Chương 1: Cơ sở lý luận của thực thi chính sách xã hội với người có công. Chương 2: Thực trạng thực thi chính sách xã hội với người có công tại huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện thực thi chính sách xã hội với người có công tại huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LU N CỦA THỰC THI CHÍNH SÁCH XÃ HỘI VỚI NGƢỜI CÓ CÔNG 1.
Những vấn dê chung về ngƣời có công và chính sách xã hội với ngƣời có công 1. Người có công 1. Khái niệm người có công Ngay từ những ngày đầu năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi đồng bào hằng năm chọn một ngày để đền ơn đáp nghĩa ghi nhớ tri ân những NCC lao với Tổ quốc và nhân dân. Trong những năm qua, mặc dù trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, nhưng công tác Cựu chiến binh, liệt sĩ và người có công luôn được Đảng, Nhà nước, Chính phủ coi trọng, quan tâm và các cấp, các ngành sẵn sàng hưởng ứng.
Với sự vào cuộc cao, trách nhiệm lớn, đông đảo người dân, các văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách khen thưởng, chăm lo người có công ngày càng hoàn thiện. Đặc biệt, Điều 59 Khoản 1 Hiến pháp 2013 quy định “Nhà nước và xã hội tôn vinh, khen thưởng và có chính sách ưu đãi đối với người có công với nước” [9]. Các thời kỳ, chế độ khác nhau có chính sách đối với người cách mạng khác nhau. Trước đây, Đảng và Nhà nước ta đã coi việc thực hiện chế độ an sinh xã hội đối với người có công là nhiệm vụ hàng đầu của cả nước.
Hiện nay, chủ trương đó được thể hiện pháp lệnh: Pháp lệnh 02 ưu đãi người hoạt động cách mạng. Hiện nay, chưa có khái niệm cụ thể về người có công. Tuy nhiên có thể hiểu, người có công là người những đóng góp lớn đối với đất nước, với dân tộc. Những người tham gia, giúp đỡ cách mạng, cống hiến hi sinh cho sự nghiệp cách mạng của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Thân nhân của người có công được quy định tại Pháp lệnh bao gồm cha mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con (con đẻ, con nuôi) và người có công nuôi liệt 7 sĩ. Pháp lệnh số 02/2020/UBTVQH14 ngày 9 tháng 12 năm 2020 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của pháp lệnh ưu đãi người có công là căn cứ pháp lý để thực hiện chính sách ưu đãi hiện nay [12]. Phân loại người có công Theo khoản 1 Điều 2 Pháp lệnh Ưu đãi NCC với cách mạng số 04/2012/UBTVQH13 sửa đổi bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi NCC với cách mạng thì NCC bao gồm các đối tượng [28]. Một là, Người tham gia hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945.
Hai là, người tham gia hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 Ba là, liệt sĩ. Bốn là, bà mẹ Việt Nam anh hùng. Năm là, anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Sáu là, anh hùng Lao động trong thời kì kháng chiến.
Bảy là, thương binh, người hưởng chính sách như thương binh. Tám là, bệnh binh. Chín là, người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học. Mười là, người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày.
Mười một, người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế. Mười hai, NCC giúp đỡ cách mạng NCC giúp đỡ cách mạng là người đã có thành tích giúp đỡ cách mạng trong lúc khó khăn, nguy hiểm.2 Chính sách xã hội với người có công 1.1 Khái niệm chính sách xã hội với người có công - Khái niệm chính sách công: 8 Thuật ngữ chính sách được sử dụng khá rộng rãi ở nước ta trong thời gian gần đây, tuy nhiên, có nhiều định nghĩa khác nhau được đưa ra: Một số quan điểm của học giả nước ngoài: Trước hết, chính sách công là một chính sách của nhà nước, của chính phủ, là một bộ phận thuộc chính sách kinh tế và chính sách nói chung của mỗi đất nước. Thứ hai, về mặt kinh tế, chính sách công phản ánh và thể hiện những hoạt động cũng như quản lý của nhà nước đối với khu vực công, phản ánh việc đảm bảo ang hóa, dịch vụ công cộng cho nền kinh tế [29]. Thứ ba, đây là một công cụ quản lý của nhà nước, được nhà nước sử dụng để đo lường năng lực hoạch định chính sách, xác định mục tiêu, căn cứ kiểm tra, đánh giá, xác định trách nhiệm trong việc sử dụng nguồn lực công như ngân sách nhà nước, tài sản công, tài nguyên đất nước.
Một số quan điểm của học giả Việt Nam: Theo từ điển Bách khoa Việt Nam (1995), “Chính sách là những chuẩn tác thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong cụ một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa. Theo Giáo trình Hoạch định và phân tích chính sách công: “Chính sách là những hành động ứng xử của chủ thể với các hiện tượng tồn tại trong quá trình vận động phát triển nhằm đạt được mục tiêu nhất định” [10, tr.
Một số nhà nghiên cứu cho rằng: “Chính sách được hiểu một cách chung nhất là chủ trương và các biện pháp của một đảng phái, một chính phủ trong các lĩnh vực của đời sống chính trị - xã hội” hay “Chính sách là tập hợp biện pháp được thể chế hóa mà một chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra định hướng hoạt động cho các tổ chức, cá nhân trong xã hội nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của xã hội”. Đỗ Phú Hải cho rằng, “Chính sách công là một tập hợp các quyết định có 9 liên quan của Nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể và giải pháp thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định”. Như vậy chính sách được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau, đó có thể là chiến lược, sách lược, kế hoạch hay chuẩn tắc cụ thể, cũng có thể là hành động ứng xử của nhà nước trước các vấn đề cần giải quyết trong đời sống kinh tế - xã hội. Trong luận văn này, tác giả quan niệm như sau: Chính sách công là hành động ứng xử của Nhà nước đối với các vấn đề phát sinh trong quá trình quản lý, với các mục tiêu, giải pháp, công cụ cụ thể được xác lập trong hệ thống văn bản do cơ quan nhà nước ban hành.
Như vậy, chính sách công bao giờ cũng là hành động mang tính quyền lực nhà nước, được bảo đảm thực thi bởi các văn bản do nhà nước ban hành, luôn luôn có mục tiêu được xác định một cách rõ ràng để giải quyết vấn đề đang đặt ra và hệ thống công cụ, giải pháp của chính sách được xác định dựa trên nguyên nhân của vấn đề đang đặt ra nhằm phục vụ cho việc đạt tới mục tiêu đó. - Khái niệm chính sách xã hội: Với vai trò giải quyết các vấn đề đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội, nhà nước ban hành chính sách công trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội nên xét từ khía cạnh đối tượng chịu sự điều chỉnh của chính sách, có rất nhiều loại chính sách khác nhau như chính sách kinh tế, chính sách xã hội, chính sách văn hóa… Mỗi loại chính sách lại sử dụng hệ thống giải pháp, công cụ mang tính đặc trưng của lĩnh vực mà nó điều chỉnh để giải quyết vấn đề trong lĩnh vực đó. Trong đó, chính sách xã hội là chính sách điều chỉnh một trong những lĩnh vực quan trọng nhất – lĩnh vực xã hội, bảo đảm cho sự ổn định và phát triển của một quốc gia theo hướng công bằng, dân chủ, văn minh. Chính sách xã hội bao trùm mọi mặt đời sống của con người, từ điều kiện lao động và sinh hoạt, an sinh… Trình độ phát triển kinh tế là tiền đề để phát triển chính sách xã hội và ngược lại, sự hợp lý, sự công bằng và tiến bộ được thực hiện 10 qua chính sách xã hội lại tạo ra những động lực mạnh mẽ cho việc thực hiện những mục tiêu kinh tế nhằm làm cho dân giàu, nước mạnh.
Trong luận văn này, tác giả quan niệm, chính sách xã hội là hành động ứng xử của Nhà nước đối với các vấn đề phát sinh trong đời sống xã hội, với các giải pháp, công cụ cụ thể được xác lập trong hệ thống văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hướng tới lợi ích và sự phát triển con người, cộng đồng dân cư với mục tiêu bảo đảm sự công bằng và tiến bộ của xã hội. Đặc trưng của chính sách xã hội phải luôn mang tính xã hội, nhân văn và nhân đạo sâu sắc, luôn hướng và lấy co người làm trung tâm. - Khái niệm chính sách xã hội với người có công: Từ những phân tích phía trên, có thể đi tới quan niệm, chính sách xã hội với người có công là hành động ứng xử của Nhà nước đối với các vấn đề phát sinh trong đời sống xã hội của người có công, với các giải pháp, công cụ cụ thể được xác lập trong hệ thống văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hướng tới lợi ích và sự phát triển của đối tượng người có công, với mục tiêu bảo đảm sự công bằng và tiến bộ xã hội cho đối tượng này. Nội dung chính sách xã hội với người có công Sau khi chiến tranh kết thúc, Đảng và Nhà nước ta đã có những chính sách xã hội nhằm khôi phục và phát triển đất nước, đặc biệt đối với những người có công trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước.
Được chia thành các giai đoạn như sau: Giai đoạn từ 1945 đến 1954: Trong giai đoạn này, đất nước vừa giành lại độc lập, tiếp tục chiến đầu giành lại miền Nam, dù muôn vàn khó ang khi chiến tranh tàn phá miền bắc nặng nề, chính quyền Mỹ - Diệm chiếm đóng miền trong nhưng Đảng và Chính phủ đã nhanh chóng thực hiện các chính sách cho người có công như thương binh, gia đình liệt sĩ. Giai đoạn: 1976-1985: Sau khi thống nhất đất nước vào năm 1975, Việt Nam đã ban hành một số văn bản về ưu đãi người có công.