Chương 1: Cơ sở lý luận về thực thi chính sách GNBV tại cấp huyện Chương 2: Thực trạng thực thi chính sách GNBV tại thành phố Quy Nhơn thuộc tỉnh Bình Định. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác thực thi chính sách GNBV tại Thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TẠI CẤP HUYỆN 1. Chính sách giảm nghèo bền vững 1.
Một số khái niệm 1. Khái niệm nghèo Hiện nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về nghèo. Tùy từng trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, tùy từng thời điểm nhất định mà có những quan điểm khác nhau và những tiêu chuẩn khác nhau về nghèo. Một số định nghĩa về nghèo phổ biến như sau: - Theo quan điểm của Ủy hội Kinh tế Xã hội châu Á Thái Bình Dương Liên Hợp Quốc thì nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người.
Những nhu cầu này đã được xác lập, thừa nhận theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương. Như vậy, theo quan điểm này, mỗi xã hội theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội đều xác lập một tiêu chuẩn riêng về những nhu cầu cơ bản của con người; những người không được thỏa mãn những nhu cầu này chính là người nghèo [29]. - Theo quan điểm của Liên Hợp quốc, nghèo được tiếp cận theo bốn nội dung gồm: nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả các hoạt động xã hội; nghèo cũng có nghĩa là không tiếp cận đụ các nhu cầu cơ bản như ăn – mặc – học tập – khám chữa bệnh – không việc làm; nghèo còn có nghĩa là không an toàn bởi dễ rơi vào tình trạng không có quyền, không được tiếp cận tín dụng; đồng thời nghèo cũng là việc dễ bị bạo hành, phải sống trong các điều kiện rủi ro,…[1] 9 - Theo quan điểm của Galbraith – một nhà kinh tế học người Mỹ thì những người bị coi là nghèo khổ khi họ có thu nhập của họ dưới mức thu nhập của cộng đồng; đồng thời họ cũng không được thụ hưởng những thứ vần thiết theo chuẩn mực [15]. Hiện nay, vẫn còn nhiều quan điểm, cách định nghĩa khác nhau về đói nghèo ở nước ta.
Tuy nhiên ngoài việc tham khảo các khái niệm trên thế giới, thì ở nước ta đói và nghèo được chia làm hai khái niệm riêng biệt. Từ những quan điểm trên, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả định nghĩa: “Nghèo là một tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản hoặc được hưởng dưới mức trung bình của công đồng tại địa phương”. Khái niệm nghèo đa chiều Từ khái niệm về nghèo mà Liên Hợp quốc đã đưa ra ở trên, có thể thấy rằng, vấn đề nghèo đa chiều có thể được đo lường bằng tiêu chí về thu nhập (trung bình) và các tiêu chí phi thu nhập (tập trung vào các nhóm dịch vụ cơ bản: y tế, giáo dục, văn hóa, xã hội, việc làm,…). Việc xác định được các tiêu chí này sẽ giúp công tác xác định người nghèo ngày một chính xác hơn.
Hiện nay, chỉ số nghèo đa chiều quốc tế tập trung vào 3 tiêu chí chính là: y tế, giáo dục và điều kiện sống bên cạnh thước đo truyền thống dựa vào thu nhập [1]. Ở nước ta, thuật ngữ nghèo đa chiều được đề cập chính thức trong một văn bản của Đảng đó là Nghị quyết Hội nghị trung ương 5, khóa XI vào năm 2023; trong đó, Nghị quyết đề ra mục tiêu rằng cần phải đảm bảo về thu nhập tối tiểu và đảm bảo mức tiếp cận một số dịch vụ xã hội cơ bản cho người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn (trong đó có người nghèo). Đến năm 2014, Quốc hội đã cụ thể hóa quan điểm của Đảng trong Nghị quyết về đẩy mạng thực hiện mục tiêu GNBV đến năm 2020. Nghị quyết này đã khẳng định rằng cần phải xây dựng chuẩn nghèo theo phương pháp đa chiều.
Như vậy, nghèo đa 10 chiều ở Việt Nam cũng được xác định dựa trên tiêu chí về thu nhập và tiêu chí phi thu nhập theo thế giới; tuy nhiên căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội mà nước ta xây dựng các tiêu chị cụ thể phù hợp với tình hình đất nước để xác định người nghèo. Từ việc phân tích quan điểm của thế giới và của Việt Nam về nghèo đa chiều, có thể rút ra: “Nghèo đa là một phương pháp đo lường dựa trên tiêu chí thu nhập và tiêu chí tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản nhằm xác định người nghèo”. Những người nghèo theo phương pháp này là những người có mức thu nhập trung bình thấp hơn so với tiêu chí về thu nhập, đồng thời thiếu hụt trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản như: y tế, giáo dục, văn hóa, thông tin,… Khái niệm chuẩn nghèo Chuẩn nghèo có thể được hiểu là một thước đo, là các tiêu chí để xác định người nghèo. Trên thế giới đang áp dụng nhiều chuẩn nghèo khác nhau trong đó có hai chuẩn nghèo phổ biến là: chuẩn nghèo dựa vào thu nhập và chuẩn nghèo đa chiều; tuy nhiên hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đã chuyển đổi sang sử dụng phương pháp đa chiều để xác định người nghèo.
Như vậy, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài có thể rút ra: “Chuẩn nghèo là hệ thống các tiêu chí cụ thể nhằm xác định các đối tượng là người nghèo”. Từ khái niệm, có thể thấy chuẩn nghèo bao gồm nhiều tiêu chí khác nhau; tùy thuộc vào đặc điểm lịch sử, văn hóa và trình độ phát triển kinh tế mà mỗi quốc gia xây dựng bộ tiêu chí riêng để đo lường. Tuy nhiên, hầu hết các quốc gia đều áp dụng hai tiêu chí đó là chỉ số hạnh phúc (Happy Planet Index) và Hệ số bất bình đẳng trong phân phối thu nhập (Hệ số Gini) đồng thời đối chiếu các tiêu chí đo lường nghèo đói của Ngân hàng Thế giới (chuẩn nghèo mà các quốc gia trên thế giới đưa ra thường thấp hơn so với chuẩn nghèo của Ngân hàng Thế giới). 11 Tại Việt Nam, chuẩn nghèo được phân chia làm nhiều giai đoạn khác nhau.
Tuy nhiên, nếu phân chia theo việc áp dụng các phương pháp đo lường theo thu nhập và phương pháp đa chiều thì có thể chia là hai mốc giai đoạn gồm: - Giai đoạn trước năm 2016: Chuẩn nghèo ở nước ta được đo lường theo mức thu nhập trung bình hàng tháng; phân chia các vùng khác nhau để xác định tiêu chuẩn thu nhập cụ thể. - Giai đoạn sau năm 2016: Đây là giai đoạn nước ta chính thức áp dụng phương pháp đo lường đa chiều để xác định người nghèo. Các nhóm tiêu chí để xác định bao gồm: thu nhập bình quân và mức độ tiếp cận các dịch vụ cơ bản của người dân. Các nội dung trên cho thấy việc xác định chuẩn nghèo có sự biến động theo từng giai đoạn theo sự phát triển kinh tế xã hội nước ta và chuẩn nghèo là cơ sở để nhà nước hoạch định, triển khai các chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội; đồng thời, là cơ sở chính để các địa phương xác định hộ nghèo, cận nghèo để có các chính sách hỗ trợ phù hợp.
Khái niệm giảm nghèo Có thể hiểu một cách đơn giản giảm nghèo là việc áp dụng các giải pháp giúp người nghèo thoát nghèo. Hay cũng có thể hiểu giảm nghèo là một quá trình giúp nâng cao đời sống cho người nghèo, giúp họ có một mức sống tốt hơn, vượt qua ngưỡng đo lường về thu nhập để thoát nghèo. Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm giảm nghèo: - Theo góc độ của người nghèo: giảm nghèo là quá trình người nghèo được nhà nước, xã hội hỗ trợ tiếp cận các nguồn lực để có thể sản xuất, đảm bảo thu nhập; tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản; từ đó giúp họ dần dần thoát khỏi cuộc sống nghèo đó. 12 - Theo góc độ các vùng nghèo: ở góc độ này giảm nghèo liên quan đến việc thúc đẩy phát triển kinh tế; chuyển dịch kinh tế ; nâng cao trình độ khoa học – kỹ thuật; thay đổi phương thức sản xuất nhằm nâng cao thu nhập cho toàn bộ cộng đồng dân cự tại vùng nghèo đó.
- Theo góc độ quản lý nhà nước: giảm nghèo là một chủ trương, chính sách của nhà nước nhằm hỗ trợ, giúp đỡ người nghèo tăng thu nhập đồng thời tiếp cận được các dịch vụ xã hội cơ bản. Luận văn tiếp cận giảm nghèo theo góc độ quản lý nhà nước, cụ thể: “Giảm nghèo là việc nhà nước ban hành và thực thi các chính sách, chương trình, dự án giúp đảm bảo đời sống vật chất, tinh thần cho người nghèo, giúp họ vươn lên thoát nghèo”. Khái niệm giảm nghèo bền vững Ở Việt Nam, khái niệm GNBV được các nhà khoa học nghiên cứu từ đầu những năm 2000; nhưng đến năm 2008, khái niệm này mới được đưa vào một văn bản chính thức của nhà nước (Nghị quyết số 30a/NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo). Mặc dù cụm từ này được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong các văn bản pháp luật, trong các công trình nghiên cứu, song đến này vẫn chưa có khai niệm thống nhất về GNBV.
Một số quan điểm liên quan đến GNBV: - Theo quan điểm của PGS.TS Trần Đình Thiên tại Hội thảo chiến lược giảm nghèo giai đoạn 2011-2020 do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, ông cho rằng: những chính sách như tặng nhà, tặng các phương tiện phục vụ đời sống cho người nghèo là cách xóa nghèo nhanh tức thời; tuy nhiên cách thức này không bền vững. Để có thể xóa nghèo bền vững, theo quan điểm của PGS.TS Trần Đình Thiên thì nhà nước phải cung cấp cho người nghèo phương thức để sản xuất mà họ khó hoặc không thể tiếp cận được, đồng thời 13 phải duy trì việc tiếp cận này nhằm ngăn chặn các yếu tố rủi ro đến người nghèo. Mặt khác cần phải xác định rõ mức độ ưu tiên cho từng vùng, tự địa phương, bởi những địa phương có khả năng thoát nghèo cao sẽ có khả năng lan tỏa đến các vùng, địa phương khác; từ đó đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ. - Theo Quan điểm của ông Đỗ Mạnh Hùng - Phó Chủ nhiệm Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội cho rằng để GNBV cần nhiều yếu tố nhưng yếu tố quan trọng nhất cần làm là thực hiện dân chủ trong giảm nghèo.