Luận văn về vai trò của báo chí Biên phòng trong sự nghiệp bảo vệ biên giới

Luận văn ths bch báo chí biên phòng tập trung vào vai trò tuyên truyền trong sự nghiệp bảo vệ biên giới, nâng cao nhận thức cộng đồng.

Chuyên ngành

Báo chí học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2019

105
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ VỚI SỰ NGHIỆP BẢO VỆ BIÊN GIỚI

1.1. Một số khái niệm

1.1.1. Tuyên truyền

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN VỀ SỰ NGHIỆP BẢO VỆ BIÊN GIỚI TRÊN BÁO CHÍ BIÊN PHÒNG

3. CHƯƠNG 3: THÀNH CÔNG, HẠN CHẾ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN VỀ SỰ NGHIỆP BẢO VỆ BIÊN GIỚI TRÊN BÁO CHÍ BIÊN PHÒNG

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về báo chí Biên phòng và sự nghiệp bảo vệ biên giới

Báo chí Biên phòng đóng vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền về sự nghiệp bảo vệ biên giới. Với nhiệm vụ thông tin, giáo dục và nâng cao nhận thức của nhân dân về chủ quyền lãnh thổ, báo chí Biên phòng không chỉ là kênh thông tin mà còn là vũ khí sắc bén trong công tác tuyên truyền. Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định vai trò của báo chí trong việc bảo vệ an ninh quốc gia và chủ quyền biên giới.

1.1. Vai trò của báo chí trong bảo vệ biên giới

Báo chí không chỉ cung cấp thông tin mà còn tạo ra sự đồng thuận trong xã hội về các vấn đề liên quan đến biên giới. Thông qua các bài viết, báo chí giúp nâng cao nhận thức của người dân về tầm quan trọng của việc bảo vệ biên giới.

1.2. Lịch sử phát triển của báo chí Biên phòng

Báo chí Biên phòng đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển, từ những ngày đầu thành lập đến nay. Sự phát triển này phản ánh sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với công tác tuyên truyền về biên giới.

II. Thách thức trong công tác tuyên truyền về bảo vệ biên giới

Trong bối cảnh hiện nay, công tác tuyên truyền về bảo vệ biên giới đối mặt với nhiều thách thức. Các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách tuyên truyền xuyên tạc, gây rối loạn thông tin. Điều này đòi hỏi báo chí Biên phòng phải có những biện pháp hiệu quả để đối phó.

2.1. Các thế lực thù địch và âm mưu chống phá

Các thế lực thù địch thường xuyên sử dụng các chiêu trò để xuyên tạc thông tin về biên giới, gây hoang mang trong dư luận. Việc nhận diện và phản bác kịp thời là rất cần thiết.

2.2. Khó khăn trong việc tiếp cận thông tin

Báo chí Biên phòng gặp khó khăn trong việc thu thập thông tin chính xác từ các khu vực biên giới. Điều này ảnh hưởng đến chất lượng thông tin tuyên truyền đến người dân.

III. Phương pháp tuyên truyền hiệu quả trong bảo vệ biên giới

Để nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, báo chí Biên phòng cần áp dụng các phương pháp hiện đại và sáng tạo. Việc sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông sẽ giúp tiếp cận nhanh chóng và hiệu quả hơn với người dân.

3.1. Sử dụng công nghệ thông tin trong tuyên truyền

Việc áp dụng công nghệ thông tin giúp báo chí Biên phòng truyền tải thông tin một cách nhanh chóng và hiệu quả. Các nền tảng mạng xã hội cũng cần được khai thác triệt để.

3.2. Tăng cường hợp tác với các cơ quan chức năng

Hợp tác với các cơ quan chức năng sẽ giúp báo chí Biên phòng có được thông tin chính xác và kịp thời, từ đó nâng cao chất lượng tuyên truyền.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu trong tuyên truyền

Nghiên cứu về công tác tuyên truyền của báo chí Biên phòng đã chỉ ra nhiều kết quả tích cực. Các bài viết, chương trình tuyên truyền đã góp phần nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ biên giới.

4.1. Kết quả từ các chiến dịch tuyên truyền

Các chiến dịch tuyên truyền đã thu hút sự quan tâm của đông đảo người dân, giúp họ hiểu rõ hơn về vai trò của biên giới trong an ninh quốc gia.

4.2. Đánh giá hiệu quả công tác tuyên truyền

Đánh giá hiệu quả công tác tuyên truyền là cần thiết để điều chỉnh các phương pháp và nội dung tuyên truyền cho phù hợp với thực tiễn.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho báo chí Biên phòng

Báo chí Biên phòng cần tiếp tục phát huy vai trò của mình trong công tác tuyên truyền về bảo vệ biên giới. Hướng đi tương lai cần tập trung vào việc nâng cao chất lượng thông tin và tăng cường sự phối hợp với các cơ quan chức năng.

5.1. Định hướng phát triển báo chí Biên phòng

Định hướng phát triển cần chú trọng đến việc nâng cao chất lượng nội dung và hình thức tuyên truyền, đáp ứng nhu cầu thông tin của người dân.

5.2. Tăng cường đào tạo nhân lực cho báo chí

Đào tạo nhân lực chất lượng cao cho báo chí Biên phòng là yếu tố quyết định để nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền trong tương lai.

11/07/2025
Luận văn ths bch báo chí biên phòng tuyên truyền về sự nghiệp bảo vệ biên giới

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÕ CỦA BÁO CHÍ VỚI SỰ NGHIỆP BẢO VỆ BIÊN GIỚI 1. Một số khái niệm 1. Tuyên truyền “Tuyên” là nói, “truyền” là loang ra. Theo Từ điển tiếng Việt thì “tuyên truyền” là phổ biến, giải thích rộng rãi để thuyết phục mọi người tán thành, ủng hộ, làm theo [60, tr.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Tuyên truyền là đem một việc gì đó nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Nếu không đạt được mục đích đó, là tuyên truyền bị thất bại” [36, tr. Theo nghĩa rộng, tuyên truyền là hoạt động có mục đích của chủ thể nhằm truyền bá những tri thức, giá trị tinh thần, tư tưởng đến đối tượng, biến những kiến thức, giá trị tinh thần đó thành nhận thức, niềm tin, tình cảm của đối tượng hành động theo những định hướng, những mục tiêu do chủ thể tuyên truyền đặt ra. Tuyên truyền là một bộ phận cấu thành của công tác tư tưởng.

Khi xem xét công tác tư tưởng như một quá trình liên tục. Lênin khẳng định công tác tư tưởng có 3 hình thái: “Công tác lý luận, công tác tuyên truyền và công tác cổ động. Ba hình thái đó tương ứng với các quá trình tư tưởng gồm: Sản xuất ra hệ tư tưởng, phổ biến, truyền bá hệ tư tưởng; cổ vũ, động viên quần chúng thực hiện” [35, tr. Công tác tuyên truyền là hoạt động tiếp nối công tác lý luận, nhằm phổ biến, truyền bá các nguyên lý lý luận, đường lối, chủ trương, chính sách và quần chúng.

Mục đích cao nhất của tuyên truyền là làm cho hệ tư tưởng chiếm địa vị thống trị trong xã hội. “Công tác tuyên truyền phải chân thực; cần nói rõ cho nhân dân hiểu sự thật, những việc làm được và những việc làm chưa được, thuận lợi và khó khăn, thành tích và khuyết điểm…” [20, tr. Nội dung chủ yếu của công tác tuyên truyền: Tuyên truyền chính trị: Là nội dung chủ yếu của công tác tuyên truyền. 11 Tuyên truyền chính trị tập trung vào việc phổ biến, truyền bá hệ tư tưởng của Đảng, bao gồm: Tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tuyên truyền về quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tuyên truyền về truyền thống lịch sử, văn hóa dân tộc của Đảng qua các hoạt động kỷ niệm, các đợt vận động chính trị lớn của đất nước và địa phương.

Tuyên truyền về kinh tế: Nhằm thực hiện đường lối phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn hiện nay. Nội dung chủ yếu của tuyên truyền kinh tế là: Tuyên truyền về đường lối phát triển kinh tế của Đảng, các chính sách, kế hoạch, chương trình kinh tế lớn của Nhà nước; tuyên truyền về những thành tựu kinh tế - xã hội, tiềm năng phát triển của đất nước, địa phương, những thuận lợi và khó khăn, những bài học kinh nghiệm trong việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ của địa phương từng thời kỳ. Tuyên truyền văn hóa: Nhằm xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, làm nền tảng tinh thần của xã hội nắm chặt với nhiệm vụ kinh tế và xây dựng Đảng. Tuyên truyền quốc phòng - an ninh: Nội dung chủ yếu là tuyên truyền về đường lối, quan điểm xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân bảo vệ Tổ quốc của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay; tuyên truyền về những truyền thống đấu tranh anh dũng của dân tộc, tự hào về những chiến công hiển hách trong đấu tranh giành và bảo vệ nền độc lập; tuyên truyền về những chủ trương, giải pháp xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại; tuyên truyền về các văn bản pháp luật của Nhà nước về các nghĩa vụ của công dân tham gia quân đội, quân đội tự vệ, giáo dục quốc phòng.

Tuyên truyền đối ngoại: Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, tuyên truyền đối ngoại có vai trò quan trọng trong thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng, Nhà nước. 12 Đấu tranh chống các quan điểm, luận điểm sai trái: Trong điều kiện phong trào cách mạng thế giới tạm lâm vào tình trạng thoái trào, tuyên truyền để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng càng trở nên quan trọng và cần thiết. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, công tác tuyên truyền là công cụ quan trọng để tạo ra lực lượng hùng mạnh cho cách mạng nên Người rất quan tâm đến việc làm tốt công tác tuyên truyền. Muốn phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn dân thì công tác tuyên truyền cần chú trọng đối tượng tuyên truyền.

Cán bộ tuyên truyền cần xác định rõ nội dung, đối tượng, mục đích và phương pháp như: Tuyên truyền cái gì? Tuyên truyền cho ai? Tuyên truyền để làm gì? Tuyên truyền cách thế nào? Như vậy, tuyên truyền là một trong những bộ phận quan trọng của công tác tư tưởng, có nhiệm vụ phổ biến, truyền bá hệ tư tưởng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến quần chúng nhân dân. Tuyên truyền gắn liền với cổ động, nên tuyên truyền còn là sự cổ vũ, động viên, thúc đẩy quần chúng hăng hái tham gia các phong trào, biến nhận thức, niềm tin thành nhiệt huyết của đại chúng, hình thành cách mạng. Tuyên truyền góp phần quan trọng trong việc nâng cao nhận thức, hình thành và củng cố niềm tin, giáo dục lý luận, đạo đức, lối sống, lẽ sống; bồi dưỡng phương pháp, kỹ năng hành động cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Biên giới, biên giới quốc gia Biên giới là cửa ngõ, là tuyến đầu trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nơi thực hiện giao lưu và hợp tác quốc tế.

Vùng biên giới có tài nguyên phong phú, có nhiều khả năng phát triển công nghiệp, lâm nghiệp, nông nghiệp, du lịch và dịch vụ, do đó, vùng biên giới có vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng về kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh, đối ngoại trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quốc gia là một khái niệm địa lý và chính trị, trừu tượng về tinh thần, tình cảm và pháp lý, để chỉ một lãnh thổ có chủ quyền, một chính quyền và những con người của dân tộc trên lãnh thổ đó; họ gắn bó với nhau bằng luật pháp, quyền lợi, văn hóa, tôn giáo, ngôn ngữ, chữ viết qua quá trình lịch sử lập quốc, và những con người chấp nhận nền văn hóa cũng như lịch sử lập quốc của đó chịu sự chi phối của 13 chính quyền, họ cùng nhau chia sẻ quá khứ cũng như hiện tại và xây dựng một tương lai chung trên vùng lãnh thổ có chủ quyền. Biên giới quốc gia theo Đại từ điển tiếng Việt định nghĩa “là đường và mặt phẳng thẳng đứng đi qua đường đó, xác định giới hạn lãnh thổ của một quốc gia trên đất liền, vùng nước, vùng trời và dưới lòng đất” [64, tr. Biên giới quốc gia trên đất liền là đường biên giới được xác định trên bộ, trên đảo, trên sông, trên hồ và biển nội địa.

Biên giới trên bộ thường được ấn định bằng việc ký kết điều ước quốc tế và biên giới hoặc lãnh thổ giữa các quốc gia có chung đường biên giới. Biên giới quốc gia trên biển được hoạch định và đánh dấu bằng các tọa độ trên hải đồ là ranh giới phía ngoài lãnh hải của đất liền, lãnh hải của đảo, lãnh hải của quần đảo của Việt Nam được xác định theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và các điều ước quốc tế giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các quốc gia hữu quan. Các đường ranh giới phía ngoài vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa xác định quyền chủ quyền, quyền tài phán của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và các điều ước quốc tế giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các quốc gia hữu quan. Biên giới quốc gia trong lòng đất là mặt thẳng đứng từ biên giới quốc gia trên đất liền và biên giới quốc gia trên biển xuống lòng đất.

Ranh giới trong lòng đất thuộc vùng biển là mặt thẳng đứng từ các đường ranh giới phía ngoài của vùng đặc quyền về kinh tế, thềm lục địa xuống lòng đất xác định quyền chủ quyền, quyền tài phán của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và các điều ước quốc tế giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các quốc gia hữu quan. Biên giới quốc gia trên không là mặt thẳng đứng từ biên giới quốc gia trên đất liền và biên giới quốc gia trên biển lên vùng trời [9]. 14 Còn Luật Biên giới quốc gia định nghĩa: “Biên giới quốc gia của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đường và mặt thẳng đứng theo đường đó để xác định giới hạn lãnh thổ đất liền, các đảo, quần đảo, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, vùng biển, lòng đất, vùng trời của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [49, tr. Khu vực biên giới là một bộ phận của lãnh thổ quốc gia có chính diện, chiều sâu và tiếp liền với đường biên giới quốc gia; khu vực biên giới có chế độ pháp lý riêng do Chính phủ ban hành nhằm bảo vệ an toàn biên giới.

Tùy thuộc vào vị trí địa lý lãnh thổ quốc gia mà Chính phủ ban hành quy chế: Khu biên giới đất liền, khu vực biên giới biển và khu vực biên giới trên không. Theo Nghị định 34/2000/NĐ-CP, ngày 18/8/2000 của Chính phủ về quy chế khu vực biên giới đất liền nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì: “Khu vực biên giới đất liền nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sau đây gọi tắt là khu vực biên giới) bao gồm các xã, phường, thị trấn có địa giới hành chính tiếp giáp với đường biên giới quốc gia trên đất liền. Mọi hoạt động trong khu vực biên giới phải tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết. Trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết có quy định khác với Nghị định này và các văn bản quy phạm pháp luật về biên giới quốc gia thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế” [42].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Báo chí Biên phòng và vai trò trong bảo vệ biên giới Việt Nam" khám phá vai trò quan trọng của báo chí trong việc bảo vệ biên giới quốc gia. Tài liệu nhấn mạnh rằng báo chí không chỉ là công cụ truyền thông mà còn là một phần thiết yếu trong việc nâng cao nhận thức cộng đồng về an ninh biên giới. Qua việc cung cấp thông tin chính xác và kịp thời, báo chí giúp người dân hiểu rõ hơn về các vấn đề liên quan đến biên giới, từ đó góp phần vào việc bảo vệ an ninh quốc gia.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ ussh vấn đề bảo vệ an ninh tổ quốc trên báo in ngành công an hiện nay khảo sát trên 03 tờ báo công an nhân dân an ninh thủ đô công an thành phố hồ chí minh. Tài liệu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách mà báo chí trong ngành công an đóng góp vào việc bảo vệ an ninh tổ quốc, từ đó giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về vai trò của truyền thông trong lĩnh vực an ninh.