lại tăng đột biến trong năm 2021?
Số hộ nghèo năm 2021 tăng vọt lên 261 hộ do tác động cộng hưởng từ hai yếu tố: sự đóng băng hoàn toàn của ngành du lịch biển do đại dịch COVID-19 làm suy giảm việc làm, kết hợp với việc địa phương bắt đầu áp dụng chuẩn nghèo đa chiều mới giai đoạn 2021–2025 với các tiêu chí khắt khe hơn về thu nhập và dịch vụ cơ bản.
Quy trình thực thi chính sách giảm nghèo bền vững cấp huyện gồm những khâu nào?
Quy trình được thực hiện qua 6 bước khép kín: xây dựng kế hoạch và ban hành văn bản điều hành; phổ biến và tuyên truyền chính sách; huy động, phân bổ nguồn lực; phân công, phối hợp liên ngành; theo dõi, kiểm tra, giám sát tiến độ; và đánh giá, sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm.
Những địa phương nào tại Quy Nhơn đã hoàn thành mục tiêu không còn hộ nghèo?
Tính đến cuối năm 2022, thành phố đã hoàn thành xóa trắng hộ nghèo tại 8 phường, xã gồm: Lý Thường Kiệt, Lê Lợi, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Văn Cừ, Trần Phú, Thị Nại, Ghềnh Ráng và xã Nhơn Lý; đồng thời xóa trắng hộ cận nghèo tại 3 phường trung tâm nội thành.
Kinh nghiệm từ các đô thị lân cận giúp ích gì cho công tác giảm nghèo tại Quy Nhơn?
Mô hình hỗ trợ vốn gắn với bao tiêu đầu ra sản phẩm tại Đồng Hới (Quảng Bình) với tỷ lệ nghèo 0,45% và chiến lược đào tạo nghề theo nhu cầu thực tế của thị trường tại Tuy Hòa (Phú Yên) với tỷ lệ nghèo 1,1% là hai bài học quý giá giúp Quy Nhơn đa dạng hóa sinh kế biển bền vững.
Kết luận
Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về chu trình thực thi chính sách công và phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều tại đơn vị hành chính cấp huyện.
Phản ánh bức tranh giảm nghèo thực chứng tại thành phố Quy Nhơn giai đoạn 2018–2022, làm rõ mức kéo giảm hộ nghèo đạt 0,17% trên 73.497 hộ dân và nhận diện sâu sắc thách thức nghèo đô thị.
Chỉ rõ các điểm nghẽn về tính bền vững của nguồn thu ngân sách, việc chuyển đổi sinh kế cho lao động sau đền bù giải tỏa và năng lực giám sát của bộ máy cán bộ cơ sở.
Đề xuất 4 giải pháp mang tính chiến lược, đồng bộ về truyền thông số, nâng cao năng lực cán bộ, mở rộng tín dụng chính sách và tạo lập việc làm thích ứng.
Xác lập lộ trình hành động giai đoạn 2024–2030 gắn liền với việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý an sinh xã hội, kêu gọi sự chung tay quyết liệt của cả hệ thống chính trị và cộng đồng doanh nghiệp nhằm đưa Quy Nhơn trở thành đô thị biển không còn hộ nghèo bền vững.