Luận Văn Thạc Sĩ Về Công Tác Giảm Nghèo Tại Huyện Si Ma Cai, Tỉnh Lào Cai

Luận văn thạc sĩ phân tích hiệu quả công tác giảm nghèo tại huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai, đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đời sống người dân.

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2020

105
3
2

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận và thực tiễn về giảm nghèo

Chương này tập trung vào việc hệ thống hóa các cơ sở lý luậnthực tiễn về giảm nghèo. Nó bao gồm các khái niệm về nghèo, nghèo đa chiều, và chuẩn nghèo tại Việt Nam. Các khái niệm này được phân tích dựa trên các nghiên cứu quốc tế và trong nước, đặc biệt là từ các tổ chức như ESCAP và các quyết định của Chính phủ Việt Nam. Phần này cũng đề cập đến sự thay đổi của chuẩn nghèo qua các giai đoạn, từ việc đo lường bằng gạo đến việc sử dụng tiền tệ và cuối cùng là phương pháp tiếp cận đa chiều.

1.1. Lý luận chung về nghèo và chuẩn nghèo tại Việt Nam

Phần này đi sâu vào các khái niệm về nghèonghèo đa chiều. Nghèo được định nghĩa là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn các nhu cầu cơ bản, phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán. Nghèo đa chiều được hiểu là tình trạng thiếu hụt các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống, bao gồm cả thu nhập và các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và thông tin.

1.2. Chuẩn nghèo tại Việt Nam

Phần này trình bày sự thay đổi của chuẩn nghèo tại Việt Nam qua các giai đoạn, từ việc đo lường bằng gạo đến việc sử dụng tiền tệ và cuối cùng là phương pháp tiếp cận đa chiều. Các mức chuẩn nghèo được xác định dựa trên thu nhập bình quân đầu người và mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Các quyết định của Chính phủ như Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg đã quy định rõ các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020.

II. Phương pháp nghiên cứu

Chương này trình bày các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn, bao gồm phương pháp thu thập dữ liệu, tổng hợp dữ liệu và phân tích dữ liệu. Các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến công tác giảm nghèo tại huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai. Phần này cũng đề cập đến hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu được sử dụng để đánh giá hiệu quả của các chính sách giảm nghèo.

2.1. Phương pháp thu thập dữ liệu

Phần này mô tả các phương pháp thu thập dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu, bao gồm việc thu thập dữ liệu từ các nguồn chính thức như UBND huyện Si Ma Caiphòng Lao động, Thương binh và Xã hội. Các dữ liệu được thu thập bao gồm thông tin về tình hình giảm nghèo, các chính sách hỗ trợ và kết quả thực hiện các chương trình giảm nghèo trên địa bàn huyện.

2.2. Phương pháp phân tích dữ liệu

Phần này trình bày các phương pháp phân tích dữ liệu được sử dụng để đánh giá hiệu quả của các chính sách giảm nghèo. Các phương pháp bao gồm phân tích định lượng và định tính, sử dụng các chỉ tiêu nghiên cứu như tỷ lệ hộ nghèo, mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản và hiệu quả của các chính sách hỗ trợ.

III. Thực trạng giảm nghèo tại huyện Si Ma Cai tỉnh Lào Cai

Chương này phân tích thực trạng giảm nghèo tại huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai trong giai đoạn 2016-2019. Phần này bao gồm các thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện, cũng như các kết quả thực hiện các chính sách giảm nghèo. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác giảm nghèo cũng được phân tích, bao gồm các hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế này.

3.1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội

Phần này mô tả các điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của huyện Si Ma Cai, bao gồm địa hình, khí hậu, dân cư và các hoạt động kinh tế chính. Các yếu tố này có ảnh hưởng lớn đến tình hình giảm nghèo của huyện, đặc biệt là trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản và phát triển kinh tế địa phương.

3.2. Kết quả thực hiện các chính sách giảm nghèo

Phần này trình bày các kết quả thực hiện các chính sách giảm nghèo tại huyện Si Ma Cai, bao gồm việc hỗ trợ y tế, giáo dục, nhà ở, và các chính sách hỗ trợ tài chính. Các kết quả này được đánh giá dựa trên các chỉ tiêu nghiên cứu như tỷ lệ hộ nghèo, mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản và hiệu quả của các chính sách hỗ trợ.

IV. Giải pháp giảm nghèo tại huyện Si Ma Cai tỉnh Lào Cai

Chương này đề xuất các giải pháp giảm nghèo tại huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai đến năm 2025. Các giải pháp bao gồm việc nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và người dân về công tác giảm nghèo, tăng cường quản lý nhà nước đối với các chính sách hỗ trợ, và tăng cường công tác kiểm tra, giám sát kết quả rà soát hộ nghèo hàng năm. Các giải pháp này nhằm mục tiêu giảm nghèo bền vữngphát triển kinh tế địa phương.

4.1. Phương hướng và mục tiêu giảm nghèo

Phần này trình bày các phương hướng và mục tiêu giảm nghèo tại huyện Si Ma Cai đến năm 2025. Các mục tiêu bao gồm việc giảm tỷ lệ hộ nghèo, cải thiện điều kiện sống của người dân, và tăng cường tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Các phương hướng được đề xuất dựa trên các kết quả nghiên cứu và thực trạng giảm nghèo của huyện.

4.2. Các giải pháp cụ thể

Phần này đề xuất các giải pháp cụ thể để giảm nghèo tại huyện Si Ma Cai, bao gồm việc nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và người dân về công tác giảm nghèo, tăng cường quản lý nhà nước đối với các chính sách hỗ trợ, và tăng cường công tác kiểm tra, giám sát kết quả rà soát hộ nghèo hàng năm. Các giải pháp này nhằm mục tiêu giảm nghèo bền vữngphát triển kinh tế địa phương.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢM NGHÈO Ở ĐỊA PHƯƠNG 1. Cơ sở lý luận về giảm nghèo 1. Lý luận chung về nghèo và chuẩn nghèo tại Việt Nam 1. Khái niệm về nghèo, nghèo đa chiều - Khái niệm nghèo Mặc dù nghèo đã xuất hiện từ khá lâu trong xã hội loài người nhưng có thể thấy đến những năm 90 của thế kỉ trước, vấn đề nghèo mới thực sự được các tổ chức quốc tế nghiên cứu một cách đầy đủ.

Và do cách nhìn nhận ở các góc độ khác nhau về vấn đề nghèo nên các nhà nghiên cứu cũng đưa ra những khái niệm về nghèo khác nhau. Năm 1993, tại Hội nghị bàn về giảm nghèo do Ủy ban kinh tế xã hội khu vực châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Băng Cốc (Thái Lan), các ý kiến đã nhất trí đưa ra khái niệm như sau: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận” (Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, 2015). Theo khái niệm này thì tiêu chí và chuẩn mực đánh giá về đói nghèo vẫn còn để ngỏ về định lượng, hay nói cách khác là tiêu chuẩn về đánh giá đói nghèo ở các quốc gia và vùng lãnh thổ là khác nhau. Đến năm 1995, Hội nghị thượng đỉnh thế giới về Phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen (Đan Mạch) đã đưa ra khái niệm: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn 1 đô la Mỹ (USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại” (Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, 2015).

Khác với khái niệm trên, khái niệm này đã có tính định lượng nhưng không tính đến sự thay đổi về thời gian của vấn đề nghèo. 6 Ở nước ta, dựa trên các khái niệm trên và căn cứ vào tình hình thực tế của đất nước, ý kiến của các chuyên gia, các nhà nghiên cứu về vấn đề nghèo, chúng ta đã thừa nhận định nghĩa về nghèo do Ủy ban kinh tế xã hội khu vực châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) đưa ra tại Hội nghị bàn về giảm nghèo tổ chức tại Băng Cốc (Thái Lan) năm 1993, đó là: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận” (Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, 2015). Thực tế cho thấy có sự không thống nhất về quan điểm, khái niệm và đối với từng quốc gia khác nhau sẽ có chuẩn mực đánh giá khác nhau. Vì thế, trên cơ sở thống nhất chung về mặt định tính, mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ, mỗi địa phương cần phải xác định thước đo mức nghèo đói của quốc gia, lãnh thổ, địa phương mình.

- Khái niệm nghèo đa chiều Để thực hiện mục tiêu giảm nghèo hiệu quả, bền vững hơn, Quốc hội khóa 13, kỳ họp thứ 7 đã thông qua Nghị quyết số 76/2014/QH13 về việc đẩy mạnh thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững đến năm 2020, trong đó nêu rõ: xây dựng chuẩn nghèo mới theo phương pháp tiếp cận đa chiều nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu và đáp ứng các dịch vụ xã hội cơ bản; Quyết định số 2324/QĐ-TTg ngày 19/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ ban hành kế hoạch hành động triển khai Nghị quyết số 76/2014/QH13 của Quốc hội đã xác định rõ nhiệm vụ xây dựng, nghiên cứu xây dựng đề án tổng thể về đổi mới phương pháp tiếp cận nghèo đói ở Việt Nam từ đơn chiều sang đa chiều. Khái niệm về nghèo đa chiều ở Việt Nam được hiểu như sau: “Nghèo đa chiều là tình trạng con người không được đáp ứng ở mức tối thiểu các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống” (Đặng Nguyên Anh, 2015). Vấn đề nghèo đa chiều có thể đo bằng tiêu chí thu nhập và các tiêu chí phi thu nhập. Sự thiếu hụt cơ hội, đi kèm với tình trạng suy dinh dưỡng, thất học, bệnh tật, bất hạnh và tuyệt vọng là những nội dung được quan tâm trong khái niệm nghèo đa chiều.

Chuẩn nghèo tại Việt Nam Xác định nghèo là một công việc khó khăn vì nó gắn với từng thời điểm, từng quốc gia và được xem xét ở nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau. Ở nước ta, khi có chủ trương xóa đói giảm nghèo, các cơ quan trong nước và quốc tế đã đưa ra những chuẩn mực để xác định tình hình nghèo đói. Từ năm 2015 trở về trước, Việt Nam chủ yếu xác định chuẩn nghèo theo chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người theo tháng hoặc theo năm. Chỉ tiêu này được tính bằng giá trị hoặc bằng hiện vật quy đổi, thường lấy lương thực quy thóc để đánh giá.

Ngoài ra còn một số chỉ tiêu chế độ dinh dưỡng (calo/người), mức chi nhà ở, chi ăn mặc, chi tư liệu sản xuất, điều kiện học tập, điều kiện chữa bệnh, đi lại. Các tiêu chí đánh giá nghèo khác như chỉ số phát triển con người (HDI), Chỉ số hành tinh hạnh phúc (HPI) cũng đã được sử dụng, nhưng chủ yếu là sử dụng trong các công trình nghiên cứu kinh tế xã hội hoặc tính toán trên phạm vi quốc gia để xác định mức độ phát triển trong so sánh với các nước khác trên thế giới. Tại Việt Nam, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan được Chính phủ giao nhiệm vụ chủ trì thực hiện việc điều tra, khảo sát các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, nghiên cứu và đề xuất với Chính phủ, căn cứ vào đề xuất đó Chính phủ công bố mức chuẩn nghèo cho từng giai đoạn cụ thể. Từ năm 1993 đến nay Việt Nam đã có 6 lần thay đổi chuẩn nghèo, các mức chuẩn nghèo của Việt Nam trong 3 giai đoạn đầu: giai đoạn 1993-1994, giai đoạn 1995-1997 và giai đoạn 1998-2000 nước ta sử dụng mức chuẩn nghèo theo thu nhập bình quân đầu người trên tháng nhưng được tính quy đổi bằng gạo (kg/người/tháng).

Từ năm 2000 trở đi ở nước ta về cơ bản đã xoá được tình trạng đói, do đó mức chuẩn nghèo các giai đoạn 2001-2005 và giai đoạn 2006 - 2010 vẫn được tính theo thu nhập bình quân đầu người trên tháng nhưng được tính bằng giá trị (đồng/người/tháng). Theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 30/01/2011 đã ban hành tiêu chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015. Theo đó, mức chuẩn hộ nghèo trong giai đoạn 2011-2015 là hộ có mức thu nhập bình quân đến 400.000 8 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và đến 500.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị. Chuẩn hộ cận nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và từ 501.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị.1: Chuẩn nghèo của Việt Nam được xác định qua các thời kỳ Giai đoạn Đơn vị tính Hộ đói Hộ nghèo 1.

Giai đoạn 1993-1994 ≤ mức ≤ mức - Vùng nông thôn kg gạo/người/tháng 8 15 - Vùng thành thị kg gạo/người/tháng 13 20 2. Giai đoạn 1995-1997 - Vùng nông thôn miền núi, hải đảo kg gạo/người/tháng 13 15 - Vùng nông thôn đồng bằng, trung du kg gạo/người/tháng 13 20 - Vùng thành thị kg gạo/người/tháng 13 25 3. Giai đoạn 1998-2000 - Vùng nông thôn miền núi, hải đảo đồng/người/tháng 45.000 - Vùng nông thôn đồng bằng, trung du đồng/người/tháng 45.000 - Vùng thành thị đồng/người/tháng 45. Giai đoạn 2001-2005 - Vùng nông thôn miền núi, hải đảo đồng/người/tháng 80.000 - Vùng nông thôn đồng bằng, trung du đồng/người/tháng 100.000 - Vùng thành thị đồng/người/tháng 150.

Giai đoạn 2006-2010 - Vùng nông thôn đồng/người/tháng 200.000 - Vùng thành thị đồng/người/tháng 260. Giai đoạn 2011-2015 - Vùng nông thôn đồng/người/tháng 400.000 - Vùng thành thị đồng/người/tháng 500.000 (Nguồn: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) 9 Gần đây nhất theo quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 19 tháng 11 năm 2015 về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016-2020 đã quy định rõ các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020. Theo đó, các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 gồm tiêu chí về thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản (gồm 5 dịch vụ là y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin). Chuẩn nghèo cụ thể như sau: a) Các tiêu chí về thu nhập * Hộ nghèo - Khu vực nông thôn: hộ nghèo là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: + Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống.

+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. - Khu vực thành thị: hộ nghèo là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: + Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống. + Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. * Hộ cận nghèo - Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.

- Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. * Hộ có mức sống trung bình 10 - Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1. - Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1. b) Các tiêu chí đánh giá mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản Bảng 1.2: Các tiêu chí đánh giá mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản Chiều nghèo Tiêu chí đo lường Ngưỡng thiếu hụt Hộ gia đình có ít nhất 1 thành viên trong độ - Trình độ giáo dục tuổi lao động chưa tốt nghiệp THCS hoặc của người lớn 1.

Giáo dục hiện không đi học. - Tình trạng đi học Hộ gia đình có ít nhất 1 trẻ em trong độ tuổi của trẻ em đi học (5 đến dưới 16 tuổi) hiện không đi học.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận Văn Thạc Sĩ: Giải Pháp Giảm Nghèo Hiệu Quả Tại Huyện Si Ma Cai, Tỉnh Lào Cai là một nghiên cứu chuyên sâu về các chiến lược và biện pháp nhằm cải thiện đời sống kinh tế - xã hội tại một trong những khu vực khó khăn của Việt Nam. Tài liệu này không chỉ phân tích thực trạng nghèo đói mà còn đề xuất các giải pháp cụ thể, thiết thực, giúp các nhà quản lý và hoạch định chính sách có cái nhìn toàn diện hơn trong việc thực hiện các chương trình giảm nghèo. Độc giả sẽ được tiếp cận với những phương pháp tiếp cận mới, dựa trên dữ liệu thực tế và kinh nghiệm từ các mô hình thành công khác.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan đến phát triển kinh tế địa phương, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế tăng cường công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện yên dũng tỉnh bắc giang, nghiên cứu này cung cấp góc nhìn về quản lý nguồn lực tài chính trong bối cảnh địa phương. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế tăng cường quản lý của ngân hàng nhà nước đối với quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn tỉnh hưng yên sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của các tổ chức tài chính trong việc hỗ trợ phát triển kinh tế. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh phát triển cho vay hộ kinh doanh tại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện bình sơn tỉnh quảng ngãi là một tài liệu hữu ích để khám phá cách thức hỗ trợ tài chính cho các hộ kinh doanh nhỏ, góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương.

Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức mà còn mở ra các góc nhìn đa chiều, giúp bạn hiểu sâu hơn về các giải pháp phát triển bền vững.