Tổng quan nghiên cứu

Đường biên giới quốc gia trên đất liền dài gần 5.000km trải dọc qua 25 tỉnh thành giáp ba nước láng giềng, kết hợp cùng 28 tỉnh, thành phố ven biển với hơn 3.000 hòn đảo ven bờ và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa tạo nên phên giậu chiến lược thiêng liêng của Tổ quốc. Xuyên suốt tiến trình cách mạng, Bộ Chính trị đã 6 lần ban hành nghị quyết, kết luận chuyên đề về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và xây dựng lực lượng biên phòng. Trong bối cảnh các thế lực thù địch tăng cường hoạt động diễn biến hòa bình, lợi dụng không gian mạng và các luận điệu ngụy tạo như nhân quyền cao hơn chủ quyền hay biên giới mềm để chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, công tác thông tin tư tưởng đòi hỏi sự đổi mới mạnh mẽ.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết bài toán nâng cao chất lượng truyền thông chính trị về chủ quyền lãnh thổ trong kỷ nguyên chuyển đổi số. Mục tiêu cụ thể là hệ thống hóa cơ sở lý luận, khảo sát toàn diện thực trạng thông tin trên hệ thống báo chí Biên phòng, đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp khả thi nhằm củng cố thế trận lòng dân nơi biên cương.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào 3 cơ quan báo chí chủ lực gồm Báo in Biên phòng xuất bản 8 kỳ/tháng với số lượng phát hành 10.000 bản/kỳ, Phụ trương An ninh biên giới xuất bản 4 kỳ/tháng với dung lượng 28 trang, và Báo điện tử Biên phòng cập nhật 24/7. Thời gian khảo sát kéo dài 12 tháng, từ tháng 5/2018 đến tháng 5/2019, bao quát địa bàn 16 tỉnh, thành phố trọng điểm đại diện cho 4 tuyến biên giới trên toàn quốc. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc phân tích định lượng hơn 2.600 tin, bài và khảo sát xã hội học trên 640 mẫu thực tế, cung cấp luận cứ khoa học giúp các cơ quan báo chí quân đội tối ưu hóa hiệu quả tiếp cận công chúng với tỷ lệ hài lòng đạt trên 80%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng tổng hòa lý thuyết chức năng xã hội của báo chí cách mạng và lý thuyết truyền thông đại chúng phục vụ phát triển cộng đồng. Báo chí được tiếp cận với tư cách là công cụ tư tưởng sắc bén, vừa thực hiện chức năng định hướng chính trị, giám sát xã hội, vừa thực hiện chức năng giáo dục, phổ biến tri thức và giải trí lành mạnh cho nhân dân.

Mô hình nghiên cứu xây dựng dựa trên 4 khái niệm trung tâm:

  • Tuyên truyền bảo vệ biên giới: Hoạt động truyền bá có hệ thống hệ tư tưởng của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước nhằm chuyển hóa tri thức thành niềm tin và hành động tự giác của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân.
  • Biên giới quốc gia và khu vực biên giới: Không gian chủ quyền thiêng liêng được xác định theo Luật Biên giới quốc gia năm 2003 và Nghị định 34/2000/NĐ-CP của Chính phủ.
  • Biên phòng và thế trận biên phòng toàn dân: Tư duy chiến lược bắt nguồn từ truyền thống lịch sử với kế sách "Biên phòng hảo vị trù phương lược" của vua Lê Thái Tổ năm 1432, được cụ thể hóa trong 5 quan điểm cốt lõi của Nghị quyết 33-NQ/TW ngày 28/9/2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia.
  • Báo chí đa phương tiện: Sự tích hợp các loại hình báo in truyền thống, phụ trương chuyên đề và báo mạng điện tử có khả năng siêu liên kết, tương tác đa chiều và lưu trữ thông tin không giới hạn.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp gồm các văn kiện chỉ đạo của Đảng, Nhà nước (như Quyết định 16/HĐBT ngày 22/2/1989, Chỉ thị 01/CT-TTg ngày 9/1/2015), báo cáo tổng kết năm 2018 của Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng (với hơn 2.300 tin bài và 187 đoàn với 615 lượt phóng viên thực tế), cùng toàn bộ các số báo xuất bản từ tháng 5/2018 đến tháng 5/2019.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp điều tra xã hội học với cỡ mẫu 640 bạn đọc tại 16 tỉnh, thành phố. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được thực hiện trên 4 địa bàn trọng điểm:

  • Tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc: Khảo sát tại 4 tỉnh Hà Giang, Lai Châu, Lạng Sơn, Quảng Ninh.
  • Tuyến biên giới Việt Nam - Lào: Khảo sát tại 4 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Nam.
  • Tuyến biên giới Việt Nam - Campuchia: Khảo sát tại 4 tỉnh Đắk Lắk, Tây Ninh, Long An, An Giang.
  • Tuyến biên giới biển: Khảo sát tại 4 tỉnh, thành phố Hải Phòng, Đà Nẵng, Bình Thuận, Bạc Liêu.

Tại mỗi tỉnh, tác giả lựa chọn 20 cán bộ, chiến sĩ đang trực tiếp công tác tại các đồn biên phòng và 20 cán bộ, người dân địa phương trong độ tuổi từ 18 đến 60. Phương pháp phân tích nội dung thông điệp được lựa chọn nhằm đo lường chính xác tần suất, dung lượng và kết cấu thể loại của 5 nhóm chủ đề. Đồng thời, phương pháp phỏng vấn sâu lãnh đạo quản lý, chuyên gia truyền thông và phóng viên thường trú giúp giải mã những khó khăn thực tiễn trong quy trình tác nghiệp tại các vùng sâu, vùng xa.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tần suất và dung lượng thông tin về chủ quyền biên cương chiếm ưu thế vượt trội trên hệ thống báo chí Biên phòng. Trong 12 tháng khảo sát, Báo Biên phòng in đã đăng tải 2.178 tin bài về sự nghiệp bảo vệ biên giới, chiếm tỷ trọng áp đảo 82,4% tổng dung lượng bài vở. Trên Phụ trương An ninh biên giới, tỷ lệ này đạt 65,9% và trên Báo điện tử Biên phòng đạt 67,7%. Kết quả điều tra xã hội học khẳng định 89,3% bạn đọc đánh giá Báo Biên phòng thường xuyên tuyên truyền về biên giới, cao hơn đáng kể so với Phụ trương (71,7%) và Báo điện tử (64,5%).

Thứ hai, cơ cấu nội dung có sự phân hóa rõ rệt giữa các mảng đề tài. Trong tổng số 2.178 tin bài trên báo in:

  • Mảng giữ gìn an ninh trật tự, đấu tranh phòng chống tội phạm ma túy, buôn lậu chiếm tỷ lệ cao nhất với 29,3% (639 bài).
  • Mảng tình đoàn kết gắn bó quân - dân chiếm vị trí thứ hai với 24,1% (525 bài).
  • Mảng xây dựng hệ thống chính trị và thế trận biên phòng toàn dân chiếm 19,7% (428 bài).
  • Mảng tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật chiếm 13,6% (296 bài).
  • Mảng hoạt động ngoại giao biên giới và đối ngoại biên phòng chiếm 13,3% (290 bài).

Thứ ba, khảo sát phát hiện độ vênh đáng chú ý giữa tỷ lệ xuất bản và mức độ yêu thích của độc giả đối với các bài viết chính luận. Mặc dù các tin bài về chủ trương, chính sách chiếm từ 13,6% đến 17,8% diện tích trang báo, tỷ lệ bạn đọc yêu thích nội dung này chỉ đạt 5,4% trên Báo điện tử Biên phòng, 7,3% trên Báo in Biên phòng và 11,3% trên Phụ trương An ninh biên giới.

Thứ tư, về mặt hình thức, báo in giữ vững ưu thế thẩm mỹ với 12 trang in 4 màu chuẩn mực, trong khi Báo điện tử Biên phòng tuy cập nhật thông tin nhanh nhưng tỷ lệ ứng dụng các định dạng báo chí đa phương tiện hiện đại như Mega story hay Infographic vẫn còn ở mức khiêm tốn.

Thảo luận kết quả

Sự áp đảo của chủ đề an ninh trật tự (chiếm 29,3%) phản ánh đúng thực tế diễn biến phức tạp của các loại tội phạm xuyên quốc gia tại các điểm nóng biên cương. Độc giả có xu hướng tìm đọc các câu chuyện phá án, gương chiến đấu dũng cảm vì tính gay cấn, chân thực và giàu cảm xúc. Ngược lại, mức độ quan tâm thấp đối với các bài viết lý luận chính trị (chỉ từ 5,4% đến 11,3%) bắt nguồn từ nguyên nhân lối viết còn thiên về trích dẫn văn bản, thiếu vắng các câu chuyện người thật việc thật dung dị từ buôn bản.

Khi so sánh với các công trình đi trước của các tác giả như Phùng Quốc Việt hay Vũ Văn Hiệp, nghiên cứu này chứng minh diện mạo báo chí Biên phòng đã có bước nhảy vọt về quy mô xuất bản và khả năng bao phủ thông tin nhờ sự phối hợp của mô hình tòa soạn hội tụ gồm báo in, phụ trương và báo điện tử.

Để tối ưu hóa trải nghiệm tiếp nhận dữ liệu, các kết quả định lượng trong nghiên cứu này rất thích hợp để trình bày qua biểu đồ tròn thể hiện tỷ trọng 5 nhóm nội dung và biểu đồ cột kép so sánh mức độ yêu thích của 640 độc giả giữa các ấn phẩm. Bên cạnh đó, một bảng tổng hợp ma trận phân bố tin bài theo 4 tuyến biên giới sẽ làm nổi bật sự khác biệt về nhu cầu thông tin giữa tuyến đất liền phía Bắc và tuyến biển Tây Nam.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tái cấu trúc phương thức thể hiện các tuyến bài chính luận chính trị. Ban Biên tập Báo Biên phòng cần chỉ đạo chuyển hóa các nghị quyết, chỉ thị khô khan thành các sản phẩm đồ họa thông tin trực quan, bài phỏng vấn bàn tròn và tuyến bài phóng sự nhân vật. Mục tiêu cụ thể là nâng tỷ lệ bạn đọc yêu thích nội dung chủ trương, chính sách từ mức 5,4% - 7,3% hiện nay lên đạt tối thiểu 25% trong giai đoạn 2020 - 2022.

Thứ hai, đẩy mạnh đầu tư hạ tầng công nghệ và sản xuất nội dung số đa phương tiện. Ban Thư ký Tòa soạn Báo điện tử Biên phòng cần nâng cấp hệ thống quản trị nội dung CMS, tích hợp nền tảng podcast âm thanh số và phóng sự truyền hình ngắn tương thích trên thiết bị di động. Mục tiêu đặt ra là nâng tỷ lệ tác phẩm đa phương tiện đạt mức 45% tổng lượng bài đăng hằng ngày, qua đó gia tăng 35% lượng truy cập từ độc giả trẻ trong độ tuổi 18 đến 35 trước năm 2023.

Thứ ba, hoàn thiện mạng lưới phát hành báo in đến tận các địa bàn xung yếu. Phòng Phát hành phối hợp cùng Tổng công ty Bưu điện Việt Nam tối ưu hóa quy trình luân chuyển ấn phẩm Báo Biên phòng 12 trang và Phụ trương An ninh biên giới 28 trang. Đích đến là 100% các tổ, đội công tác biên phòng tuyến đầu và các già làng, trưởng bản tại 16 tỉnh biên giới trọng điểm nhận được báo trong vòng 24 đến 48 giờ sau khi xuất bản, giữ vững sản lượng 10.000 bản/kỳ.

Thứ tư, chuẩn hóa năng lực tác nghiệp đa phương tiện cho đội ngũ phóng viên, cộng tác viên. Cục Chính trị Bộ đội Biên phòng chủ trì tổ chức 2 khóa bồi dưỡng chuyên sâu mỗi năm về kỹ năng làm báo di động, kỹ năng kiểm chứng thông tin và đấu tranh phản bác luận điệu sai trái trên mạng xã hội cho 100% cán bộ tuyên truyền thuộc 44 Bộ Chỉ huy Biên phòng tỉnh, thành phố trong giai đoạn 2020 - 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Ban Biên tập và Tổng biên tập các cơ quan báo chí lực lượng vũ trang: Tham khảo khung đánh giá định lượng chuyên sâu về tần suất xuất bản và cơ cấu nội dung bài vở, từ đó có cơ sở thực chứng để quy hoạch lại các chuyên trang, chuyên mục chính trị đạt hiệu quả định hướng tư tưởng cao hơn.
  • Cán bộ chỉ huy và cán bộ tuyên huấn tại 44 Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh, thành phố: Nắm bắt chi tiết tâm lý tiếp nhận thông tin của 640 mẫu độc giả vùng biên, từ đó xây dựng kế hoạch tuyên truyền vận động quần chúng sát thực tế, thúc đẩy phong trào toàn dân bảo vệ cột mốc biên cương theo Chỉ thị 01/CT-TTg.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Báo chí học, Truyền thông đại chúng: Sử dụng luận văn như một công trình tham khảo mẫu mực về phương pháp kết hợp phân tích nội dung thông điệp với điều tra xã hội học phân tầng trên quy mô 16 tỉnh, thành phố.
  • Phóng viên, biên tập viên chuyên trách mảng đề tài chủ quyền biên giới, biển đảo tại các cơ quan thông tấn báo chí Trung ương và địa phương: Trang bị hệ thống thuật ngữ chuẩn xác, kiến thức văn bản pháp luật biên phòng và phương pháp tiếp cận các đề tài bảo vệ an ninh trật tự giàu tính chiến đấu.

Câu hỏi thường gặp

Khung thời gian và phạm vi khảo sát dữ liệu của luận văn được xác định như thế nào? Luận văn tiến hành khảo sát toàn bộ các ấn phẩm trong khoảng thời gian liên tục 12 tháng, từ tháng 5/2018 đến tháng 5/2019. Phạm vi bao quát 3 kênh thông tin chủ lực của Báo Biên phòng gồm: Báo in Biên phòng (8 kỳ/tháng), Phụ trương An ninh biên giới (4 kỳ/tháng, 28 trang) và Báo điện tử Biên phòng cập nhật tin tức hằng ngày.

Quy trình chọn mẫu điều tra xã hội học 640 phiếu được triển khai ra sao để đảm bảo độ tin cậy? Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên tại 16 tỉnh, thành phố đại diện cho 4 tuyến: tuyến Việt Nam - Trung Quốc (4 tỉnh), tuyến Việt Nam - Lào (4 tỉnh), tuyến Việt Nam - Campuchia (4 tỉnh) và tuyến biển (4 tỉnh). Tại mỗi địa phương, khảo sát lấy ý kiến đúng 20 cán bộ chiến sĩ đồn biên phòng và 20 cán bộ, người dân địa phương độ tuổi 18-60.

Vì sao mảng đề tài giữ gìn an ninh trật tự lại chiếm tỷ trọng tin bài cao nhất trên báo in (29,3%)? Do tình hình tội phạm ma túy xuyên quốc gia và gian lận thương mại tại vùng phên giậu diễn biến phức tạp, 639 bài viết về an ninh trật tự đáp ứng tính thời sự cấp thiết, cung cấp thủ đoạn tội phạm giúp nhân dân cảnh giác, đồng thời phản ánh chân thực các chiến công phá án của người lính quân hàm xanh.

Điểm hạn chế lớn nhất trong công tác tuyên truyền chủ trương, đường lối được luận văn chỉ ra là gì? Hạn chế cốt lõi là sự mất cân đối giữa tỷ lệ đăng tải (13,6% - 17,8%) và tỷ lệ độc giả yêu thích (chỉ 5,4% - 11,3%). Nguyên nhân do nhiều bài viết chính luận còn mang tính văn bản khô cứng, thiếu dẫn chứng sinh động từ thực tiễn đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số.

Luận văn đóng góp giá trị gì cho việc thực thi Nghị quyết 33-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia? Công trình cụ thể hóa 5 quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết 33-NQ/TW thành các giải pháp truyền thông báo chí thực tiễn, giúp củng cố thế trận lòng dân vững chắc, nâng cao giác ngộ chính trị cho nhân dân và xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, phát triển bền vững.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa sâu sắc cơ sở lý luận về chức năng báo chí cách mạng và tư duy chiến lược bảo vệ biên cương của Đảng trong tình hình mới.
  • Đã khảo sát và phân tích định lượng toàn diện hơn 2.600 tin, bài trên 3 ấn phẩm báo in, phụ trương và báo điện tử trong thời gian 12 tháng thực tế.
  • Khảo sát xã hội học thực chứng trên 640 cá nhân tại 16 tỉnh, thành phố thuộc 4 tuyến biên giới, chỉ rõ mức độ hài lòng đạt trên 80% cùng những khoảng trống thị hiếu cần khắc phục.
  • Chỉ rõ sự mất cân đối giữa mảng tin bài an ninh trật tự (29,3%) và bài viết chính luận chính trị (13,6%), mở đường cho việc đổi mới nội dung tuyên truyền.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp chuyển đổi số và nâng cao kỹ năng tác nghiệp báo chí đa phương tiện giai đoạn 2020 - 2025.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là khẳng định vị thế chủ lực của báo chí Biên phòng trên mặt trận tư tưởng, cung cấp cẩm nang thực tiễn cho công tác quản lý báo chí quân đội. Bước tiếp theo, các nhà nghiên cứu cần mở rộng phạm vi khảo sát sang các nền tảng mạng xã hội và truyền hình số chuyên biệt trong giai đoạn 2026 - 2030. Các cơ quan báo chí và đơn vị quản lý truyền thông hãy ứng dụng ngay những phát hiện thực chứng này để xây dựng thế trận thông tin bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia ngày càng vững chắc.