Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO CÁN BỘ NGHIÊN CỨU TRONG CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC 1. Cơ sở lý luận về động lực làm việc trong các tổ chức khoa học 1. Động lực lao động 1. Các khái niệm về động lực lao động Động lực: Theo Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân trong cu ốn “Giáo trình quản trị nhân lực” (2007), “Động lực được hiểu là sự khát khao, t ự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt được các mục tiêu, kết quả nào đó.
Cũng có quan niệm cho rằng “Động lực lao động là nh ững nhân t ố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong đi ều ki ện cho phép tạo ra năng suất và hiệu suất cao” [9, tr. 89] Mỗi một con người đều có mong muốn được khẳng định bản thân, khẳng định giá trị của bản thân mình, được thành công trong công vi ệc trong cuộc sống và hơn nữa là có thu nhập để đảm bảo cu ộc s ống, đ ảm bảo những nhu cầu của bản thân. Mỗi người ở những vị trí xã hội khác nhau và với những đặc điểm tâm lý khác nhau sẽ có những mong muốn khác nhau vì vậy nhà quản trị cần phải có những tác đ ộng khác nhau đ ến mỗi người lao động để tạo động lực cho người lao động, khi có động l ực mạnh mẽ thúc đẩy con người sẽ hành động tích cực, năng suất cao từ đó sẽ mang lại hiệu quả cao và ngược lại. Động lực lao động trong các tổ chức khoa học là sự say mê trong nghiên cứu của những người lao động làm nghiên cứu khoa học luôn 8 mong muốn tìm những điều mới, hướng đi mới trong quá trình nghiên cứu bằng việc vận dụng kiến thức chuyên môn, kinh nghi ệm th ực ti ễn đ ưa ra những giải pháp, đề tài để giải quyết các vấn đề cấp bách trong xã h ội.
Người nghiên cứu khoa học hướng các nghiên cứu vào mục đích ph ục v ụ cộng đồng đó là động lực không những tạo nên giá trị về mặt xã hội và tạo nên sự lan tỏa trong hoạt động nghiên cứu và đề tài nghiên cứu đạt được giá trị cao nhất cũng chính là động lực của những người làm nghiên c ứu trong tổ chức khoa học. Nhu cầu: Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi h ỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Theo như khái niệm trên có thể thấy nhu cầu của mỗi một con người nó gắn liền với sự tồn tại và phát triển của con người cũng như của cộng đồng và tập thể xã hội hơn nữa nhu cầu của con người luôn luôn biến đổi, mỗi người khác nhau lại có những nhu cầu khác nhau, trong xã h ội việc thực hiện các nhu cầu khác nhau cũng tùy thuộc vào từng quan điểm của mỗi cá nhân, khi nhu cầu chưa được thỏa mãn hay chưa được đáp ứng sẽ tạo cho con người tâm lý căng thẳng và càng kiến cho con ng ười luôn luôn phải tìm cách thỏa mãn hay đáp ứng các nhu cầu đó. Ng ười lao đ ộng cũng như vậy họ bị thúc đẩy bởi trạng thái mong muốn, mong muốn càng lớn thì nỗ lực càng cao để thỏa mãn những mong muốn đó và ngược lại.
Hệ thống nhu cầu của con người rất phức tạp tuy nhiên hệ thống nhu cầu đó được chia ra thành ba nhóm nhu cầu chính đó là: hệ thống nhu cầu về vật chất, hệ thống nhu cầu về tinh thần và hệ thống nhu cầu xã hội. Lợi ích: Theo quan điểm của C. Ăng-ghen, l ợi ích đ ược hi ểu là “sản phẩm kết tinh từ hoạt động của con người, liên quan và thỏa mãn nhu 9 cầu nào đó của con người, được đặt trong quan hệ giữa con người với con người”. Ngoài ra “Lợi ích là mức độ đáp ứng nhu cầu về vật ch ất và tinh thần do công việc đó tại ra “ Như vậy lợi ích theo khái ni ệm nh ư trên sẽ được hiểu là thành quả mà người lao động nhận được bằng vật chất hay tinh thần mà người lao động đạt được khi tham gia vào quá trình lao động, sản xuất ho ặc các ho ạt đ ộng khác trong tổ chức cũng như trong xã hội.
Vì vậy lợi ích có vai trò vô cùng to lớn trong hoạt động quản lý cũng như trong hoạt động lao động s ản xuất của con người, lợi ích giúp tạo ra động lực mãnh mẽ cho các ho ạt động con người, kiến cho con người luôn phải tìm tòi sáng t ạo ho ạt đ ộng trí não để có lợi ích và thỏa mãn nhu cầu của mình. Đối với các nhà lãnh đạo, các nhà quản lý cũng như nhà quản trị khi tìm hiểu cũng như nắm bắt được tâm lý về lợi ích của người lao động sẽ có những biện pháp phù hợp nhằm khuyến khích người lao động làm việc hiệu quả đem l ại năng su ất cao trong công việc. Động cơ: Khái niệm về động cơ lao động: Động cơ lao động của người lao động xuất phát từ việc mong muốn thỏa mãn nhu cầu thiết yếu cơ bản của người lao động như: nhu cầu về ăn, nhu cầu về uống, nhu cầu về ở, nhu cầu về đi lại, nhu cầu về tôn trọng, v.v… Với mỗi cá nhân khác nhau thì động cơ lao động lại khác nhau. Đ ối với những người lao động có động cơ lao động cao thì họ càng c ố gắng nhiều hơn trong công việc từ đó dẫn tới năng suất lao động cao và hi ệu quả công việc cao.
Ngược lại đối với những người lao động có động cơ lao động thấp hoặc ít thì năng suất cũng như hiệu quả công việc của h ọ sẽ thấp. Các yếu tố ảnh hưởng đến động lực lao động 10 Có ba yếu tố chính ảnh hướng đến động lực lao động đó là: Động lực lao động nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân Bản chất của động lực xuất phát từ nhu cầu và sự thỏa mãn nhu cầu của con người, giữa nhu cầu và thỏa mãn nhu cầu có một khoảng cách nhất định và khoảng cách đó luôn có động lực để rút ngắn khoảng cách đó. Nhu cầu gồm nhiều loại khác nhau tùy vào từng cách phân chia nh ư nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thầ, nhu cầu trước mắt, nhu c ầu lâu dài…. S ự thỏa mãn nhu cầu được hiểu là sự đáp ứng nhu cầu một phần nào đó.
Ít có nhu cầu nào được thỏa mãn hoàn toàn mà chỉ có nhu cầu được thỏa mãn ở mức độ nào đó, Khi một nhu cầu được thỏa mãn về cơ bản nó sẽ dần mất đi và nhu cầu mới lại xuất hiện. Con người không bao giờ hết nhu cầu và sự thỏa mãn nhu cầu có ảnh hưởng tích cực đến động lực của mỗi người. Động lực lao động thỏa mãn lợi ích cá nhân Lợi ích là mức độ thỏa mãn nhu cầu của con người trong điều kiện nhất định. Cũng giống như nhu cầu lợi ích có nhiều loại khác nhau lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần, lợi ích trước mắt, lợi ích lâu dài….
Giữ lợi ích và nhu cầu có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nếu không có nhu cầu thì không thể thỏa mãn nhu cầu và lợi ích cũng không thể xuất hiện. Khi nhu cầu xuất hiện người lao động sẽ có tìm cách thỏa mãn nhu cầu đó từ đó tạo động lực kích thích lao động để thỏa mãn nhu cầu, kết quả của sự thỏa mãn nhu cầu là lợi ích đạt được. Khi sự thỏa mãn nhu cầu càng lớn, khoảng cách gi ữa nhu cầu và sự thỏa mãn nhu cầu càng được rút ngắn thì lợi ích càng l ớn.
Lợi ích đạt được càng cao thì động lực thôi thúc càng mạnh, và khi khoảng cách giữa nhu cầu và sự thỏa mãn nhu cầu chưa được rút ngắn thì nó sẽ thôi thúc thúc đẩy con người hành động lao động để rút ngắn nó. Đó chính là động lực, động lực muốn rút ngắn khoảng cách đó để đem lại lợi ích cao nhất. 11 Động lực lao động để đảm bảo nguyên tắc công bằng trong tổ chức Sự công bằng trong kết quả cho thấy nhu cầu của con người là được đối xử hoặc nhận thù lao như nhau trong việc phân ph ối l ợi ích thu đ ược từ kết quả công việc. Người lao động có xu hướng đánh giá nh ững gì h ọ nhận được từ công việc như lương thưởng sự ghi nhận tương xứng với những gì họ bỏ ra như nỗ lực, kinh nghiệm, kiến thức, sự phù hợp, và sau đó so sánh tỷ số giữa thành quả đầu ra và các y ếu t ố đ ầu vào v ới ng ười khác.
Nếu họ nhận thấy tỷ số đó ngang bằng trạng thái cân bằng sẽ xuất hiện. Người lao động sẽ thấy bản thân được đối xử công b ằng bình đ ẳng và nếu họ nhận thấy tỷ số đó không công bằng họ sẽ thấy căng th ẳng v ề vấn đề bình đẳng do đó sẽ ảnh hưởng tới động lực lao động. Sự công bằng trong tổ chức được nghiên cứu trong nhiều năm nay. Rất nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng công bằng trong tổ chức có ảnh hưởng đến nhận thức và từ đó ảnh hưởng đến hành vi và thái độ của người lao động.
Tập trung nghiên cứu các khía cạnh của công bằng trong tổ chức, sự công bằng trong tổ chức và sự hài lòng, sự công bằng trong tổ chức và sự cam kết gắn bó với tổ chức của người lao động, có thể nói rằng cảm nhận sự công b ằng trong tổ chức có ảnh hưởng mạnh đến hành vi và thái độ của người lao động trong tổ chức. Những biểu hiện của hành vi và thái độ này có liên quan đến động lực làm việc qua đó ảnh hưởng đến năng suất cũng nh ư hiệu quả công việc, vì vậy tổ chức cần quan tâm đến việc đảm bảo nguyên tắc công bằng trong tổ chức nhằm tạo động lực lao động cho người lao động làm việc trong tổ chức 1. Cơ sở lý luận về tạo động lực làm việc trong các tổ chức khoa học.