MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đói nghèo là một phạm trù lịch sử có tính tương đối ở từng thời kỳ và ở mọi quốc gia. Hiện nay, trên thế giới có khoảng 1,2 tỷ lệ người đang sống trong cảnh đói nghèo, kể cả nước có thu nhập cao nhất thế giới vẫn có một tỷ lệ dân số sống trong tình trạng nghèo nàn cả về vật chất và tinh thần. Tỷ lệ người nghèo ở mỗi nước cũng khác nhau, đối với nước giàu thì tỷ lệ đói nghèo nhỏ hơn các nước kém phát triển song khoảng cách giàu nghèo lại lớn hơn rất nhiều.
Trong xu thế hợp tác và toàn cầu hoá hiện nay thì vấn đề xoá đói giảm nghèo (XĐGN) không còn là trách nhiệm của một quốc gia mà đã trở thành mối quan tâm của cả động đồng Quốc tế. Việt Nam là một trong những nước có thu nhập khá thấp so với các nước trên thế giới, do đó chương trình mục tiêu quốc gia về XĐGN là một chiến lược lâu dài cần được sự quan tâm giúp đỡ của cộng đồng quốc tế, kết hợp chặt chẽ với tinh thần tự lực, tự cường, đoàn kết của cả dân tộc để đẩy lùi đói nghèo theo kịp trình độ của các nước phát triển tiến kịp trình độ phát triển kinh tế của các nước tiên tiến. Chúng ta đều biết đòi nghèo là lực cản trên con đường tăng trưởng và phát triển của Quốc gia, nghèo khổ luôn đi liền với trình độ dân trí thấp, tệ nạn xã hội, bệnh tật phát triển, ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội… Trong thời kỳ nước ta đang thực hiện công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế thị trường như hiện nay, vấn đề XĐGN càng trở nên khó khăn hơn vì khoảng cách giàu nghèo ngày càng giãn ra. Muốn đạt được hiệu quả thiết thực nhằm giảm nhanh và bền vững tỷ lệ đói nghèo, nâng cao mức sống cho người dân thì mỗi địa phương, mỗi vùng phải có chương trình XĐGN riêng phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, đất đai, thổ nhưỡng n 2 của mình nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Thượng Cửu là xã nằm cách trung tâm huyện Thanh Sơn khoảng 35 km có diện tích tự nhiên là 7.235,75 ha, trong những năm gần đây được sự quan tâm của các cấp đã đầu tư xây dựng cơ sỡ hạ tầng như điện, đường, trường trạm…, sự nỗ lực cố gắng của lãnh đạo và nhân dân địa phương nên tình hình kinh tế - xã hội đã có những bước chuyển biến tích cực, sản xuất phát triển, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao, tỷ lệ hộ nghèo đói hàng năm giảm từ 2,5-3%. Tuy nhiên, Thượng Cửu vẫn là xã nghèo, có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất và thu nhập trung bình thấp nhất so với các xã trong huyện. Trước những thực tế đó, đòi hỏi phải có sự đánh giá đúng thực trạng em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp giảm nghèo tại xã Thượng Cửu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ” hy vọng sẽ giải quyết được vấn đề trên. Mục tiêu nghiên cứu 1.
Mục tiêu chung Tìm hiểu và đánh giá thực trạng giảm nghèo trên địa bàn xã Thượng Cửu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ, đánh giá hiệu quả triển khai thực hiện các chương trình giảm nghèo tại địa phương và đề xuất một số giải pháp tối ưu cho các hoạt động của chương trình để đưa xã từng bước thoát nghèo một cách bền vững. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá thực trạng nghèo và tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến nghèo của người dân trong xã. - Tìm hiểu thực trạng của chương trình giảm nghèo tại xã, nguyên nhân thành công và hạn chế. - Đề xuất một số giải pháp nhằm giảm nghèo hiệu quả cho người dân trong xã.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Củng cố kiến thức từ cơ sở đến chuyên ngành đã học trong trường, lớp; ứng dụng kiến thức đó vào thực tiễn. - Rèn luyện kĩ năng thu thập, xử lý số liệu, viết báo cáo; trang bị kiến thức thực tiễn, làm quen với công việc, phục vụ tích cực cho quá trình công tác sau này. - Có cái nhìn tổng thể về thực trạng nghèo của nhân dân xã Thượng Cửu.
Ý nghĩa trong thực tiễn - Qua kết quả nghiên cứu có thể làm cơ sở định hướng, làm tài liệu tham khảo cho đội ngũ cán bộ UBND xã Thượng Cửu và các cơ quan liên quan trong công tác giảm nghèo. Đối với công tác giảm nghèo của xã, thông qua thực trạng nghèo và những cái chưa đạt được trong công tác giảm nghèo, đề tài giúp cho ban chỉ đạo chương trình có những giải pháp cụ thể, thiết thực hơn nhằm nâng cao hiệu quả của công tác giảm nghèo. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2.
Khái niệm về nghèo đói Nghèo đói đã và đang tồn tại như một thách thức lớn đối với sự phát triển của thế giới loài người. Nghèo đói được đặt ra là một trong năm vấn đề lớn mang tính chất toàn cầu: Khủng hoảng sinh thái, ô nhiễm môi trường, khủng hoảng năng lượng, bệnh tật, thất nghiệp và nghèo đói (Trung tâm thông tin và phát triển Việt Nam, 2008). Có nhiều quan niệm nghèo đói của các tổ chức và các quốc gia trên thế giới cũng như Việt Nam, trên nhiều phương diện và tiêu thức khác nhau như theo thời gian, không gian, thế giới, môi trường, theo thu nhập, theo mức tiêu dùng và theo những đặc trưng khác của nghèo đói.Tuy nhiên, tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, thể chế chính trị xã hội và điều kiện kinh tế của mỗi quốc gia mà tính chất, mức độ nghèo của từng quốc gia có khác nhau. Nhìn chung mỗi quốc gia đều sử dụng một khái niệm để xác định mức độ nghèo khổ và đưa ra các chỉ số nghèo khổ để xác định giới hạn nghèo khổ.
Giới hạn nghèo khổ của các quốc gia được xác định bằng mức thu nhập tối thiểu để người dân có thể tồn tại được, đó là mức thu nhập để một hộ gia đình có thể mua sắm được các vật dụng cơ bản phục vụ cho việc ăn, mặc, ở và các nhu cầu thiết yếu khác theo mức giá hiện hành. Tại hội nghị về chống nghèo đói do Ủy ban kinh tế xã hội khu vực Châu Á- Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Băng Cốc - Thái Lan vào tháng 9 năm 1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cho rằng: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và phong tục ấy được xã hội thừa n 5 nhận”. Có thể xem đây là định nghĩa chung nhất về nghèo đói, trong đó các tiêu chí và chuẩn mực đánh giá về nghèo đói còn để ngỏ về mặt lượng hóa, bởi nó chưa tính đến những khác biệt và độ chênh lệch giữa các vùng các điều kiện lịch sử cụ thể quy định trình độ phát triển ở mỗi nơi. Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen, Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về nghèo đói như sau: “Nghèo đói là tất cả những ai thu nhập thấp hơn dưới 1USD mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại” (Nguyễn Hữu Hồng, 2007) [5].
Tuy nhiên việc xác định một hộ có nghèo hoặc đói hay không cần quan tâm đến nhiều thứ khác ngoài vật chất. Một người nào đó có thể nghĩ nghèo là không có tiền thì vẫn đúng nhưng không đủ. Nghèo vì không có tiền chỉ là một dạng để đo lường nghèo đói. Nghèo còn do thiếu sức khỏe, dinh dưỡng, học vấn, sự an toàn, sự tự tin trong cuộc sống, mối quan hệ xã hội và quyền bình đẳng hay thiếu mất cơ hội phát triển, dễ bị tổn thương hay bất lực trước những thay đổi xung quanh.
Ngoài ra, cũng có quan niệm khác hơn về nghèo đói mang tính kinh điển hơn, khác hơn của chuyên gia hàng đầu tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) - Ông Abapia Sen, người được giải thưởng Nôben về kinh tế năm 1998 cho rằng: “Nghèo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển cộng đồng” (Trung tâm thông tin và phát triển Việt Nam, 2007) [1]. Xét cho cùng, sự tồn tại của con người nói chung, người giàu và người nghèo nói riêng, cái khác nhau cơ bản để phân biệt họ đó là cơ hội lựa chọn của mỗi người. Trong cuộc sống thông thường người giàu có cơ hội lựa chọn nhiều hơn, người nghèo có cơ hội lựa chọn ít hơn.Tựu chung lại người nghèo thường là người có tình trạng sức khỏe, hạnh phúc ở mức thấp, là người có cơ n 6 hội sở hữu và tiếp cận tài nguyên thiên nhiên, cơ sở hạ tầng, vốn tài chính và vốn xã hội thấp. Khái niệm, chỉ tiêu, chuẩn mực đánh giá nghèo đói của thế giới 2.
Khái niệm Thực tế, thế giới thường dùng khái niệm nghèo khổ mà không dùng khái niệm đói nghèo như ở Việt Nam và nhận định nghèo khổ theo bốn khía cạnh là thời gian, không gian, giới và môi trường. - Về thời gian: Phần lớn người nghèo khổ là những người có mức sống dưới mức "chuẩn" trong một thời gian dài, cũng có một số người nghèo khổ tình thế như những người thất nghiệp, những người mới nghèo do suy thoái kinh tế hoặc thiên tai dịch họa, tệ nạn xã hội, rủi ro… - Về không gian: Nghèo đói diễn ra chủ yếu ở nông thôn, nơi có phần lớn dân số sinh sống. Tuy nhiên, tình trạng đói nghèo ở thành thị, trước hết ở các nước đang phát triển cũng có xu hướng gia tăng. - Về giới: Người nghèo là phụ nữ đông hơn nam giới, nhiều hộ gia đình nghèo nhất do nữ giới là chủ hộ.
Trong các hộ nghèo đói do đàn ông làm chủ thì người phụ nữ vẫn khổ hơn nam giới. - Về môi trường: Phần lớn người thuộc diện đói, nghèo đều sống ở những vùng khắc nghiệt mà ở đó tình trạng đói nghèo và xuống cấp của môi trường đều đang ngày càng trầm trọng thêm.