CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đang dần trở thành mối quan tâm chung của quốc tế, của các quốc gia và của đa số các doanh nghiệp trên thế giới. Vì vậy, nghiên cứu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) cũng nhận được sự quan tâm rất lớn của giới học thuật trong hàng chục thập kỉ qua.
Có rất nhiều nghiên cứu về CSR nói chung và mối quan hệ giữa việc thực hiện CSR với kết quả hoạt động của doanh nghiệp, với sự trung thành và gắn bó của người lao động. Một số nghiên cứu thì tập trung tìm hiểu mối quan hệ giữa việc thực hiện CSR với giá trị thương hiệu và lòng trung thành của khách hàng. Có thể kể đến một số nghiên cứu như sau: Bowen, H. Tác giả đã đưa ra khái niệm CSR lần đầu tiên trong cuốn sách này nhằm tuyên truyền và kêu gọi nhà quản lý không làm tổn hại đến các quyền và lợi ích của người khác, kêu gọi lòng từ thiện nhằm bồi thường những thiệt hại mà các DN đã làm tổn hại cho xã hội.
Trong bài viết này, Carroll.B đưa ra các khái niệm về CSR của DN bắt đầu từ những năm 1950, đánh dấu kỷ nguyên hiện đại CSR của DN, khái niệm này được mở rộng vào những năm 1960 và nở rộ vào những năm 1970. Trong những năm 1980, không có thêm nhiều định nghĩa mới, nghiên cứu thực nghiệm hơn, và hình thành các chủ đề khác liên quan. 4 Collier và Esteban (2007) tìm hiểu mối quan hệ giữa CSR và sự cam kết của nhân viên. Hai tác giả này đã tổng hợp và phân tích các kết quả nghiên c ứ u lý thuyết cũng như nghiên cứu thực nghiệm trước đây về CSR, động lực và sự cam kết của nhân viên để chỉ ra rằng hiệu quả của các hoạt động CSR phụ thuộc vào mức độ tham gia của nhân viên mà trong khi mức độ tham gia này thì lại chịu ảnh hưởng của các yếu tố hoàn cảnh và nhận thức của NLĐ.
Theo Collier và Esteban, tất cả các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp xuyên quốc gia phải chịu trách nhiệm về những quy tắc ứng xử đạo đức của họ mà còn phải chịu trách nhiệm về ảnh hưởng của nó gây ra cho các bên liên quan hiện tại và các thế hệ tương lai. Vì vậy, CSR muốn được thực thi có hiệu quả thì doanh nghiệp cần thúc đẩy và tạo được sự cam kết của nhân viên. Sự cam kết này sẽ rất quan trọng khi doanh nghiệp hoạt động trong các bối cảnh văn hóa khác nhau. Ngoài ra, cũng theo hai tác giả này, nếu doanh nghiệp chỉ có bản tuyên bố sứ mệnh và bộ quy tắc ứng xử thôi thì vẫn chưa đủ mà cần khiến những quy tắc đạo đức đó được ngấm sâu vào văn hóa của doanh nghiệp cũng như ngấm vào tâm trí và trái tim của mọi thành viên trong doanh nghiệp.
Mirvis (2012) tìm hiểu CSR tác động như thế nào đến động lực làm việc, đặc tính và ý nghĩa của mục đích tồn tại của nhân viên. Nghiên cứu này đã chỉ ra có ba cách tiếp cận mà từ đó doanh nghiệp có thể đạt được sự gắn bó của nhân viên thông qua các hoạt động CSR. Cách tiếp cận đầu tiên được gọi là cách tiếp cận trao đổi, khi đó các chương trình CSR được thực hiện để đáp ứng nhu cầu của những nhân viên muốn tham gia vào những nỗ lực thực hiện CSR của Ngân hàng. Đây là cách tiếp cận gắn liền với hoạt động quản trị nhân sự trong doanh nghiệp.
Cách tiếp cận thứ hai là cách tiếp cận quan hệ dựa trên một thỏa thuận tâm lý rằng tổ chức và các nhân viên của nó cùng cam kết thực hiện CSR. 5 Khi áp dụng cách tiếp cận này, doanh nghiệp cần xây dựng văn hóa tổ chức có trách nhiệm xã hội tốt. Cách tiếp cận thứ ba là cách tiếp cận phát triển khi doanh nghiệp hướng đến mục tiêu thúc đẩy các nhân viên tham gia đầy đủ hơn vào các hoạt động tạo ra giá trị lớn hơn cho doanh nghiệp và xã hội. Qua cách này các hoạt động CSR cần được mở rộng để lôi kéo sự tham gia của tất cả các nhân viên trong doanh nghiệp và thậm chí cả những bên liên quan chủ yếu khác của Doanh nghiệp.
Ngoài ra, nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng ngày càng có nhiều nhân viên cho biết họ muốn tham gia vào các hoạt động CSR của DN. Đây là một thực tế không chỉ ở những quốc gia phát triển mà thậm chí ở cả những nước đang phát triển như Ấn Độ, Nam Phi và Trung Quốc. Tziner và cộng sự (2011) nghiên cứu về mối quan hệ giữa CSR, sự công bằng của tổ chức và sự hài lòng trong công việc. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy CSR có mối quan hệ tích cực đến sự công bằng của tổ chức và sự hài lòng trong công việc.
Tình hình nghiên cứu ở trong nước Ở Việt Nam, vấn đề CSR đã được biết đến từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX. Kể từ đó đến nay có rất nhiều bài nghiên cứu về CSR. Tuy nhiên, những nghiên cứu về CSR chưa mang tính hệ thống. Những nghiên cứu về CSR được công bố chính thức trên các tạp chí chuyên ngành hay báo cáo của các tổ chức phi chính phủ, có một số bài viết về CSR cũng được đăng tải trên các tạp chí điện tử, diễn đàn về CSR chưa được hệ thống, và chắt lọc lại thành những bài học cho các doanh nghiệp làm tài liệu tham khảo.
Các bài viết chủ yếu hướng đến việc làm rõ phạm trù CSR và chỉ ra những lợi ích của CSR đối với doanh nghiệp ở góc độ lý luận. Những công trình nghiên cứu về CSR nội bộ và sự hài lòng của nhân viên còn rất ít. Dưới đây là một số công trình nghiên cứu trong nước về CSR: 6 Nguyễn Đình Cung và Lưu Minh Đức trong bài viết “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp – CSR: một số vấn đề lý luận và yêu cầu đổi mới quản lý nhà nước đối với CSR ở Việt Nam” cho rằng cần lưu ý đến một số bất cập mà các doanh nghiệp Việt Nam đang gặp phải khi thực hiện CSR đó là: Thứ nhất là đảm bảo tăng trưởng nhanh đi kèm với tính bền vững của môi trường; Thứ hai là nâng cao ý thức bảo vệ quyền lợi cộng đồng và quyền lợi cá nhân; Thứ ba đó là cần phải có các thiết chế đại diện, trung gian, đó là các tổ chức phi chính phủ, hiệp hội, …để đứng ra bênh vực quyền lợi nhân dân, quyền lợi người tiêu dùng; Thứ tư là nâng cao nhận thức về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp để thực hiện tốt hơn nữa CSR tại mỗi đơn vị, công ty. Nguyễn Ngọc Thắng (2010) tìm hiểu về CSR và sự gắn kết với hoạt động quản trị nhân sự trong tổ chức.
Nghiên cứu này đã làm rõ các nhân tố chính của CSR, xu thế CSR và đưa ra 7 bước nhằm gắn kết công tác quản trị nhân sự (HRM) với CSR. Theo tác giả, thực hiện tốt CSR sẽ đem lại những lợi ích to lớn cho doanh nghiệp như tăng doanh số và năng suất lao động, giảm tỷ lệ nhân viên thôi việc, thu hút được đội ngũ lao động có tay nghề cao hay có cơ hội mở rộng thị trường. Tuy nhiên, ở Việt Nam, chiến lược CSR còn là một vấn đề tương đối mới mẻ nên các hoạt động quản trị doanh nghiệp chưa thực sự gắn kết được với CSR. Trong khi đó, vai trò của các giám đốc nhân sự lại hết sức quan trọng trong việc xác định các lợi ích của NLĐ, lợi ích kinh tế và sau đó là kết hợp hài hòa lợi ích của các nhóm có liên quan nhằm tạo ra một hình ảnh doanh nghiệp tốt hơn trong mắt mọi người.
Do vậy, tác giả bài báo đề xuất các doanh nghiệp nên tham khảo 7 bước để gắn HRM với CSR gồm: Tầm nhìn về phát triển chiến lược CSR Xây dựng bảng quy tắc ứng xử nội bộ 7 Lồng ghép kế hoạch và tuyển dụng nhân sự với CSR Định hướng và lồng ghép các chương trình đào tạo với CSR Lồng ghép chế độ lương và thưởng với CSR Lồng ghép quản trị sự thay đổi với CSR Đo lường và đánh giá các chương trình CSR Lê Thanh Trúc (2012) nghiên cứu về mối quan hệ giữa CSR và sự hài lòng của nhân viên tại các doanh nghiệp Việt Nam trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Trong nghiên cứu này, tác giả đã áp dụng mô hình CSR của Turker (2009) để kiểm chứng mối quan hệ của 4 thành tố CSR đến sự hài lòng của nhân viên gồm: trách nhiệm đối với nhân viên, trách nhiệm đối với khách hàng, trách nhiệm đối với chính phủ, trách nhiệm đối với xã hội và các đối tượng hữu quan khác. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy nhận thức của nhân viên về các hoạt động CSR đều có tác động tích cực (dương) đến sự hài lòng của họ, trong đó thành tố trách nhiệm đối với xã hội có tác động mạnh mẽ nhất đến sự hài lòng của nhân viên. Ngô Vân Hoài (2011) trong “Nghiên cứu chính sách trách nhiệm xã hội doanh nghiệp ở Việt Nam” chỉ ra rằng bên cạnh nỗ lực của doanh nghiệp trong việc thực hiện CSR thì vai trò của nhà nước, của các cơ quan truyền thông là rất quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến chiến lược thực hiện CSR.
Nguyễn Phương Mai (2011) nghiên cứu về thực tiễn thực hiện CSR tại Công ty cổ phần may Đáp Cầu, từ đó chỉ ra rằng có sự khác biệt trong nhận thức về CSR của nhóm người lao động với nhóm nhà quản trị. Tác giả cũng chỉ ra rằng Công ty may Đáp Cầu đang thực hiện khá tốt các hoạt động CSR từ kết quả khảo sát thực hiện tại công ty này. Bên cạnh đó, Nguyễn Phương Mai (2014) cũng chỉ ra trong một nghiên cứu khác về CSR là có mối quan hệ thuận chiều giữa việc thực hiện Trách nhiệm xã hội nội bộ với sự hài lòng trong công việc của người lao động. 8 Trần Thị Hoàng Yến (2016) trong “Nghiên cứu tác động trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đến kết quả tài chính tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam” cho thấy sự ảnh hưởng tích cực tại các ngân hàng có hoạt động thực hiện CSR tốt.