Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRUYỀN THÔNG VỀ CHÍNH QUYỀN ĐIỆN TỬ TRÊN BÁO CHÍ TỈNH TIỀN GIANG 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm truyền thông Truyền thông là một hiện tượng xã hội phổ biến, ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người, tác động và liên quan trực tiếp đến mọi cá thể xã hội. Do đó, có rất nhiều khái niệm và định nghĩa khác nhau, tùy theo góc nhìn đối với truyền thông.
Trong quyển “Cơ sở lý luận báo chí truyền thông”, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011, tập thể tác giả biên soạn cho rằng: Truyền thông là một quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kỹ năng nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và nhận thức [25, tr 13]. Ở định nghĩa này có hai khía cạnh cần lưu ý: Thứ nhất, truyền thông là một quá trình, có nghĩa nó không phải là một việc làm nhất thời hay xảy ra trong một khuôn khổ thời gian ngắn, mà là một việc diễn ra trong một khoảng thời gian. Quá trình này mang tính liên tục, vì nó không thể kết thúc sau khi chuyển tải nội dung cần thiết, mà còn tiếp diễn sau đó. Thứ hai, truyền thông phải dẫn đến sự hiểu biết lẫn nhau, yếu tố này cực kỳ quan trọng đối với mục đích và hiệu quả của truyền thông.
Và cuối cùng, truyền thông phải đem lại sự thay đổi trong nhận thức và hành vi, nếu không mỗi việc làm sẽ trở nên vô nghĩa. Sách “Cơ sở lý luận báo chí”, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông, 2018, PGS.TS Nguyễn Văn Dững cho rằng: Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm…, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người với nhau để gia tăng sự hiểu biết lẫn nhau nhằm thay đổi 8 nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm hay của cộng đồng xã hội nói chung, đảm bảo sự phát triển bền vững [3, tr 20]. Như vậy, trong luận văn này, khái niệm “truyền thông” để chỉ việc thông tin, phổ biến chính sách, thực trạng phát triển, những tiện ích của chính quyền điện tử đến với công chúng (công chúng ở đây là cán bộ công chức, người dân, tổ chức, doanh nghiệp). Khái niệm về chính quyền điện tử 1.
Chính quyền Chính quyền là một tổ chức hành chính có tư cách pháp nhân được hiến pháp và pháp luật công nhận sự tồn tại vì mục đích quản lý một khu vực nằm trong một quốc gia. Chính quyền là bộ máy điều hành, quản lý công việc của nhà nước. Điều 110 Hiến pháp năm 2013 quy định: Các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau: Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; tỉnh chia thành huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh; thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện, thị xã và đơn vị hành chính tương đương; huyện chia thành xã, thị trấn; thị xã và thành phố thuộc tỉnh chia thành phường và xã; quận chia thành phường. Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do Quốc hội thành lập.
Theo Luật Chính quyền địa phương ngày 19/6/2015, tổ chức chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính, gồm: - Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam quy định tại Điều 2 của Luật này. - Chính quyền địa phương ở nông thôn gồm chính quyền địa phương ở tỉnh, huyện, xã. 9 - Chính quyền địa phương ở đô thị gồm chính quyền địa phương ở thành phố trực thuộc trung ương, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, phường, thị trấn. Như vậy, chính quyền được hiểu là bộ máy điều hành, quản lý công việc của Nhà nước ở các cấp.
Khi ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động của bộ máy điều hành, quản lý công việc của nhà nước nhằm phục vụ các hoạt động công vụ, giúp người dân thực hiện giao dịch hành chính nhanh chóng, thuận tiện, tiết kiệm,… thì hoạt động của chính quyền cải thiện, nâng chất. Chính quyền điện tử Trước khi định nghĩa chính quyền điện tử, chúng ta cần thống nhất về mặt nghĩa giữa hai khái niệm chính phủ điện tử và chính quyền điện tử. Chính phủ điện tử hay chính quyền điện tử dịch sang tiếng Anh là Electronic Government (viết tắt E-gov hay E-government). Ở Việt Nam, thuật ngữ chính phủ điện tử hay chính chính quyền điện tử đều được định nghĩa như nhau chỉ khác nhau ở cấp bậc.
Thuật ngữ chính phủ điện tử đề cập đến các bộ, ngành trung ương; còn thuật ngữ chính quyền điện tử được sử dụng ở cấp tỉnh, thành phố (trực thuộc trung ương), cấp huyện, thành, thị (trực thuộc tỉnh, thành phố) và cấp xã, phường, thị trấn (trực thuộc huyện, thành, thị). Vì vậy, chủ đề luận văn “Truyền thông về chính quyền điện tử trên báo chí tỉnh Tiền Giang” được hiểu là các hoạt động của chính phủ điện tử ở cấp tỉnh, do đó được gọi là chính quyền điện tử. Cho đến nay, đã có rất nhiều các tổ chức quốc tế đưa ra định nghĩa về chính phủ điện tử, có thể kể đến một số định nghĩa bởi các tổ chức quốc tế mà đang được sử dụng phổ biến hiện nay như: Theo Ngân hàng thế giới (World Bank): “Chính phủ điện tử là việc các cơ quan Chính phủ sử dụng một cách có hệ thống công nghệ thông tin - truyền thông để thực hiện quan hệ với công dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội. 10 Nhờ đó giao dịch của các cơ quan Chính phủ với công dân và các tổ chức sẽ được cải thiện, nâng cao chất lượng.
Lợi ích thu được sẽ là giảm thiểu tham nhũng, tăng cường tính công khai, sự tiện lợi, góp phần vào sự tăng trưởng và giảm chi phí”. Định nghĩa của Liên hiệp quốc: “Chính phủ điện tử được định nghĩa là việc sử dụng Internet và mạng toàn cầu (world-wide-web) để cung cấp thông tin và các dịch vụ của chính phủ tới công dân”. Định nghĩa của tổ chức Đối thoại doanh nghiệp toàn cầu về thương mại điện tử: “Chính phủ điện tử đề cập đến một trạng thái trong đó các cơ quan hành pháp, lập pháp và tư pháp (bao gồm cả chính quyền trung ương và chính quyền địa phương) số hóa các hoạt động bên trong và bên ngoài của họ và sử dụng các hệ thống được nối mạng hiệu quả để có được chất lượng tốt hơn trong việc cung cấp các dịch vụ công”. Định nghĩa của Gartner: Chính phủ điện tử là “sự tối ưu hóa liên tục của việc cung cấp dịch vụ, sự tham gia bầu cử và quản lý bằng cách thay đổi các quan hệ bên trong và bên ngoài thông qua công nghệ, Internet và các phương tiện mới”.
Định nghĩa của Nhóm nghiên cứu về chính phủ điện tử trong một thế giới phát triển: “Chính phủ điện tử là việc sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông để thúc đẩy chính phủ một cách hiệu lực và hiệu quả, hỗ trợ truy cập tới các dịch vụ của chính phủ, cho phép truy cập nhiều hơn vào thông tin và làm cho chính phủ có trách nhiệm với công dân. Chính phủ điện tử có thể bao gồm việc cung cấp các dịch vụ qua Internet, điện thoại, các trung tâm cộng đồng, các thiết bị không dây hoặc các hệ thống liên lạc khác”. Các định nghĩa về CPĐT trên đều mang nội dung chính là ứng dụng CNTT và truyền thông vào hoạt động của cơ quan nhà nước. Theo Văn bản số 1178/BTTTT-THH ngày 21/4/2015 của Bộ Thông tin và Truyền thông nêu: “Chính phủ điện tử là chính phủ ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông 11 nhằm tăng hiệu quả hoạt động của các cơ quan chính phủ, phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn”.
Chính phủ điện tử theo mô hình cấp tỉnh hoặc thành phố gọi là Chính quyền điện tử. Mặc dù còn có những quan niệm khác nhau, song có thể hiểu một cách đơn giản: Chính phủ điện tử là việc ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông để các cơ quan chính phủ đổi mới, làm việc hiệu lực, hiệu quả và minh bạch hơn, cung cấp thông tin, dịch vụ tốt hơn cho người dân, doanh nghiệp và các tổ chức; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân thực hiện quyền dân chủ của mình trong việc tham gia quản lý nhà nước. Có thể hiểu cách ngắn gọn, CPĐT là chính phủ hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn, cung cấp dịch vụ tốt hơn trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông. Tham gia CPĐT gồm 3 chủ thể: Người dân, Chính phủ (cán bộ, công chức, viên chức) và doanh nghiệp.
Các mối quan hệ tương tác giữa 3 chủ thể gồm: Quan hệ Chính phủ với người dân (G2C): Chính phủ cung cấp thông tin và dịch vụ cho người dân. Quan hệ Chính phủ với doanh nghiệp (G2B): Chính phủ cung cấp thông tin và dịch vụ cho doanh nghiệp. Quan hệ các cơ quan Chính phủ với nhau (G2G): Cung cấp thông tin và các dịch vụ liên quan giữa các cơ quan Chính phủ với nhau. Tại Việt Nam, bổ sung quan hệ giữa cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức, viên chức (G2E).1: Các dịch vụ của chính phủ điện tử.
12 Phát triển CPĐT là quá trình lâu dài, liên tục, qua các giai đoạn khác nhau; cứ qua từng giai đoạn thì tính phức tạp lại tăng thêm nhưng giá trị mà nó mang lại cho người dân và doanh nghiệp cũng tăng lên. Việc phân chia các giai đoạn phát triển CPĐT nhằm xác định mức độ phát triển của CPĐT cũng như làm cơ sở xác định lộ trình, kế hoạch triển khai CPĐT đúng hướng, phù hợp với điều kiện, nhu cầu thực tế. Xu hướng phát triển của Chính phủ điện tử, Chính quyền điện tử Chính phủ điện tử, Chính quyền điện tử hiện nay đã là một khái niệm được nhiều người biết đến. Nhiều quốc gia phát triển CPĐT, CQĐT để cải tiến quy trình công tác trong cơ quan chính phủ thông qua nền hành chính điện tử; cải thiện quan hệ với người dân thông qua công dân điện tử, tiến tới xây dựng một xã hội tri thức trên nền tảng công nghệ thông tin.