MỞ ĐẦU Cây nghệ vàng có tên khoa học là Curcuma longa L., thuộc họ gừng (Zingiberaceae) có nguồn gốc từ Đông Nam Á. Trong Đông Y, củ nghệ được sử dụng từ lâu như một thảo dược để chữa trị các chứng viêm loét dạ dày, viêm gan, vàng da, thấp khớp.; dùng ngoài để trị chấn thương tụ máu, mụn nhọt, ghẻ lở, giúp mau lành vết thương, liền sẹo, dùng bột nghệ vàng trộn với mật ong để chữa bệnh về dạ dày, viêm túi mật, sỏi mật… Những năm gần đây, các nhà khoa học đã xác định và chiết tách được các hợp chất curcuminoid có hàm lượng từ 2,5 – 5,4% so với khối lượng khô củ nghệ vàng, đồng thời, chứng minh được curcuminoid là hoạt chất chính có hoạt tính sinh học của củ nghệ vàng. Các hoạt chất chính trong nhóm này gồm 3 thành phần chính: curcumin, demethoxycurcumin và bis-demethoxycurcumin. Các hợp chất curcuminoid có tác dụng kháng nấm, kháng khuẩn, phòng và hỗ trợ điều trị nhiều loại bệnh ung thư, chống viêm, bảo vệ gan, chống oxy hóa.
Các công nghệ sản xuất curcuminoid ở nước ta chủ yếu trên nền tảng chiết xuất bằng dung môi hữu cơ nên chi phí sản xuất lớn, giá thành sản xuất cao khó cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại của Ấn Độ, Trung Quốc. Nhằm tìm kiếm các giải pháp công nghệ mới xanh – sạch trong khuôn khổ luận văn Thạc sĩ, tôi đề xuất thực hiện đề tài: “Nghiên cứu quy trình chiết xuất curcuminoid từ củ nghệ vàng (Curcuma longa L.) bằng công nghệ enzyme” với mục tiêu xây dựng được quy trình chiết xuất curcuminoid bằng công nghệ enzyme quy mô phòng thí nghiệm (PTN). Nội dung nghiên cứu: - Thu thập mẫu và đánh giá chất lượng củ nghệ vàng C. longa tại Nghệ An.
- Nghiên cứu lựa chọn enzyme phục vụ cho quá trình chiết xuất. - Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thủy phân củ nghệ bằng enzyme lựa chọn. - Nghiên cứu chiết xuất curcuminoid sau khi thủy phân enzyme. - Xây dựng và tối ưu quy trình chiết xuất curcuminoid bằng công nghệ enzyme quy mô PTN.
Giới thiệu về củ nghệ 1. Cây nghệ vàng Củ nghệ là thân rễ hoặc thân ngầm của cây nghệ vàng có tên khoa học là Curcuma longa L. longa), thuộc họ gừng (Zingiberaceae). Cây thuộc loại thân thảo mọc đối, cao 60-90 cm với một thân ngắn lá có tua.
Hoa của cây nghệ màu vàng, dài từ 10-15 cm và nhóm lại với nhau thành những gai dày đặc. Thân rễ màu vàng nâu với phần bên trong màu đỏ đến vàng cam (Hình 1. Thân rễ có chiều dài 2,5-7,0 cm và đường kính khoảng 2,5 cm với củ nhỏ phân nhánh [1]. Trong Đông Y, củ nghệ được sử dụng từ lâu như một thảo dược để chữa trị các chứng viêm loét dạ dày, viêm gan, vàng da, thấp khớp.; dùng ngoài để trị chấn thương tụ máu, mụn nhọt, ghẻ lở, giúp mau lành vết thương, liền sẹo, dùng bột nghệ vàng trộn với mật ong để chữa bệnh viêm loét dạ dày - tá tràng, các bệnh về viêm túi mật, sỏi mật… Củ nghệ được trồng ở nhiều vùng nóng trên thế giới, chủ yếu ở Ấn Độ - là nơi sản xuất, tiêu dùng và xuất khẩu lớn nhất [2, 3].
Ở Ấn Độ, nghệ được trồng trên khoảng 180.000 ha, sản lượng 25 triệu tấn mỗi năm [3]. Các sản phẩm từ củ nghệ được xuất khẩu sang Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Nhật Bản, Iran, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, Ả Rập Xê Út, Hà Lan, Nam Phi và Singapore ở dạng thân rễ khô, bột nghệ, nhựa dầu, tinh dầu, bột cà ri hoặc curcumin [4, 5]. Hình ảnh cây nghệ vàng (Curcuma longa L. Thành phần hóa học của củ nghệ vàng Thành phần hóa học của nghệ bao gồm khoảng 70% carbohydrate (theo khối lượng khô), 75% độ ẩm (theo khối lượng tươi), 6% protein (theo khối lượng khô), 6% tinh dầu (chứa các hợp chất phellandrene, sabinene, cineol, borneol, 2 zingiberene và sesquiterpenes) (theo khối lượng khô), 5% chất béo (theo khối lượng khô), 3% chất khoáng (kali, canxi, phốt pho, sắt và natri) (theo khối lượng khô), 3–5% curcuminoid (theo khối lượng khô), và một lượng vi lượng vitamin (B1, B2, C và niacin) (Bảng 1.
Trong đó, thành phần có hoạt tính sinh học được chú ý nhất của củ nghệ vàng là các curcuminoid và tinh dầu nghệ (gồm các turmerone thơm (ar-turmerone), α-turmerone và β-turmerone). Các curcuminoid, bao gồm curcumin (1,7-bis(4-hydroxy-3-methoxyfenil)-1,6- heptadiene-3,5-dione), demethoxycurcumin (DMC) và bis-demethoxy-curcumin (BDMC) là các chất có hoạt tính chính trong củ nghệ [1]. Công thức hóa học của một số thành phần được biểu diễn tương ứng trong sắc ký đồ HPLC được mô tả trong hình 1. Các thành phần cơ bản trong củ nghệ vàng C.
STT Thành phần Hàm lượng (%) 1 Nước 74-76 2 Curcuminoid (DW) 0,5-6 3 Chất xơ (DW) 3,5-4,3 4 Dầu (DW) 4-5 5 Khoáng chất (DW) 3,5-5 6 Protein (DW) 6,3-7 7 Chất béo (DW) 5,1-7,5 8 Carbohydrates (DW) 61,5-69,4 Trong thành phần của các sản phẩm chứa curcuminoid (còn gọi là curcumin mix) có chứa khoảng 77% curcumin tinh sạch, 17% DMC và 3% BDMC [10]. Kết quả nghiên cứu của Naama và cộng sự (2013) cho thấy, curcumin và DMC kém bền hơn BDMC [11]. Xét về hoạt tính chống oxy hóa và ức chế khối u thì curcumin là chất có hoạt tính mạnh nhất, tiếp theo là DMC và cuối cùng là BDMC [10, 12]. Ngoài curcuminoid, nghệ cũng chứa dầu nghệ có tác dụng kháng nấm, kháng khuẩn, diệt côn trùng, diệt muỗi, chống oxy hóa, chống đột quỵ và chống ung thư [3, 13, 14].
Dầu nghệ bao gồm turmerone thơm (ar-turmerone), α- turmerone và β-turmerone (Hình 1. Một số thành phần hóa học của củ nghệ và sắc ký đồ HPLC của curcuminoid tổng (I), curcumin (II), DMC (III) và BDMC (III) [10]. Hoạt tính sinh học của củ nghệ vàng Thành phần có hoạt tính sinh học quan trọng nhất của nghệ là hợp chất curcuminoid của lớp phenolic (2-9% tổng thành phần) bao gồm curcumin (70– 80%), DMC (10–25%) và BDMC (5–10%) [15, 16]. Các hợp chất này cũng là thành phần tạo ra màu vàng đặc trưng của củ nghệ và thành phần này có thể thay đổi tùy thuộc vào điều kiện của đất, khí hậu và nguồn nước nơi nó được trồng, cũng như quy trình chế biến khác nhau [17, 18].
Bột nghệ chứa các hợp chất phenolic có nhiều ứng dụng dược lý quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe con người [19], chống lại bệnh ngoài da [20], bệnh Crohn và viêm loét đại tràng [21], cũng như chống oxy hóa, chống viêm [7, 22], kháng khuẩn [23], kháng nấm [24], chống đái tháo đường [18], diệt côn trùng và diệt ấu trùng [3]. Củ nghệ có chứa hàm lượng carbohydrate cao 61,5-69,4% (Bảng 1.1) làm cho nó trở thành nguồn năng lượng tốt và góp phần vào quá trình tiêu hóa và đồng hóa các chất dinh dưỡng khác [25]. Trong số các loại carbohydrate này có 22% tinh bột tự nhiên được tìm thấy ở C. longa tương tự như lượng tinh bột được tìm thấy trong khoai tây và có cấu trúc tinh thể dạng hình tam giác với bề mặt nhẵn [26].
Lượng khoáng chất và vitamin trong nghệ (trong 100 g chất khô) bao gồm 200 mg canxi, 260 mg phốt pho, 2500 mg kali, 47,5 mg sắt, 0,9 mg thiamine (B1), 0,19 mg riboflavin (B2), 4,8 mg niacin (B3) và 50 mg axit ascorbic [27]. Củ nghệ 4 bổ sung sắt làm tăng hệ miễn dịch, phát triển nhận thức, điều hòa và trao đổi chất [28]. Trong củ nghệ còn chứa thành phần tinh dầu có hoạt tính sinh học cao. Một số nghiên cứu về tinh dầu trong C.
longa có các hoạt tính sinh học như xua đuổi và diệt ấu trùng, kháng khuẩn, chống oxy hóa, chống viêm và chống ung thư [4, 25], khả năng diệt ấu trùng, diệt côn trùng và xua đuổi của tinh dầu C. longa cũng đã được báo cáo [3, 13, 14]. Hoạt tính diệt ấu trùng của tinh dầu C. longa có liên quan đến α-phellandrene, thành phần chính của tinh dầu [3].
Hợp chất cur-turmerone – thành phần chính của tinh dầu C. longa đã được chứng minh tiềm năng làm thuốc chống côn trùng [14] và thuốc trừ sâu [29]. longa đã được chứng minh hoạt tính chống khối u trên tế bào ung thư tuyến tiền liệt (LNCaP) và u ác tính (B16) [23]. Một số hợp chất trong tinh dầu đã được xác định có hoạt tính như α-zingiberene, β-turmerone, α-zingiberene, ar-turmerone, β-elemenene, germacrone và β-sesquiphellandrene [30, 31].
Ngoài ra, tinh dầu C. longa cũng được chứng minh có hoạt tính kháng viêm [23] thông qua quá trình điều hòa các cytokine gây viêm. Chuột được chiếu tia UVB, sau đó được điều trị bằng tinh dầu C. longa cho thấy giảm đáng kể mức độ của các cytokine gây viêm (IL-1β và TNF-α) trong các mô.
Điều này cho thấy rằng điều trị tại chỗ với tinh dầu nghệ có thể ngăn chặn tình trạng viêm phản ứng trên da do tia UVB gây ra [32]. Hai hợp chất trong tinh dầu là β-turmerone và ar-turmerone có khả năng ức chế lipopolysaccharide (LPS), làm giảm sự sản sinh oxit nitric (NO) do LPS gây ra [32], từ đó, có khả năng làm giảm phản ứng viêm. Hoạt tính chống lão hóa của tinh dầu C. longa đã được báo cáo thông qua hình ảnh giảm nếp nhăn trên da chuột được chiếu xạ bằng tia UVB [32].
Theo các tác giả, các hợp chất ar-turmerone, curlone và β-turmerone là những thành phần đóng góp chính vào tác dụng chống lão hóa da. Tóm lại, củ nghệ có hàm lượng cao các thành phần cacbohydrat, chất xơ, protein, và lipit (chủ yếu là axit oleic). Tinh dầu và curcuminoid của C. longa có một số hoạt tính sinh học như chống oxy hóa, ngăn ngừa hình thành khối u, kháng khuẩn, xua đuổi và diệt côn trùng, ấu trùng, chống ung thư, chống viêm và chữa các bệnh liên quan đến dạ dày.
Có thể thấy, củ nghệ là một nguyên liệu tiềm năng để phát triển dược phẩm, thực phẩm chức năng và nguyên liệu thực phẩm. Hợp chất curcuminoid trong củ nghệ vàng 1. Cấu trúc hóa học của curcuminoid Hợp chất curcuminoid bao gồm curcumin chiếm 70-80%, DMC chiếm 10- 25% và BMC chiếm 5-10% [34, 35]. Các chất đồng phân keto-enol của curcumin Curcumin lần đầu tiên được Vogel và Pelletier phân lập vào năm 1815 từ thân rễ của C.
Năm 1842, Vogel Jr lần đầu tiên tinh chế được curcumin [36]. Sau vài thập kỷ vào năm 1910, Melabedzka et al. đã báo cáo cấu trúc của curcumin là diferuloylmethane hoặc 1,6-heptadiene-3,5-dione-1,7-bis (4- hydroxy-3-methoxyphenyl) - (1 E , 6 E ) (Hình 1. Ba năm sau, vào năm 1913, Lampe và Melobedzka đã báo cáo một phương pháp tổng hợp curcumin [36, 34, 35].
Năm 1953, Srinivasan báo cáo về việc tách và định lượng các thành phần curcumin bằng phương pháp sắc ký [36, 38]. Curcumin có cấu trúc đối xứng với hai vòng benzenmethoxy, liên kết với nhau bằng một gốc hydrocacbon không no. Curcumin có ba nhóm chức chính: nhóm methoxy phenolic thơm, liên kết α, β-không no và β-diketone.