Vấn Đề Tự Chủ Đại Học Trên Báo Điện Tử Việt Nam Hiện Nay

Tài liệu nghiên cứu Luận văn ths báo chí vấn đề tự chủ đại học trên báo điện tử việt nam hiện nay, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về kỹ thuật.

Chuyên ngành

Báo chí

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn

2019

104
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1. Các công trình nghiên cứu lý luận về báo chí, báo điện tử

1.2. Các công trình nghiên cứu về vai trò của báo chí với đổi mới giáo dục

1.3. Nhóm các công trình giáo trình, bài giảng và sách chuyên khảo

2. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

2.1. Mục đích nghiên cứu

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

4. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1. Cơ sở lý luận

4.2. Phương pháp nghiên cứu

5. ĐÓNG GÓP MỚI VỀ KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI

5.1. Những đóng góp mới

5.2. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Tóm tắt

I. Tổng quan về vấn đề tự chủ đại học trên báo điện tử Việt Nam

Vấn đề tự chủ đại học đã trở thành một chủ đề nóng trong bối cảnh giáo dục đại học Việt Nam hiện nay. Tự chủ đại học không chỉ là một xu thế phát triển tất yếu mà còn là yêu cầu cấp thiết để nâng cao chất lượng giáo dục. Luật Giáo dục đại học năm 2012 đã khẳng định quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học, tạo điều kiện cho các trường đại học phát huy năng lực và sáng tạo trong hoạt động đào tạo và nghiên cứu. Tuy nhiên, việc thực hiện quyền tự chủ này vẫn gặp nhiều thách thức và rào cản từ các quy định pháp luật khác.

1.1. Khái niệm và ý nghĩa của tự chủ đại học

Tự chủ đại học được hiểu là quyền tự quyết trong các hoạt động tổ chức, nhân sự, tài chính và đào tạo. Điều này giúp các trường đại học có thể linh hoạt hơn trong việc xây dựng chương trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

1.2. Lịch sử phát triển của tự chủ đại học tại Việt Nam

Từ năm 2012, khi Luật Giáo dục đại học được ban hành, vấn đề tự chủ đại học đã được đưa vào thực tiễn. Tuy nhiên, các quy định về quyền tự chủ vẫn còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng đến khả năng thực hiện của các cơ sở giáo dục.

II. Những thách thức trong việc thực hiện tự chủ đại học

Mặc dù tự chủ đại học là một chủ trương lớn, nhưng việc thực hiện vẫn gặp nhiều khó khăn. Các quy định pháp luật hiện hành còn chung chung và thiếu cụ thể, dẫn đến việc các trường đại học không thể phát huy hết quyền tự chủ của mình. Hơn nữa, sự thiếu đồng bộ trong các chính sách giáo dục cũng tạo ra những rào cản trong quá trình thực hiện.

2.1. Rào cản pháp lý trong tự chủ đại học

Nhiều quy định trong Luật Giáo dục đại học còn mâu thuẫn với các luật khác, gây khó khăn cho các trường trong việc thực hiện quyền tự chủ. Điều này cần được xem xét và sửa đổi để tạo điều kiện thuận lợi hơn.

2.2. Nhận thức chưa đầy đủ về tự chủ đại học

Một số cơ quan báo chí và công chúng vẫn chưa hiểu rõ về quyền tự chủ của các trường đại học, dẫn đến việc thông tin không chính xác và thiếu chiều sâu trong các bài viết.

III. Phương pháp nghiên cứu và phân tích nội dung báo chí

Để đánh giá thực trạng thông tin về tự chủ đại học, nghiên cứu đã sử dụng phương pháp phân tích nội dung các bài viết trên báo điện tử. Việc khảo sát này giúp xác định được những điểm mạnh và yếu trong việc truyền thông về vấn đề này.

3.1. Phương pháp phân tích nội dung

Phân tích nội dung giúp xác định các chủ đề chính, cách thức trình bày và mức độ phản ánh thực tế của các bài viết về tự chủ đại học trên báo điện tử.

3.2. Phỏng vấn sâu với các nhà báo

Phỏng vấn các phóng viên và biên tập viên giúp thu thập những góc nhìn đa chiều về thực trạng thông tin và những khó khăn trong việc truyền thông về tự chủ đại học.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng báo điện tử đã có những đóng góp nhất định trong việc truyền thông về tự chủ đại học. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục để nâng cao chất lượng thông tin. Việc cải thiện nội dung và hình thức bài viết là cần thiết để đáp ứng nhu cầu thông tin của độc giả.

4.1. Đánh giá chất lượng nội dung bài viết

Nhiều bài viết vẫn còn thiếu chiều sâu và tính phản biện, chủ yếu tập trung vào việc mô tả mà không đi sâu vào phân tích và đánh giá.

4.2. Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng thông tin

Cần có những biện pháp cụ thể để nâng cao chất lượng thông tin về tự chủ đại học, bao gồm việc đào tạo phóng viên và biên tập viên về vấn đề này.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của tự chủ đại học

Tự chủ đại học là một xu thế tất yếu trong bối cảnh giáo dục hiện đại. Việc thực hiện quyền tự chủ không chỉ giúp các trường đại học phát huy năng lực mà còn góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Tuy nhiên, cần có sự đồng bộ trong các chính sách và quy định pháp luật để tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở giáo dục.

5.1. Tương lai của tự chủ đại học tại Việt Nam

Với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, tự chủ đại học sẽ tiếp tục được phát triển và hoàn thiện trong thời gian tới.

5.2. Vai trò của báo chí trong việc truyền thông về tự chủ đại học

Báo chí cần đóng vai trò tích cực hơn trong việc thông tin và tuyên truyền về tự chủ đại học, giúp nâng cao nhận thức của xã hội về vấn đề này.

12/07/2025
Luận văn ths báo chí vấn đề tự chủ đại học trên báo điện tử việt nam hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ TỰ CHỦ ĐẠI HỌC TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ VIỆT NAM 1. Các khái niệm cơ bản 1. Báo chí Cácnhà nghiên cứutiếp cận báo chí ởnhiều góc độ khác nhau, cho nên, khái niệm về báo chí cũng khá đa dạng: Theo tác giả Tạ Ngọc Tấn, báo chí là hiện tượng đa ngh a, gắn bó chặt chẽ với các thành tố của kiến trúc thượng tầng, báo chí là một loại hình hoạt động chính trị - xã hội, với tính chất nghề nghiệp sáng tạo. Hoạt động báo chí bao hàm trong đó sự vận hành ph c tạp của một loại nghề nghiệp, quan hệ với nhau bằng quy luật vận động nội tại của cả hệ thống và bằng hiệu quả xã hội có tính mục đích [88, tr.

Tác giả Nguyễn Văn Dững tiếp cận báo chí từ quan điểm hệ thống, đưa ra khái niệm: Báo chí là hoạt động thông tin - giao tiếp xã hội trên quy mô rộng lớn nhất, là công cụ và phương thức kết nối xã hội hữu hiệu nhất, là công cụ và phương thức can thiệp xã hội hiệu quả nhất trong mối quan hệ với công chúng và dư luận xã hội, với nhân dân và cácnhóm lợi ích, với các nước trong khu vực và quốc tế [27, tr.61] và “Báo chí còn được hiểu là hoạt động thông tin - giao tiếp xã hội trên quy mô rộng nhất, là công cụ và phương thức kết nối xã hội hữu hiệu nhất, là công cụ và phương thức can thiệp xã hội hiệu quả nhất trong mối quan hệ với công chúng và dư luận xã hội, với nhân dân và với các nhóm lợi ích, với các nước trong khu vực và quốc tế…” [27, tr. Khoản Điều 3 Luật Báo chí 2016đưa ra khái niệm về báo chí: “Báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vấn đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, 13 truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử”. Từ những quan điểm nêu trên, luận văn đưa ra một khái niệm chung: Báo chí là hoạt động thông tin - giao tiếp xã hội trên quy mô rộng lớn, là phương tiện diễn đạt, chia sẻ thông tin giữa các chủ thể khác nhau trong xã hội, là một bộ phận của truyền thông đại chúng, nhưng là bộ phận chủ đạo, chiếm vị trí trung tâm, có khả năng quyết định tính chất, khuynh hướng, chi phối năng lực và hiệu quả tác động của truyền thông đại chúng. Do đó, trong nhiều trường hợp, khái niệm báo chí được hiểu là truyền thông đại chúng và ngược lại, nói đến truyền thông đại chúng, trước hết phải nói đến báo chí.

Báo điện tử Theo Khoản 6 Điều 3, Luật báo chí 2016: “Báo điện tử là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được truyền dẫn trên môi trường mạng, gồm báo điện tử và tạp chí điện tử”. Trong sách Cơ sở lý luận báo chí (2013) tác giả Nguyễn Văn Dững cho rằng, ở Việt Nam hiện có 4 loại hình báo chí đó là: Báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử. Trong đó báo in vẫn là trục chính của các phương tiện truyền thông đại chúng, mà quanh nó các loại hình báo khác phát triển đa dạng. Trong phạm vi luận văn, tác giả tiếp cận báo chí ở loại hình cụ thể là báo điện tử.

Trên thế giới loại hình này có nhiều tên gọi khác nhau như: online newpaper (báo chí trên mạng/trực tuyến),e-journal (Electronic journal- báo chí điện tử), e-zine (Electronic magazine- tạp chí điện tử)… Ở Việt Nam, thuật ngữ báo điện tử được sử dụng khá phổ biến, như: Báo Nhân dân điện tử, Lao động điện tử, Thanh niên điện tử… Ngoài ra, còn nhiều tên gọi khácnhư: báo mạng, báo chí internet, báo trực tuyến, báo mạng điện tử,… 14 Theo Điều 20, Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 của Chính phủ quy định về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng, báo điện tử là một trong 5 loại của trang tin điện tử gồm: Báo điện tử, Trang thông tin điện tử tổng hợp, Trang thông tin điện tử nội bộ, Trang thông tin điện tử cá nhân và Trang thông tin điện tử ng dụng chuyên ngành. Thuật ngữ “online newspaper” được sử dụng rộng rãi trên trong các công trình nghiên cứu báo chí học, nhất là trong lĩnh vực truyền thông mới để chỉ các khái niệm cùng tính chấtnhư: Online publishing (xuất bản trực tuyến), online media (phuơng tiện truyền thông trực tuyến), online journalist (nhà báo trực tuyến), online radio (phát thanh trực tuyến), online television (truyền hình trực tuyến). Theo tác giả Nguyễn Thị Trường Giang (2010): “Báo mạng điện tử là một loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức của một trang web và phát hành trên mạng Internet”.25] Ngoài ra, cũng có quan niệm báo chí trực tuyến là loại hình báo chí phát hành trên mạng Internet, sử dụng công nghệ World Wide Web với ngôn ngữ HTML, dành cho công chúng sử dụng Internet. Như vậy, ở Việt Nam có ít nhất bốn thuật ngữđược dùng thông dụng là: Báo điện tử, báo mạng điện tử, báo trực tuyến, báo Internet.

Việc phân tích và sử dụng các thuật ngữ này gắn với nhận thức và tư duy tổ chức, tư duy tácnghiệp loại hình báo chí này. Trong luận văn này, tác giả sử dụng thuật ngữ báo điện tử và đưa rakhái niệm như sau: Báo điện tử là một loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức của một trang web, phát hành trên mạng Internet, có ưu thế trong chuyển tải thông tin một cách nhanh chóng, tức thời, đa phương tiện và tương tác cao. Truyền thông Khái niệm truyền thông được hiểu theo nhiều góc độ khác nhau. 15 Theo tác giả Nguyễn Văn Dững “Truyền thông ở bình diện tổng quát được hiểu là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người, nhằm góp phần nâng cao thay đổi nhận thức, mở rộng hiểu biết, tiến tới thay đổi thái độ và hành vi của công chúng- nhóm đối tượng phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững”[27, tr14].

Theo tác giả Dương Xuân Sơn, “Truyền thông là một quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin tình cảm, kỹ năng nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và nhận thức”[87, tr. Như vậy, truyền thông là quá trình trao đổi thông tin, tương tác thông tin với nhau giữa hai hoặc nhiều người với nhau nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức. Truyền thông là sản phẩm của xã hội con người, là yếu tố động lực kích thích sự phát triển của xã hội. Phương tiện truyền thông là sự vận dụng các khả năng của cơ thể, sử dụng những phương tiện có sẵn trong tự nhiên, những công cụ nhân tạo để diễn tả và truyền tải những thông tin, thông điệp từ bản thân đến người khác hay từ nơi này sang nơi khác.

Truyền thông là hoạt động truyền đạt thông tin thông qua trao đổi ý tưởng, cảm xúc, ý định, thái độ, mong đợi, nhận thức hoặc các lệnh, như ngôn ngữ, cử chỉ phi ngôn ngữ, chữ viết, hành vi và có thể bằng các phương tiện trao đổi có ý nghĩa của thông tin giữa hai hoặc nhiều thành viên (máy móc, sinh vật hoặc các bộ phận của chúng). Truyền thông đòi hỏi phải có một người gửi, một tin nhắn, một phương tiện truyền tải và người nhận, mặc dù người nhận không cần phải có mặt hoặc nhận thức về ý định của người gửi để giao tiếp tại thời điểm việc truyền thông này diễn ra; do đó thông tin liên lạc có thể xảy ra trên những khoảng cách lớn trong thời gian và không gian. Truyền thông yêu cầu các bên giao tiếp chia sẻ một khu vực dành riêng cho thông tin được truyền tải. Quá trình giao tiếp được coi là hoàn thành tốt khi người nhận hiểu thông điệp của người gửi.

16 Các phương thức truyền tin là những tác động lẫn nhau qua một trung gian giữa ít nhất hai tác nhân cùng chia sẻ một ký hiệu tin tức, hoặc một quy tắc mang một ý nghĩa nào đó. Truyền thông thường được định nghĩa là “sự truyền đạt suy nghĩ, ý kiến hoặc thông tin qua lời nói, chữ viết, hoặc dấu hiệu”. Trong phạm vi luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm truyền thông theo cách hiểu: Truyền thông là quá trình trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm… giữa hai hay nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, tiến tới thay đổi nhận thức dẫn đến điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với lợi ích của các bên tham gia truyền thông.Tự chủ Tự chủ được hiểu theo nghĩa đời thường là khả năng tự làm chủ bản thân của một sự vật hiện tượng trong cuộc sống. Hay hiểu theocách khác, tự chủ là tự mình có quyền và có thể kiểm soát được những công việc của mình.

Theo từ điển tiếng Việt: “Tự chủ là tự điều hành, quản lí mọi công việc của mình, không bị ai chi phối”. Như vậy, tự chủ là khả năng tự điều hành và quản lý mọi công việc của một cá nhân hay một tổ chức, nhằm thực hiện nhiệm vụ được giao đạt hiệu quả cao nhất có thể Theo báo cáo đề dẫn của Debreczeni (2002) trong Hội thảo quốc tế “Tự chủ và tự chịu trách nhiệm của tổ chức” tự chủ thể chế (institutional autonomy) là điều kiện cho phép một tổ chức giáo dục đại học điều hành hoạt động của tổ chức mà không có sự can thiệp từ bên ngoài. Tự chủ của cơ sở giáo dục đại học hoàn toàn không có nghĩa là nằm ngoài sự chi phối của luật pháp, mà là tự chủ có điều kiện và các điều kiện này được xác định bởi mối quan hệ giữa Nhà nước, xã hội và cơ sở giáo dục đại học. Tự chủ được phân loại như sau: 17 - Tự chủ thực chất (substantive autonomy): Trường đại học có quyền xác định các chương trình học tập và mục đích của những chương trình này.

- Tự chủ thủ tục (Procedural autonomy): Trường đại học có quyền xác định các phương tiện cần thiết để hoàn thành các ưu tiên đáp ứng với nhiệm vụ nằm trong chính sách quốc gia. - Tự chủ tổ chức (Organic autonomy): Trường đại học có quyền xác định các tổ chức học thuật của mình, nên dựa vào các Khoa và Phòng/Ban hay các trường, các viện nghiên cứu,. Nhà nước có vẻ như đang giảm dần sự kiểm soát vào các lĩnh vực, như: phân bố chương trình, hồ sơ chuyên ngành đào tạo, phân bố sinh viên giữa các chuyên ngành,các điều kiện,các phương tiện và các nguồn lực tham gia vào quá trình đào tạo.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu này cung cấp cái nhìn tổng quan về các hoạt động nghiên cứu và phát triển trong lĩnh vực giáo dục và kinh doanh tại Việt Nam. Nó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập và sự phát triển nghề nghiệp của sinh viên và giảng viên. Đặc biệt, tài liệu chỉ ra rằng việc hiểu rõ các yếu tố này không chỉ giúp cải thiện chất lượng giáo dục mà còn nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh trong các tổ chức giáo dục.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các chủ đề liên quan, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Luận văn phân tích hoạt động kinh doanh của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn đông anh, nơi bạn sẽ tìm thấy những phân tích sâu sắc về hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng. Bên cạnh đó, Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên trường đại học nha trang sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố tác động đến thành công học tập của sinh viên. Cuối cùng, Lecturers perceptions towards professional development sẽ cung cấp cái nhìn từ góc độ giảng viên về sự phát triển nghề nghiệp trong môi trường giáo dục. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn khám phá sâu hơn về các khía cạnh khác nhau của giáo dục và kinh doanh.