CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN CẤP HUYỆN 1. Đói nghèo và chính sách giảm nghèo bền vững 1. Đói nghèo ở khu vực đô thị và thước đo về đói nghèo 1. Đói nghèo ở khu vực đô thị: - Đói (hay là thiếu đói), theo khía cạnh xã hội là rơi phải tình trạng thiếu thốn lương thực.
Đói là tình trạng túng thiếu, nghèo nàn về đời sống vật chất mà mức nhu cầu cần thiết nhất để sống (nhu cầu mặc) cũng không thể nào thoả mãn được. Người gặp khó khăn chủ yếu là người gặp phải những trở ngại về điều kiện cuộc sống, hoặc không có đủ điều kiện lao động, tạo thu nhập hoặc không có việc làm; hoặc gặp phải những biến cố bất ngờ do thiên tai, hạn hán, lũ lụt, hoả hoạn, bệnh dịch. - Nghèo là rơi vào tình trạng không có hoặc có quá ít ỏi những thứ trong điều kiện bình thường của đời sống vật chất. Người nghèo thông thường cũng sẽ gặp phải những tình trạng như trên, tuy nhiên mức độ ít nghiêm trọng hơn, vì có thể mua đủ lương thực phục vụ nhu cầu ăn uống, không sợ đói.
Tuy phân định về mức độ rõ ràng, song trên thực tiễn ranh giới giàu, nghèo và thiếu hay không thiếu lương thực cũng vô cùng mờ nhạt. Vì vậy, đây là tình trạng đói nghèo trong nhiều hoàn cảnh người nghèo không thể gom chung lại. - Xóa đói giảm nghèo là việc làm giúp người nghèo, vùng nghèo tiếp cận được với việc làm, dịch vụ nhằm cải thiện mức sống và thụ hưởng được dịch vụ cao nhất. Cơ chế, chính sách xoá đói giảm nghèo tại nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được triển khai thông qua các chương trình, đề án, văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ và Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo và việc làm giai đoạn 2021 - 2025.
- Tỷ lệ đói nghèo là tỷ lệ hộ gia đình có thu nhập, và điều kiện thụ hưởng dịch vụ dưới mức tiêu chuẩn của nhà nước trên tổng số dân của địa bàn nghèo ở thời điểm điều tra, khảo sát. Mặt yếu của tỷ lệ đói nghèo là không 9 làm rõ về mức độ và bản chất đói nghèo so với ngưỡng nghèo (mức độ nằm dưới, ở giữa ngưỡng đói nghèo và mức độ cận trên ngưỡng đói nghèo) và chưa xác định rõ bản chất cụ thể của tình trạng đói nghèo. Bởi vậy, nếu chỉ dựa trên tỷ lệ đói nghèo thì sẽ hạn chế trong việc đề ra chính sách phát triển phù hợp với mỗi nhóm dân cư, với mỗi vùng (ví dụ nghèo đói trong cộng đồng dân tộc với người kinh và nghèo vùng đồng bằng, trung du với vùng cao. - Đói nghèo tại khu vực đô thị là thuật ngữ mới, đặc biệt áp dụng đối với người dân sinh sống, lao động ở các đô thị bị rơi vào tình trạng không có lương thực và mức thu nhập không đảm bảo đủ những nhu cầu thiết yếu trong đời sống vật chất.
Tuỳ mỗi nước, vùng lãnh thổ mà thang đo xác định đói nghèo tại đô thị sẽ khác nhau. Thước đo về đói nghèo: - Ngưỡng nghèo (hay chuẩn nghèo): Ngưỡng nghèo là mức độ về đời sống, được xác định nhằm phân chia ranh giới giữa "nghèo" và "không nghèo". Đây là một trong những tiêu chuẩn quan trọng nhằm xác định mức độ nghèo đói và đối tượng cần được trợ giúp. Có 2 loại ngưỡng nghèo là ngưỡng nghèo tuyệt đối và ngưỡng nghèo đa chiều: + Ngưỡng nghèo tuyệt đối là số tuyệt đối về mức sống của cá nhân, hộ gia đình được xác định là nghèo, theo một khoảng thời gian nhất định của mỗi nước, từng địa phương.
Dựa theo mức sống bình quân và trình độ phát triển theo mỗi giai đoạn, chính phủ đã ban hành Ngưỡng nghèo tuyệt đối cả vùng, từng nước, khu vực hoặc địa phương. Khi mức phát triển còn thấp, một số lượng đáng kể người dân vẫn không thể ăn đủ mặc, người ta sẽ ban hành ngưỡng nghèo tuyệt đối về lương thực, thực phẩm (là khoản tiền cần thiết để mua được một số lượng lương thực, thực phẩm nhằm cung cấp một số lượng calo nhất định phục vụ sinh hoạt và tái sản xuất sức lao động); và ngưỡng nghèo trung bình (có tính đến phần ngân sách chi trả cho toàn bộ các hàng hoá phi lương thực khác). 10 + Mức sống (mức thu nhập) của đối tượng, tính theo tỷ lệ phần trăm so với thu nhập trung bình đầu người của toàn xã hội là ngưỡng nghèo tương đối. Mức nghèo đa chiều được xác định ở mức 50% đến 60%.
Được xác định là người nghèo bởi những người có mức thu nhập trung bình thấp hơn mức trên. Ở nước ta, tuỳ thuộc tình hình phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) của địa phương sẽ có những chuẩn khác nhau để đánh giá, bình xét chuẩn nghèo. Năm 2005, Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 08/7/2005 phê duyệt Đề án xác định chuẩn mực nghèo đói mới giai đoạn 2006-2010 đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành như sau: Khu vực thành thị là 260.000 đồng/người/tháng. Khu vực đồng bằng là 200.000 đồng/người/tháng.
Mức chuẩn nghèo sử dụng nhằm xác định và đo lường mức độ bất bình đẳng về thu nhập và hưởng thụ các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân và là cơ sở xác định đối tượng nhằm thực hiện các mục tiêu giảm nghèo và an sinh xã hội; xác định các chỉ tiêu KT-XH chủ yếu trong giai đoạn 2016 - 2020 và giai đoạn 2021 - 2025. Có thể nói, chuẩn nghèo đói đã được điều chỉnh phù hợp với quy luật phát triển kinh tế thị trường, tạo điều kiện tiếp cận và trợ giúp có hiệu quả nhóm đối tượng yếu thế nhất trong xã hội, cũng như nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân. * Chuẩn nghèo của Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2021 - 2025: Cuối năm 2020, Hội đồng nhân dân (HĐND) Thành phố ban hành Nghị quyết số 13/2020/NQ-HĐND về Chương trình Giảm nghèo bền vững Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2021 - 2025. Trong đó, trên cơ sở trình Chuẩn nghèo và Chương trình Giảm nghèo của Thành phố, HĐND Thành phố phê duyệt chuẩn nghèo riêng của Thành phố giai đoạn 2021 – 2025.
Ngày 23 tháng 3 năm 2021, UBND thành phố ban hành Quyết định số 995/QĐ- UBND về quy định chuẩn nghèo đa chiều Thành phố giai đoạn 2021 - 2025 so với chuẩn nghèo của quốc gia giai đoạn 2021 – 2025, có nhiều sự khác biệt: 11 Chuẩn hộ nghèo Thành phố: Hộ nghèo là hộ gia đình thường trú hoặc tạm trú ổn định trên 06 tháng tại Thành phố Hồ Chí Minh thuộc một trong hai trường hợp sau: - Hộ gia đình có từ 03 chỉ số thiếu hụt trở lên. - Hộ gia đình có chỉ số thiếu hụt về Thu nhập và chỉ số thiếu hụt về Người phụ thuộc. Chuẩn hộ cận nghèo Thành phố: Là hộ gia đình thường trú hoặc tạm trú ổn định trên 06 tháng tại Thành phố Hồ Chí Minh có 02 chỉ số thiếu hụt và có thu nhập bình quân đầu người trên 36 triệu đồng đến 46 triệu đồng/người/năm. Chuẩn nghèo đa chiều tại TPHCM giai đoạn 2021 - 2025: Chuẩn nghèo đa chiều của Hà Nội thời kỳ 2021 - 2025 được xây dựng theo Bộ tiêu chuẩn nghèo mới gồm 5 tiêu chí tương ứng với 10 chỉ số thiếu hụt: (1) Chiều Y tế: gồm 2 chỉ số thiếu hụt - Chỉ số thiếu hụt vi chất Dinh dưỡng: Hộ gia đình có tối thiểu một trẻ em dưới 16 tuổi suy dinh dưỡng chiều cao theo tuổi hoặc suy dinh dưỡng cân nặng theo tuổi.
- Chỉ số thiếu hụt về Bảo hiểm y tế (BHYT): Hộ gia đình có ít nhất một người từ đủ 6 tuổi trở lên hiện nay không có BHYT. (2) Chiều Giáo dục và Đào tạo: gồm 2 chỉ số thiếu hụt - Chỉ số thiếu hụt về Năng lực giáo dục - đào tạo của người lớn trong lứa tuổi từ 16 đến 30 tuổi: Hộ gia đình có ít nhất một người lớn trong độ tuổi từ 16 tuổi đến 30 tuổi không tham dự các lớp đào tạo hoặc không có văn bằng, chứng chỉ giáo dục đào tạo phù hợp với lứa tuổi quy định. 12 - Chỉ số thiếu hụt về Tuổi đi học của trẻ em: Hộ gia đình có tối thiểu 01 trẻ em từ 3 tuổi đến dưới 16 tuổi không được học đủ lớp, bậc học tương ứng với độ tuổi gồm: trẻ từ 3 tuổi đến dưới 6 tuổi được tiếp cận giáo dục mầm non; trẻ từ 6 tuổi đến dưới 12 tuổi được tiếp cận giáo dục tiểu học và trẻ từ 12 tuổi đến dưới 16 tuổi được tiếp cận giáo dục trung học cơ sở). (3) Chiều Việc làm - Bảo hiểm xã hội: gồm 2 chỉ số thiếu hụt - Chỉ số thiếu hụt về Tiếp cận việc làm: Hộ gia đình có tối thiểu 01 người không có việc làm (người trong độ tuổi lao động có năng lực lao động, sẵn sàng hoặc mong muốn việc làm nhưng không tìm kiếm được việc làm); người có việc làm công hưởng tiền lương nhưng không có hợp đồng lao động.
- Chỉ số thiếu hụt về Bảo hiểm xã hội: Hộ gia đình có người trong độ tuổi lao động đang làm việc có thu nhập mà không đóng bảo hiểm xã hội. - Chỉ số thiếu hụt về Chất lượng nước sạch sinh hoạt công cộng: Không có khả năng truy cập vào nguồn nước sạch cho sinh hoạt hàng ngày (bao gồm: nước sạch tại chỗ hay nước sạch được cung cấp tại các điểm công cộng) từ phía hộ gia đình. - Chỉ số thiếu hụt về Người phụ thuộc: Hộ gia đình có tỷ lệ người phụ thuộc trong tổng số nhân khẩu thấp hơn 50%. Người phụ thuộc bao gồm: (1) trẻ em dưới 16 tuổi và (2) người già hoặc người khuyết tật đang hưởng chế độ bảo trợ xã hội hằng tháng.
Đặc điểm đói nghèo ở khu vực đô thị Thực tế đô thị và ở vùng ven đô cũng có một số lượng không ít người lao động, nghèo và thu nhập thấp, chủ yếu là nhóm người lao động nghèo ở khu vực nông thôn lên đô thị nhằm tìm kiếm việc làm. Một phần lớn trong số họ đã được tìm thấy công việc tốt tại các khu công nghiệp, khu chế xuất ngay sát đô thị, trong khi một số khác lại phải lang thang tìm kiếm công việc không cố định trong nội đô với thu nhập cực kỳ thấp. Vì thu nhập bị động, họ thường phải lao động vất vả, dẫn đến việc mâu thuẫn và hành vi không lành mạnh. Bên cạnh đó, một lý do khác liên quan đến vấn nạn xã hội ở thành phố chính là tình trạng nghèo khó.