mở đầu, lời xướng, nội dung và lời kết của chương trình hoặc lời chào thính giả. Mỗi chương trình phát thanh đều ổn định về cấu trúc. Với chương trình thời sự thường có 3 phần: tin - bài - tiêt mục được phân chia băng những đoạn nhạc căt. Chương trình chuyên đề thường có hai phần trở lên và được phân cách bằng nhạc cắt.
Với các chương 16 trình có thời lượng lớn, số tiết mục có thể tăng. Phương thức truyền thông của báo phát thanh sử dụng con đường tác động riêng, trong đó từ ngữ với phương thức biểu hiện bằng lời nói là phương tiện chuyển tải ý nghĩa và tình cảm, gắn liền với âm nhạc và tiếng động minh họa. Bản chất của quá trình tác động là truyền tải ý tưởng, tình cảm bằng cách sử dụng hệ thống các ký hiệu âm thanh phong phú, quá trình diễn ra liên tục, qua đó giúp công chúng hiểu được nội dung thông điệp. Chương trình phát thanh có những đặc điểm sau: Thứ nhất là tỏa sóng rộng khắp: Là sự quảng bá nhờ phủ sóng điện từ trên phạm vi rộng lớn với tốc độ tương đương tốc độ ánh sáng.
Có thể nói phát thanh không giới hạn về khoảng cách, vì thế nó mang tính xã hội hóa cao. Thứ hai thông tin nhanh, tiếp nhận đồng thời: Thông tin được truyền qua sóng điện từ và hệ thống truyền thanh có thể rút ngấn khoảng cách toàn cầu, hàng triệu thính giả đồng thời được nắng nghe thông tin cùng một thời điểm. Thứ ba, thông tin phụ thuộc vào quy luật thời gian: Thính giả không thể lựa chọn chương trình phát thanh mà phải phụ thuộc hoàn toàn vào quy luật của quá trình truyền thông radio. Công chúng tiếp thu thông tin tuần tự từ đầu đến cuối một cách bị động.
Thứ tư, sự sống động, riêng tư, thân mật: Công chúng tiếp nhận thông tin qua giọng đọc phát thanh viên, gắn liền với những yếu tố của kĩ năng nói như cao độ, cường độ, ngữ điệu,. Và mỗi thính giả lại chỉ lắng nghe chương trình phát thanh với tư cách cá nhân. Thứ năm, sử dụng âm thanh tổng hợp bao gồm lời nói, tiếng động và âm nhạc: Công chúng báo phát thanh rộng lớn và đa dạng, là quần thể dân cư không phân biệt trình độ học vấn. Âm thanh không phụ thuộc vào hình ảnh hay chữ in nên có nhiều thuận lợi trong khai thác sử dụng, kích thích trí tưởng tượng, gây không khí và gợi lên tâm trạng.
Chương trình phát thanh tiếng dân tộc, truyền thông tiếng dân tộc 1. Khái niệm Chương trình phát thanh tiếng dân tộc là một chương trình phát thanh sử dụng tiếng dân tộc làm ngôn ngữ chính để truyền tải các nội dung, thông điệp của tin bài. Trong bối cảnh nước ta hiện nay có hơn 13 triệu đồng bào các dân tộc thiếu số sinh sống tập trung ở vùng núi cao, biên giới, những vùng còn nhiều khó khăn, tỷ lệ mù chữ mẹ đẻ ở nhiều dân tộc còn cao, gần 22%, trong đó có 6 dân tộc tỷ lệ mù chữ mẹ đẻ lên tới 50%, thì các chương trình phát thanh tiếng dân tộc có vai trò rất quan trọng trong việc giúp các cộng đồng người dân tộc thiểu số khắc phục tình trạng thiếu thốn, nghèo nàn thông tin. Chương trình phát thanh tiếng dân tộc là một trong những kênh truyền thông hữu ích trong công tác tuyên truyền có hệ thống, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về các vấn đề dân tộc, cũng như tình hình chung về kinh tế, chính trị, xã hội tại địa phương cũng như trên cả nước.
Ngoài ra chương trình phát thanh tiếng dân tộc còn phản ánh toàn diện đời sống, kinh tế, xã hội của đồng bào các dân tộc thiếu số, thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, cùng phát triển; bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc trong ngôi nhà Việt Nam. Truyên thông phát thanh là sử dụng âm thanh, tác động vào cơ quan thính giác của con người, âm thanh trong phát thanh gồm ngôn ngữ nói, tiếng động và âm nhạc, trong đó ngôn ngữ đóng vai trò chủ đạo. Yêu cầu về nội dung chương trình phát thanh tiếng dân tộc Từ mục tiêu, nhiệm vụ trên, nội dung chương trình phát thanh tiếng dân tộc phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số cần đáp ứng những yêu cầu sau: - Đảm bảo đúng quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của 18 Đảng. - Đảm bảo tính chính xác kịp thời.
- Phát huy thế mạnh tổng họp trên hai lĩnh vực: Thông tin nhanh nhạy, chính xác, phương tiện thông tin phong phú: báo in, báo nói, báo hình. - Đáp ứng nhu cầu của đồng bào: gần gũi, giản dị, ngắn gọn, dễ hiểu. - Thông tin về chính sách của Đảng và Nhà nước, tình hình chung cho đối tượng là đồng bào các dân tộc thiểu số và đồng bào ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa. - Khẳng định đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trước sau như một, bình đẳng, đoàn kết các dân tộc, tôn trọng tự do tín ngưỡng, giữ gìn truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc.
- Khẳng định những thành tựu mà Đảng và Nhà nước đã mang lại cho miền núi và vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. Thành tựu đó thể hiện trên các mặt chính trị, KT-XH. Nhờ các chương trình dự án của Nhà nước mà diện mạo nông thôn miền núi đã có sự khởi sắc nhất định. Đời sống văn hóa, tinh thần của đồng bào từng bước được nâng cao.
- Phản ánh kết quả các chương trình phát triển kinh tế của miền núi, vùng dân tộc, đặc biệt là chương trình xóa đói giảm nghèo, chương trình phát triển y tế, giáo dục, văn hóa. - Biểu dương đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số, hoặc người Kinh lên công tác miền núi, vùng dân tộc thiểu số, biểu dương các điển hình trong sản xuất và xây dựng cuộc sống mới của đồng bào dân tộc. - Nêu cao vai trò của cơ sở đảng, các tổ chức đoàn thể quần chúng. - Cùng với việc biểu dương, nội dung phát thanh cần phê phán những mặt hạn chế, tiêu cực ở miền núi và vùng dân tộc: nạn phá rừng, di dân tự do, các tệ nạn xã hội, mê tín, tà đạo.
Phê phán đúng mức các hiện tượng tiêu cực 19 trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc và các dự án phát triển KT-XH ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số. - Phê phán vạch trần những luận điệu, vu cáo, xuyên tạc, kích động gây rối của các thế lực thù địch đối với chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta. Công chúng người dân tộc 1. Đặc điểm công chúng người dân tộc Công chúng phát thanh còn gọi là thỉnh giả hoặc bạn nghe đài.
“Khái niệm công chúng, bạn đọc, bạn nghe và xem đài nói chung được dùng để chỉ một nhóm lớn trong xã hội, nhưng thường ngày, người ta có thể dùng để chỉ cụ thể một người hay một nhóm nhỏ nào đó”. Công chúng phát thanh có thể được hiểu là nhóm lớn xã hội được chương trình phát thanh tác động, hoặc nhóm lớn mà chương trình phát thanh hướng tới đế tác động. Có công chúng tiềm năng và công chúng thực tế, công chúng trực tiếp và công chúng gián tiếp. Công chúng tiềm năng là nhóm lớn xã hội mà chương trình nhắm vào, tác động lôi kéo.
Nhưng trong thực tế, không phải tất cả các thành viên nhóm lớn xã hội mà chương trình nhấm vào đều tiếp nhận được các chương trình phát thanh. Hay nói cách khác, chỉ một phần trong nhóm lớn mà chương trình phát thanh hướng vào, tiếp nhận được sự tác động. Bộ phận ấy gọi là công chúng thực tế. Ở bình diện khác lại có công chúng trực tiêp và gián tiêp.
Công chúng trực tiêp là những người trực tiếp tiếp nhận các chương trình phát thanh. Còn công chúng gián tiếp là những người được công chúng trực tiếp kể lại những thông điệp mà họ tiếp nhận qua các chương trình phát thanh. Do đó, các chương trình trên radio vừa nhắm vào những đối tượng cụ thể vừa nhắm vào quảng đại quần chúng. Chương trình phát thanh phụ nữ nhằm vào nhóm công chúng phụ nữ, nhưng kể cả nam giới cũng không phải vô tình nghe được mà nghe theo sở thích và nhu cầu.
Người ta nói rằng, viên đạn có thể bắn mà không trúng đích nhưng sóng phát thanh đã phủ và có radio trong tay thì bất 20 kỳ ai cũng có thể nghe được, chỉ có hai rào cản, đó là ngôn ngữ và năng lực của thính giác. Sản xuất chương trình phát thanh bao giờ cũng phải hướng đến công chúng. Neu chương trình không hấp dẫn, không lôi kéo, không thuyết phục được người nghe thì họ tắt radio và làm việc khác. Do đó, công chúng phát thanh chính là người nuôi dưìng chương trình phát thanh, là người đánh giá, thấm định cuối cùng chất lượng chương trình phát sóng.
Nói cách khác, công chúng phát thanh chính là đối tác của đài phát thanh. Mất công chúng thì đài không còn lý do để tồn tại. Chính vì thế, phải hiểu và phải nghiên cứu công chúng một cách thường xuyên và nghiêm túc. Việt Nam có 54 dân tộc, trong đó người Kinh là đa số, chiếm khoảng 86% dân số; 53 tộc người thiểu số chiếm khoảng 14% dân số cả nước.
Trong số 63 tỉnh, thành phố hiện nay có tới 54 tỉnh thuộc địa bàn vùng miền núi và dân tộc thiếu số: 12 tỉnh vùng cao; 9 tỉnh miền núi; 23 tỉnh có huyện, xã miền núi và 10 tỉnh khu vực Đồng bằng sông Cửu Long là nơi có đông đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống. Do đặc điểm cùa địa bàn sinh sống, đa phần đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn rộng, các hộ dân sống rải rác, trình độ dân trí thấp. Đây là những vấn đề đặt ra nhiều khó khăn trong công tác truyền thông đối với người dân. Địa bàn rộng và dân cư phân tán, điều kiện tiếp cận dịch vụ thông tin hạn chế nên không the áp dụng các biện pháp truyền thông tập trung như vùng đồng bằng và đô thị như việc sử dụng các phương tiện truyền thanh, tổ chức các cuộc họp phổ biến đông người hay cung cấp các thông tin qua báo chí, các trang tin điện tử.
Bên cạnh đó, do việc sống rải rác trên địa bàn rộng như vậy, việc đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ hoạt động phát thanh cũng gặp nhiều khó khăn.