Luận văn thạc sĩ sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện tại viện chiến lược và chính sách khoa học và công nghệ luận văn ths thông tin 60 32 02 03

Luận văn thạc sĩ về sản phẩm & dịch vụ thông tin thư viện tại Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN. Mã ngành: 60 32 02 03. Tải luận văn thạc sĩ thông tin.

Chuyên ngành

Thông tin - Thư viện

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ

2015

116
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài:

2. Tình hình nghiên cứu vấn đề:

3. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu:

4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

5. Phƣơng pháp nghiên cứu:

6. Giả thuyết nghiên cứu:

7. Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài:

8. Dự kiến kết quả nghiên cứu:

9. Bố cục của luận văn:

1. CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN - THƢ VIỆN TẠI VIỆN CHIẾN LƢỢC VÀ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

1.1. Cơ sở lý luận về sản phẩm và dịch vụ thông tin - thƣ viện

1.1.1. Khái niệm về sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện

1.1. Sản phẩm thông tin - thư viện

2. Vai trò của sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện

3. Mối quan hệ giữa sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện

4. Yếu tố ảnh hưởng đến các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện

5. Các tiêu chí đánh giá sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện

6. Cơ sở thực tiễn về Viện Chiến lƣợc và Chính sách Khoa học và Công nghệ

7. Sự hình thành và phát triển của Viện

8. Chức năng, nhiệm vụ của Viện:

9. Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ của Viện:

10. Đặc điểm nhu cầu tin của người dùng tin tại Viện

11. Yêu cầu đối với sản phẩm và dịch vụ thông tin của Viện

12. Yêu cầu đối với sản phẩm thông tin - thư viện

13. Yêu cầu đối với dịch vụ thông tin - thư viện

2. CHƢƠNG 2: HIỆN TRẠNG SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN - THƢ VIỆN TẠI VIỆN CHIẾN LƢỢC VÀ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

1. Các sản phẩm thông tin - thƣ viện của Viện

2. Hệ thống mục lục

3. Thư mục dạng in

4. Xuất bản phẩm

5. Cơ sở dữ liệu

6. Các dịch vụ thông tin - thƣ viện của Viện

7. Dịch vụ tra cứu thông tin

8. Dịch vụ phổ biến thông tin hiện tại (CAS - Current Awarensess Services)

9. Dịch vụ đọc mượn tài liệu

10. Dịch vụ trao đổi thông tin:

11. Dịch vụ dịch tài liệu

12. Các yếu tố tác động đến việc tổ chức các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thƣ viện của Viện

13. Nguồn nhân lực

14. Trang thiết bị và cơ sở vật chất

15. Các chuẩn biên mục

16. Công cụ phân loại tài liệu

17. Phần mềm hỗ trợ xử lý thông tin

18. Đánh giá về hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin - thƣ viện tại Viện

19. Đánh giá về sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện

20. Điểm yếu và nguyên nhân:

3. CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN - THƢ VIỆN TẠI VIỆN CHIẾN LƢỢC VÀ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

1. Nâng cao chất lƣợng sản phẩm và dịch vụ thông tin - thƣ viện của Viện

2. Nâng cao chất lượng sản phẩm thông tin - thư viện

3. Nâng cao chất lượng dịch vụ thông tin - thư viện

4. Đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ thông tin - thƣ viện của Viện

5. Xây dựng các sản phẩm thông tin - thư viện

6. Phát triển dịch vụ thông tin - thư viện mới

7. Các giải pháp khác

8. Phát triển nguồn lực thông tin và tăng cường đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin

9. Phát triển nguồn lực con người

10. Tổ chức quảng bá các SP&DV TTTV

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Tóm tắt

I. Luận văn ThS Tổng quan Sản phẩm Dịch vụ TT Thư viện

Thế kỷ 21 chứng kiến sự trỗi dậy của nền kinh tế tri thức, nơi thông tin đóng vai trò then chốt trong phát triển kinh tế - xã hội. Thông tin trở thành một nhu cầu thiết yếu, công cụ quản lý và nguồn lực phát triển. Thiếu thông tin, các quyết định có thể sai lệch và kém hiệu quả. Sản phẩm thông tindịch vụ thông tin - thư viện ra đời là tất yếu, thể hiện trình độ phát triển của một cơ quan thông tin. Chúng có vai trò quan trọng, liên kết chặt chẽ với mọi yếu tố cấu thành thư viện. Trong hoạt động của Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ, sản phẩm và dịch vụ thông tin là cầu nối giữa người dùng tin và nguồn lực thông tin, giúp truy cập và khai thác hiệu quả. Bên cạnh đó, chúng còn giúp trao đổi và chia sẻ nguồn lực thông tin của Viện với các cơ quan khoa học khác. Chất lượng sản phẩm và dịch vụ thông tin là thước đo hiệu quả hoạt động thông tin. Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ đã tạo lập các sản phẩm và dịch vụ thông tin trong lĩnh vực Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ. Các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện của Viện đóng vai trò quan trọng trong hỗ trợ nghiên cứu, triển khai khoa học công nghệ và truyền bá thành tựu, phục vụ người dùng tin chủ yếu là cán bộ lãnh đạo, quản lý; cán bộ nghiên cứu khoa học tại Viện và nghiên cứu ngoài Viện góp phần thông qua những quyết định quan trọng trong đổi mới và phát triển khoa học, công nghệ Việt Nam. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay với những yêu cầu đòi hỏi cao của người dùng tin và cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và xu thế hội nhập thì việc cung cấp các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện của Viện cũng mới chỉ đáp ứng phần nào nhu cầu tin trong và ngoài Viện, chất lượng các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện chưa cao, còn đơn giản, nghèo nàn, thiếu đồng bộ, chưa có nghiên cứu toàn diện về nhu cầu người dùng tin và sản phẩm dịch vụ thông tin - thư viện chưa thực sự được người dùng đón nhận. Để tiến kịp với các tổ chức thông tin - thư viện hiện đại, hoạt động thông tin - thư viện của Viện cần hoàn thiện và nâng cao chất lượng, đặc biệt là phát triển toàn diện chất lượng và số lượng các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện trong lĩnh vực Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ. Đó là lý do mà vấn đề "Sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ" được tác giả chọn làm đề tài cho luận văn của mình.

1.1. Sản phẩm Dịch vụ Thông tin Định nghĩa và Phân loại

Theo giáo trình “Sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện của tác giả Trần Mạnh Tuấn, khái niệm dịch vụ thông tin - thư viện được hiểu là “những hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu thông tin và trao đổi thông tin của người sử dụng các cơ quan thông tin - thư viện nói chung”. Dịch vụ TT-TV có mối quan hệ chặt chẽ giữa NDT và cán bộ thông tin - thư viện. Trên cơ sở các yêu cầu về thông tin của NDT, cán bộ thông tin - thư viện triển khai các dịch vụ, ngược lại nhờ các dịch vụ do cán bộ thông tin - thư viện tạo ra NDT được thỏa mãn nhu cầu thông tin của mình. Dịch vụ TT-TV có thể chia thành các nhóm cơ bản như dịch vụ cung cấp tài liệu, dịch vụ tra cứu tin, dịch vụ trao đổi thông tin. Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng của dịch vụ qua các tiêu chí như “chi phí thực hiện dịch vụ”; “chất lượng của sản phẩm mà dịch vụ tạo ra để cung cấp cho NDT”; “tính kịp thời của dịch vụ” và “tính thuận tiện của dịch vụ”. Việc nắm vững các đặc điểm, tiêu chí này nhằm có chiến lược tổ chức hoạt động các dịch vụ thông tin một cách có hiệu quả. Trong lĩnh vực TT-TV, dựa vào tính chất hoạt động trong lĩnh vực cung cấp thông tin khái niệm sản phẩm được định nghĩa: “là kết quả của quá trình xử lý thông tin, do một cá nhân/tập thể nào đó thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu thông tin của những người sử dụng các cơ quan thông tin - thư viện”. Sản phẩm thông tin - thư viện đối tượng nghiên cứu của luận văn là các sản phẩm mục lục thư viện, thư mục, danh mục, tạp chí tóm tắt, bài tóm tắt, tổng quan, tổng luận, CSDL, bản tin điện tử, website. Chất lượng của các loại sản phẩm này được phản ánh qua các tiêu chí như “mức độ bao quát nguồn tin”; “chất lượng của các đơn vị cấu thành sản phẩm”; “khả năng cập nhật thông tin” và “khả năng tìm kiếm thông tin qua sản phẩm”.

1.2. Vai trò của Sản phẩm Dịch vụ TT Thư viện với Viện

Hoạt động thông tin KH&CN là loại hình hoạt động được hình thành do sự phân công lao động khoa học và đã trở thành một lĩnh vực hoạt động độc lập không thể thiếu trong bất cứ nền kinh tế nào. Trong hoạt động thông tin KH&CN thì hệ thống SP&DV TT-TV giữ một vai trò, vị trí rất quan trọng.Việc đáp ứng nhu cầu "nắm bắt được thông tin, hiểu được phải thu thập nó như thế nào, xử lý nó ra sao và sử dụng nó cho các mục đích khác nhau" phụ thuộc trực tiếp vào hệ thống các SP&DV TT-TV. Đối với Viện thì hệ thống SP&DV giữ vai trò vô cùng quan trọng với những ý nghĩa như sau: Giúp nâng cao năng lực khai thác thông tin và thỏa mãn NCT của NDT; Nâng cao năng lực kiểm soát tài nguyên thông tin và trang bị thông tin trong xã hội; Bảo vệ an toàn và lâu dài môi trường thông tin (điều này đặc biệt có ý nghĩa khi ta nhìn theo chiều của lịch sử và coi thông tin là một loại di sản văn hóa, chứng tích của nền văn minh); Đẩy mạnh việc chia sẻ thông tin trong hệ thống thông tin quốc gia; Dễ dàng tạo lập thị trường mới về thông tin. Thông qua hệ thống SP&DV TT-TV có thể xác định được mức độ đóng góp của cơ quan TT-TV vào sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung. Các cơ quan TT-TV có chức năng cung cấp thông tin cho NDT, để thực hiện tốt chức năng này, cơ quan TT-TV phải quản lý tốt nguồn tin của mình. Vì vậy, SP&DV TT-TV được tạo ra không chỉ nhằm mục đích phục vụ nhu cầu của NDT mà còn giúp các cơ quan TT-TV có thể quản lý, kiểm soát tốt nguồn tin và cung cấp chúng một cách hiệu quả tới NDT. Nếu như đối với NDT, SP&DV TT-TV được coi là phương tiện giúp họ tiếp xúc và khai thác có hiệu quả nguồn thông tin, thì đối với các cơ quan TT-TV, SP&DV TT-TV đóng vai trò như là công cụ để họ phổ biến, cung cấp thông tin đến NDT.

1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến Sản phẩm và Dịch vụ TT

Các yếu tố ảnh hưởng đến SP&DV TT-TV có hai loại chính: yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan. Năng lực chuyên môn của người thực hiện dịch vụ có ý nghĩa quyết định tới chất lượng của nó. Có thể hiểu một cách đơn giản đó là các kỹ năng mà người thực hiện cung cấp thông tin phải có như: Có năng lực chuyên môn; Có thể giao tiếp với NDT ( hiểu đầy đủ và chính xác NCT của NDT); Thông thạo ngoại ngữ (tổng hợp tin từ nhiều nguồn tài liệu, giúp NDT vượt qua rào cản ngôn ngữ để họ tiếp cận với thông tin); Có khả năng sử dụng trang thiết bị hiện đại để khai thác các nguồn tin. Cuộc cách mạng công nghệ, mà hệ quả của nó là hiện tượng “bùng nổ thông tin” đã khiến cho các nguồn thông tin hiện nay trở nên quá tải, NCT của NDT cũng vì thế mà ngày càng đòi hỏi ở mức độ cao hơn, chất lượng tốt hơn, do đó cần có trang thiết bị hiện đại mới có thể đáp ứng được yêu cầu đối với việc truyền tải thông tin. Nắm bắt nhu cầu và thói quen sử dụng thông tin của NDT, bởi lẽ với mỗi nhóm NDT lại hướng tới nhu cầu tin khác nhau. Triển khai được những SP&DV TT- TV phù hợp NCT sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao. Đặc biệt, một yếu tố khách quan có ảnh hưởng khá quan trọng đến việc tạo ra SP&DV TT- TV đó là nguồn lực thông tin. Nguồn lực thông tin mạnh, có giá trị cao sẽ giúp nâng cao chất lượng các dịch vụ và sản phẩm mà Trung tâm thông tin - thư viện đó tạo ra.

II. Viện Chiến lược Chính sách KHCN Thực tiễn hoạt động

Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ là cơ quan nghiên cứu của Bộ KH&CN. Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN có chức năng nghiên cứu, dự báo, xây dựng chiến lược phát triển, chính sách và cơ chế quản lý KH&CN. Kế thừa và phát huy truyền thống của 2 tổ chức tiền thân Viện luôn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.Viện đã có nhiều đóng góp tích cực vào sự phát triển KHCN của đất nước, đặt nền móng cho lĩnh vực chiến lược và chính sách KHCN. Nhiệm vụ cụ thể bao gồm: Phương pháp luận xây dựng chiến lược phát triển KH&CN của quốc gia, ngành, vùng gắn với phát triển bền vững kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường. Các lĩnh vực, định hướng KH&CN ưu tiên phát triển phù hợp với xu thế của thế giới và điều kiện, nhu cầu thực tế của Việt Nam. Cơ chế chính sách phát triển và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực KH&CN. Nghiên cứu những vấn đề liên quan đến tác động môi trường và tác động xã hội đối với các dự án phát triển kinh tế xã hội, KH&CN. Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về luật pháp KH&CN, tham gia xây dựng các quy định pháp lý về quản lý KH&CN. Chính sách phát triển, cơ chế quản lý và hoạt động các loại hình tổ chức KH&CN phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.Các tổ chức nghiên cứu và phát triển, các doanh nghiệp KHCN; các khu công nghệ cao; các tổ chức dịch vụ KH&CN. Đánh giá năng lực và trình độ công nghệ của quốc gia, ngành, lĩnh vực, vùng và doanh nghiệp; tác động hiệu quả của hoạt động KH&CN đến phát triển bền vững.

2.1. Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ của Viện

Viện có bộ máy tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc thủ trưởng. Ban lãnh đạo Viện gồm một Viện trưởng và ba Viện phó, tổ chức của Viện hiện có theo sơ đồ (Hình 1). Viện được cơ cấu tổ chức thành tám phòng ban. Đứng đầu các phòng ban là trưởng ban, phó ban. Các nhân viên chịu sự chi phối của trưởng ban hoặc phó ban trong công việc của mình thực thi các nhiệm vụ chuyên môn được giao. Viện là một cơ quan nghiên cứu khoa học quan trọng trong bộ máy quản lý nhà nước của Bộ KH&CN, Viện đã có nhiều những đóng góp trong việc xây dựng các chiến lược và chính sách phục vụ cho sự nghiệp phát triển KH&CN của quốc gia. Theo Quyết định số 60/QĐ-CLCS ngày 31 tháng 7 năm 2008 của Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Hội đồng Khoa học có chức năng cố vấn cho Viện trưởng những căn cứ khoa học để quyết định các vấn đề quan trọng về các hoạt động nghiên cứu - triển khai và đào tạo của Viện về: Định hướng chiến lược phát triển Viện trong từng thời kỳ, lựa chọn các hướng, các chương trình, đề tài nghiên cứu, kế hoạch và biện pháp tổ chức thực hiện; Đánh giá các kết quả hoạt động khoa học và công nghệ, đào tạo của Viện nói chung và chất lượng chuyên môn của các công trình, đề tài nghiên cứu do các cá nhân, đơn vị trực thuộc Viện thực hiện nói riêng; Xét chọn và đề nghị Bộ Khoa học và Công nghệ và Nhà nước khen thưởng các công trình khoa học có chất lượng, các cán bộ khoa học có nhiều thành tích trong công tác nghiên cứu khoa học và đào tạo.

2.2. Đặc điểm người dùng tin tại Viện NDT

NDT là yếu tố cơ bản của mọi hệ thống thông tin.Đó là đối tượng phục vụ của công tác TT-TV.NDT vừa là khách hàng của các dịch vụ TT-TV, họ cũng đồng thời là người sản sinh ra thông tin mới. Theo hoạt động xã hội mà họ tham gia, NDT được phân loại thành: Các nhà nghiên cứu khoa học, các nhà chuyên môn, kỹ thuật và thực hành, các nhà doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau của kỹ thuật, sản xuất và kinh doanh. Các nhà lãnh đạo, các cán bộ quản lý, cán bộ có trách nhiệm điều hành hoạt động KH&CN, kinh tế - xã hội của một đơn vị, một địa phương hay một quốc gia. Các cơ quan TT-TV cần nắm bắt nhu cầu của NDT để qua đó, xây dựng các SP&DV TT-TV thích hợp. Những đánh giá về NDT được thể hiện ở: Nội dung của thông tin được cung cấp: nội dung này thay đổi theo bản chất công việc và nhiệm vụ mà NDT phải hoàn thành. Nhóm NDT này là lãnh đạo Viện, lãnh đạo các ban, đây là những người trực tiếp quản lý các đề tài nghiên cứu khoa học và triển khai cấp Viện, cấp Bộ và cấp Nhà nước. Bên cạnh công tác lãnh đạo, quản lý, hầu hết họ vẫn trực tiếp làm công tác nghiên cứu khoa học, 60% số cán bộ thuộc nhóm này trực tiếp làm chủ nhiệm, quản lý đề tài cấp Bộ, cấp Nhà nước.

III. Đánh giá Hệ thống Sản phẩm Dịch vụ Thông tin của Viện

Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ luôn chú trọng đến việc xây dựng và phát triển hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin để đáp ứng nhu cầu của người dùng tin. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đã đạt được, hệ thống này vẫn còn tồn tại một số hạn chế cần khắc phục. Công tác đảm bảo thông tin tư liệu cho hoạt động nghiên cứu đóng vai trò hết sức quan trọng. Đối tượng NDT chính là các cán bộ nghiên cứu, một số cán bộ ngoài hoạt động nghiên cứu còn tham gia công tác quản lý hành chính cơ quan: Viện trưởng, phó viện trưởng, trưởng ban, phó ban. Hầu hết họ đều có trình độ học vấn cao, có trách nhiệm nghiên cứu, xây dựng các chiến lược, chính sách về KH&CN, có khả năng trong đảm nhiệm các khâu nghiên cứu cơ bản, điều tra, nghiên cứu ứng dụng, tham gia giải quyết các vấn đề bức xúc về KH&CN và môi trường của đất nước.

3.1. Ưu điểm nổi bật của SP DV TT Thư viện tại Viện

Hệ thống mục lục được xây dựng ngay từ những ngày đầu Viện thành lập dưới dạng các phiếu mục lục và ngày càng được củng cố, phản ánh toàn bộ tài liệu của thư viện. Thư mục giới thiệu sách mới được tổ chức biên soạn thường xuyên khi có những đợt tài liệu mới nhập về. Tài liệu sau khi được xử lý hoàn chỉnh sẽ được nhập vào CSDL. Qua CSDL phòng nghiệp vụ sẽ tổ chức thành những bản thư mục sách mới. Trong các bản thư mục giới thiệu sách mới tài liệu sẽ được sắp xếp theo môn loại/ lĩnh vực. Dưới sự chỉ đạo và hướng dẫn của Viện, Ban TTTV&ĐT SĐH tiến hành xuất bản tạp chí: "Chính sách và quản lý khoa học và công nghệ”. Số đầu tiên xuất bản năm 2012. Tạp chí được Trung tâm Thông tin KH&CN Quốc gia cấp Mã số chuẩn quốc tế ISSN (xuất bản phẩm nhiều kỳ) với mã ISSN 1859-3801 .

3.2. Hạn chế cần khắc phục của SP DV TT Thư viện tại Viện

Thư mục sách mới tại Ban TTTV&ĐT SĐH chỉ phản ánh tài liệu, mang tính thông báo, không có lời nói đầu, không có mục lục, không có bảng tra. Tuy nhiên, nhờ có thư mục này mà tài liệu mới được bổ sung về thư viện được phổ biến đầy đủ, kịp thời tới NDT trong Viện giúp họ nhanh chóng tiếp cận được những tài liệu cần thiết phục vụ cho nghiên cứu khoa học. Hiện nay, các thư mục này ngoài bản in còn được tải lên mạng giới thiệu trên trang web của Viện và trang web của Ban TTTV&ĐT SĐH.

IV. Giải pháp Phát triển Sản phẩm Dịch vụ TT Thư viện

Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dùng tin, Viện cần có những giải pháp cụ thể để phát triển hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện của mình. Cần có những giải pháp đổi mới và phát triển các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại Viện. Ngoài ra có thể đưa ra những giải pháp về việc phát triển nguồn lực thông tin và tăng cường đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin.

4.1. Nâng cao chất lượng SP DV TT Thư viện hiện có

Nâng cao chất lượng SP TT-TV: SPTT-TV là kết quả của quá trình xử lý thông tin, do một cá nhân hay tập thể nào đó thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu của NDT. Để tạo ra được SPTT-TV thì cần phải có một quá trình xử lý thông tin như biên mục, phân loại, định từ khóa, tóm tắt, chú giải. SPTT-TV được hình thành nhằm thỏa mãn những NCT. Do đó để có thể đưa ra được những sản phẩm tốt có chất lượng và đáp ứng được nhu cầu của NDT thì cần có những tiêu chí cơ bản để đánh giá chất lượng của sản phẩm thông tin. Mức độ chính xác khách quan thể hiện thông tin phải sát thực với tài liệu gốc, đảm bảo những nguyên tắc trong việc sử dụng và xử lý thông tin từ biên mục, phân loại, định từ khóa. Bên cạnh đó khắc phục, loại bỏ những thông tin không cần thiết, không rõ ràng, nội dung sai lệch hoặc không chính xác. Nâng cao chất lượng dịch vụ TT-TV: chất lượng dịch vụ thể hiện ở việc người sử dụng thu được khối lượng thông tin phù hợp, nhanh chóng và chính xác.

4.2. Đa dạng hóa Sản phẩm và Dịch vụ Thông tin

Phát triển nguồn lực thông tin và tăng cường đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin: Cuộc cách mạng công nghệ, mà hệ quả của nó là hiện tượng “bùng nổ thông tin” đã khiến cho các nguồn thông tin hiện nay trở nên quá tải, NCT của NDT cũng vì thế mà ngày càng đòi hỏi ở mức độ cao hơn, chất lượng tốt hơn, do đó cần có trang thiết bị hiện đại mới có thể đáp ứng được yêu cầu đối với việc truyền tải thông tin. Tiếp theo đó, các công cụ hỗ trợ để cung cấp thông tin cho NDT cũng cần được quan tâm đến, đó là các phần mềm chuyên dụng cho lĩnh vực thông tin - thư viện. Đặc biệt, một yếu tố khách quan có ảnh hưởng khá quan trọng đến việc tạo ra SP&DV TT- TV đó là nguồn lực thông tin. Phát triển nguồn lực con người: Năng lực chuyên môn của người thực hiện dịch vụ có ý nghĩa quyết định tới chất lượng của nó. Có thể hiểu một cách đơn giản đó là các kỹ năng mà người thực hiện cung cấp thông tin phải có như: Có năng lực chuyên môn; Có thể giao tiếp với NDT ( hiểu đầy đủ và chính xác NCT của NDT); Thông thạo ngoại ngữ (tổng hợp tin từ nhiều nguồn tài liệu, giúp NDT vượt qua rào cản ngôn ngữ để họ tiếp cận với thông tin); Có khả năng sử dụng trang thiết bị hiện đại để khai thác các nguồn tin. Tổ chức quảng bá các SP&DV TTTV: các hoạt động tuyên truyền giới thiệu những SP&DV của cơ quan TTTV cần phải nhắm đến NCT của NDT.

V. Ứng dụng Công nghệ Xu hướng phát triển thư viện số

Trong bối cảnh hiện nay, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động thư viện là một xu hướng tất yếu, giúp nâng cao hiệu quả phục vụ và mở rộng khả năng tiếp cận thông tin cho người dùng tin. Các thư viện số ngày càng trở nên phổ biến, cung cấp nguồn tài liệu đa dạng và phong phú, đáp ứng nhu cầu học tập, nghiên cứu và giải trí của mọi đối tượng.

5.1. Xây dựng Thư viện điện tử Tiếp cận và Bảo tồn

Một cơ quan thông tin - thư viện dù có tiềm lực lớn đến đâu cũng khó có thể thu nhập được đầy đủ các ấn phẩm xuất bản. Điều này bắt buộc các cơ quan phải có chính sách phát triển các SP TT-TV phù hợp và sử dụng nguồn nhân lực có trình độ để tổ chức phát triển các sản phẩm đồng thời cần phải thực hiện chia sẻ nguồn lực với các cơ quan thông tin - thư viện khác. Do đó các cơ quan thông tin - thư viện phải không ngừng đổi mới và tự hoàn thiện mình trên tất cả các phương diện: tăng trưởng nguồn lực thông tin, đa dạng hóa các sản phẩm thông tin - thư viện, đa dạng hóa phương thức phục vụ.

5.2. Số hóa tài liệu Tạo lập nguồn thông tin đa dạng

Cần xây dựng các CSDL, các nguồn lực TT-TV bên ngoài và nội sinh phục vụ nghiên cứu của chiến lược, chính sách và quản lý KHCN; Xây dựng thư viện đặc thù (kết hợp truyền thống và hiện đại) đảm bảo thông tin tư liệu cho hoạt động nghiên cứu; Lưu trữ và quản lý các công trình nghiên cứu của Viện; Tổ chức biên soạn và xuất bản kỷ yếu khoa học của Viện; Tổ chức biên soạn và xuất bản các ấn phẩm thông tin phân tích, tổng luận chuyên đề theo yêu cầu của lãnh đạo; Xây dựng và duy trì trang thông tin điện tử của Viện.

VI. Kết luận Luận văn ThS và Tương lai SP DV Thông tin

Luận văn ThS này đã trình bày một cách tổng quan về sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ, đồng thời đề xuất các giải pháp để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của hệ thống này. Trong tương lai, với sự phát triển không ngừng của công nghệ, các sản phẩm và dịch vụ thông tin sẽ ngày càng trở nên đa dạng và tiện lợi, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dùng tin. Luận văn ThS này có ý nghĩa khoa học: Đề tài nghiên cứu và làm rõ những vấn đề lý luận về các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại Viện. Và có ý nghĩa ứng dụng: Đề xuất các giải pháp phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại Viện, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động thông tin, góp phần nâng cao chất lượng phục vụ trực tiếp cho Cán bộ lãnh đạo và Quản lý, Cán bộ nghiên cứu khoa học, người dùng tin ngoài Viện phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

6.1. Tóm tắt các phát hiện chính đề xuất

Nghiên cứu thực trạng các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại Viện. Đề xuất một số giải pháp nhằm đổi mới, phát triển các sản phẩm và dịch vụ thông tin tại Viện, để đáp ứng nhu cầu tin ngày càng cao của người dùng tin. Giả thuyết nghiên cứu là nếu phát triển phong phú các loại hình sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện thì sẽ nâng cao được hiệu quả phục vụ thông tin, góp phần đẩy mạnh chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học của Viện.

6.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo và phát triển SP DV

Nghiên cứu NCT về chiến lược, chính sách và quản lý KH&CN, xác lập các phương thức đảm bảo thông tin, các dịch vụ và sản phẩm thông tin phù hợp phục vụ cho việc nghiên cứu đào tạo về chiến lược, chính sách và quản lý KH&CN cho cán bộ trong và ngoài Viện. Thu thập, khai thác, xử lý, cung cấp thông tin phục vụ cho công tác nghiên cứu chuyên môn của Viện.

24/09/2025
Luận văn thạc sĩ sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện tại viện chiến lược và chính sách khoa học và công nghệ luận văn ths thông tin 60 32 02 03

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ. Chương 2: Hiện trạng sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ. Chương 3: Giải pháp phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN - THƢ VIỆN TẠI VIỆN CHIẾN LƢỢC VÀ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 1.1 Cơ sở lý luận về sản phẩm và dịch vụ thông tin - thƣ viện 1.1 Khái niệm về sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện 1.1 Sản phẩm thông tin - thư viện Thuật ngữ sản phẩm được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực hoạt động nhất là trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh.Tùy vào tính chất hoạt động của mỗi ngành có những khái niệm tương ứng.

Trong lĩnh vực TT-TV, dựa vào tính chất hoạt động trong lĩnh vực cung cấp thông tin khái niệm sản phẩm được định nghĩa: “là kết quả của quá trình xử lý thông tin, do một cá nhân/tập thể nào đó thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu thông tin của những người sử dụng các cơ quan thông tin - thư viện”.[10, tr20] Quá trình hoạt động để tạo ra sản phẩm thông tin - thư viện là quá trình xử lý thông tin gồm biên mục, phân loại, định từ khóa, tóm tắt, chú giải, tổng quan, tổng luận cũng như các quá trình phân tích, tổng hợp thông tin khác. Như vậy, sản phẩm thông tin - thư viện đối tượng nghiên cứu của luận văn là các sản phẩm mục lục thư viện, thư mục, danh mục, tạp chí tóm tắt, bài tóm tắt, tổng quan, tổng luận, CSDL, bản tin điện tử, website. Chất lượng của các loại sản phẩm này được phản ánh qua các tiêu chí như “mức độ bao quát nguồn tin”; “chất lượng của các đơn vị cấu thành sản phẩm”; “khả năng cập nhật thông tin” và “khả năng tìm kiếm thông tin qua sản phẩm”.  Một số đặc trưng của sản phẩm thông tin - thư viện: Chu kỳ sống: mỗi loại sản phẩm thông tin - thư viện có một chu kỳ sống.

Chúng tăng trưởng, suy giảm và cuối cùng được thay thế. Từ lúc sinh ra 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đến mất đi, chu kỳ sống của sản phẩm có thể được chia thành 5 giai đoạn: Giới thiệu, tăng trưởng, trưởng thành, suy giảm và hủy. Những sản phẩm mới là cần thiết cho sự tăng trưởng: Trong xu thế đổi mới toàn diện tất cả các mặt của đời sống ngày nay, sự đổi mới đã trở thành như là một triết lý. Thực tế đã chỉ ra rằng những cơ quan thông tin - thư viện đang phát triển hiện nay là những cơ quan đã định trước cho mình những sản phẩm.

Những nhân tố thúc đẩy việc phát triển sản phẩm mới: một số nhân tố bên ngoài sẽ thúc đẩy phát triển và giới thiệu những sản phẩm thông tin mới bao gồm: Những sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, sự thay đổi nhu cầu và thói quen, những chu kỳ sống của sản phẩm bị rút ngắn và việc gia tăng sự cạnh tranh quốc tế. Gia tăng sự lựa chọn và sử dụng thông tin: Trong những năm gần đây, NDT có quyền lựa chọn sản phẩm thông tin khác nhau một cách rộng rãi hơn. Đặc biệt, trong điều kiện phát triển mạnh mẽ các phương tiện truyền thông và internet NDT có thể tìm kiếm thông tin mọi lúc, mọi nơi không bị hạn chế bởi không gian và thời gian. Môi trường tồn tại và nguồn lực: Thực tế ngày nay khối lượng gia tăng nhanh chóng dẫn tới việc khó khăn cho việc xử lý thông tin và sử dụng tài liệu, một cơ quan thông tin - thư viện dù có tiềm lực lớn đến đâu cũng khó có thể thu nhập được đầy đủ các ấn phẩm xuất bản.

Điều này bắt buộc các cơ quan phải có chính sách phát triển các SP TT-TV phù hợp và sử dụng nguồn nhân lực có trình độ để tổ chức phát triển các sản phẩm đồng thời cần phải thực hiện chia sẻ nguồn lực với các cơ quan thông tin - thư viện khác. Do đó các cơ quan thông tin - thư viện phải không ngừng đổi mới và tự hoàn thiện mình trên tất cả các phương diện: tăng trưởng nguồn lực thông tin, đa dạng hóa các sản phẩm thông tin - thư viện, đa dạng hóa phương thức phục vụ. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Dịch vụ TT-TV: Trên thực tế khái niệm dịch vụ cho đến nay chưa có một định nghĩa thống nhất vì tính vô hình và khó nắm bắt của nó. Khác với sản phẩm, các loại dịch vụ là cái mà chúng ta không thể nhìn thấy, nắm bắt hay nhận diện bằng các giác quan, chính vì vậy việc tạo cho khách hàng nhận biết được tiềm năng của dịch vụ, tức là tạo cho khách hàng một cảm giác hữu hình về dịch vụ là rất cần thiết.

Dịch vụ luôn gắn với người cung cấp dịch vụ, chất lượng dịch vụ phụ thuộc chặt chẽ vào trình độ, kỹ năng…, chất lượng dịch vụ rất khó xác định ngay cả nhiều khi đối với cùng một cá nhân thực hiện nhưng chất lượng có sự thay đổi theo thời gian. Một sản phẩm có thể được hình thành từ các bộ phận riêng lẻ, sản xuất độc lập.Tuy nhiên, đối với dịch vụ thì không thể tiến hành như vậy. Sự tổn thất do tồn kho của sản phẩm có thể xác định được nhưng tổn thất do tồn kho dịch vụ thì khó xác định được đầy đủ. Theo giáo trình “Sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện của tác giả Trần Mạnh Tuấn, khái niệm dịch vụ TT-TV được hiểu là “những hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu thông tin và trao đổi thông tin của người sử dụng các cơ quan thông tin - thư viện nói chung”.[ 10, tr24-25] Dịch vụ TT-TV có mối quan hệ chặt chẽ giữa NDT và cán bộ thông tin - thư viện.

Trên cơ sở các yêu cầu về thông tin của NDT, cán bộ thông tin - thư viện triển khai các dịch vụ, ngược lại nhờ các dịch vụ do cán bộ thông tin - thư viện tạo ra NDT được thỏa mãn nhu cầu thông tin của mình. Dịch vụ TT-TV có thể chia thành các nhóm cơ bản như dịch vụ cung cấp tài liệu, dịch vụ tra cứu tin, dịch vụ trao đổi thông tin. Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng của dịch vụ qua các tiêu chí như “chi phí thực hiện dịch vụ”; “chất lượng của sản phẩm mà dịch vụ tạo ra để cung cấp cho NDT”; “tính kịp thời của dịch vụ” và “tính thuận tiện của dịch vụ”. Việc nắm vững các đặc điểm, tiêu chí này nhằm có chiến lược tổ chức hoạt động các dịch vụ thông tin một cách có hiệu quả.

10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com  Một số đặc tính của dịch vụ thông tin - thư viện: Tính vô hình (Intangibility): Khác với SP TT-TV, dịch vụ thông tin - thư viện không có hình hài rõ rệt, không thể hình dung trước khi nó bắt đầu, không thể lưu trữ như hàng hóa hay nhận diện được bằng giác quan. Chính vì vậy mà khi muốn marketing cho các dịch vụ thông tin, cần tạo cho NDT biết tiềm năng của nó bằng cách giới thiệu cho họ biết các dịch vụ đó. Tính đồng thời: Việc tạo ra các dịch vụ thông tin -thư viện và cung cấp các dịch vụ ấy cho NDT được diễn ra đồng thời. Tính chất không đồng nhất (heterogeneity): Dịch vụ thông tin gắn với cá nhân/tập thể thực hiện dịch vụ, bên cạnh đó chất lượng của các dịch vụ thông tin - thư viện nhiều khi không đồng nhất, yêu cầu của NDT cũng khác nhau, phong phú, đa dạng, thay đổi theo thời gian.

Tính không thể tách rời/chia cắt (inseparability): Thông thường để thực hiện một dich vụ, người cung cấp dịch vụ thường phải tiến hành một số bước hoặc một số thao tác đi liền với nhau, không thể tách rời nhau để thu được kết quả mà người mua dịch vụ mong muốn.2 Vai trò của sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện Hoạt động thông tin KH&CN là loại hình hoạt động được hình thành do sự phân công laođộng khoa học và đã trở thành một lĩnh vực hoạt động độc lập không thể thiếu trong bất cứ nền kinh tế nào. Trong hoạt động thông tin KH&CN thì hệ thống SP&DV TT-TV giữ một vai trò, vị trí rất quan trọng.Việc đáp ứng nhu cầu "nắm bắt được thông tin, hiểu được phải thu thập nó như thế nào, xử lý nó ra sao và sử dụng nó cho các mục đích khác nhau" phụ thuộc trực tiếp vào hệ thống các SP&DV TT-TV. Đối với Viện thì hệ thống SP&DV giữ vai trò vô cùng quan trọng với những ý nghĩa như sau: Giúp nâng cao năng lực khai thác thông tin và thỏa mãn NCT của NDT; 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nâng cao năng lực kiểm soát tài nguyên thông tin và trang bị thông tin trong xã hội; Bảo vệ an toàn và lâu dài môi trường thông tin (điều này đặc biệt có ý nghĩa khi ta nhìn theo chiều của lịch sử và coi thông tin là một loại di sản văn hóa, chứng tích của nền văn minh); Đẩy mạnh việc chia sẻ thông tin trong hệ thống thông tin quốc gia; Dễ dàng tạo lập thị trường mới về thông tin.  Đối với NDT: Trong môi trường thông tin hiện nay, chỉ với các thao tác rất đơn giản trong một khoảng thời gian cực ngắn và trên cơ sở các thiết bị khá phổ biến, con người có thể nhận được một trữ lượng thông tin mà mình cần rất lớn.

Chính các SP&DV TT đã tạo cho con người khả năng ấy. Liệu con người bị chìm ngập trong đại dương thông tin bao la, có định vị và tìm được cho mình nguồn tin phù hợp hay không? Đây là việc rất khó, nếu không muốn nói là vô cùng khó. Con người chỉ có thể tìm được cái mình cần nếu như họ đến được nơi có thể chứa những cái họ cần. Như vậy, rõ ràng là mức độ hiểu biết về sự phân bố các nguồn thông tin có một vai trò quan trọng trong việc con người có thể tránh khỏi những tác động tiêu cực mà hiện tượng bùng nổ thông tin gây ra.

Cùng một nội dung, thông tin có thể được trình bày ở nhiều tài liệu/vật mang tin khác nhau.Câu hỏi đặt ra đối với NDT là nên lựa chọn tài liệu nào?Trên vật mang tin gì?Thông qua hình thức nào?

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ