phần Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của luận án đƣợc triển khai qua bốn chƣơng: - Chƣơng 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu - Chƣơng 2: Khái quát thơ Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI - Chƣơng 3. Những chuyển động của nội dung thơ Việt Nam đầu thế kỷ XXI. Đa dạng hóa nghệ thuật biểu hiện 7 download by : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Thơ đầu thế kỷ XXI đang vận động, do đó hầu nhƣ chƣa có công trình khảo cứu chuyên sâu về nó. Có chăng, nó chỉ xuất hiện thoáng qua trong các công trình nghiên cứu về thơ sau 1975 hoặc thơ sau đổi mới 1986.
Tuy nhiên các tiểu luận, các bài viết nhỏ bàn về thơ đầu thế kỷ XXI đăng trên tạp chí chuyên ngành, diễn đàn văn nghệ, blog, website văn học lại vô cùng phong phú. Qua nghiên cứu tƣ liệu chúng tôi thấy có 3 xu hƣớng nghiên cứu: thứ nhất là những đánh giá chung về thơ giai đoạn này; thứ hai là những nhận định về một số đặc điểm nội dung, nghệ thuật của giai đoạn thơ, và thứ ba là những nghiên cứu về tác giả hoặc tác phẩm cụ thể. Những đánh giá chung về thơ Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI Đánh giá thơ đầu thế kỷ XXI cho đến nay còn có nhiều ý kiến trái chiều. Trong kỷ yếu hội thảo Thơ Việt hiện đại nhìn từ miền Trung [124], nhiều ý kiến tỏ ra bi quan “thơ đang có vấn đề và cần đổi mới nó” (Hữu Thỉnh), “tình trạng vè hóa thơ, cũ hóa, văn xuôi hóa thơ” (Nguyễn Trọng Tạo), “thơ của chúng ta èo uột, làng nhàng, thiếu bứt phá, thiếu thăng hoa” (Nguyễn Hoàng Đức), “Cái khó mà thơ lâm phải hiện nay là thời kỳ giáp hạt tƣ tƣởng, sự khủng hoảng của nó cũng do đó mà ra.
Nghĩa là diện mạo thơ nhợt nhạt, cũ kỹ, không có gì đáng để bàn. Nhƣng ở chiều ngƣợc lại, Đông Hà lại cho rằng thơ nói riêng và văn chƣơng đầu thế kỷ XXI nói chung có diện mạo đa màu sắc: “nhìn một cách khái quát, văn chƣơng Việt đang mang một diện mạo đa màu sắc. Có thứ văn chƣơng giải trí, văn chƣơng giãi bày, văn chƣơng dƣỡng già, văn chƣơng phô diễn và văn chƣơng nghề nghiệp” [dẫn theo Lê Minh Phong, 150]. Đồng quan điểm, nhà thơ, nhà nghiên cứu văn hóa Inrasara còn cho rằng thơ đƣơng đại đang vận động và phát triển không 8 download by : skknchat@gmail.com ngừng, nhƣng phê bình hiện đại thì không theo kịp sự phát triển của thơ để làm nhiệm vụ cầu nối giữa thơ và công chúng: “Các nhà thơ đƣơng đại không viết khi đã xác định con đƣờng, hay nói theo giọng thời thƣợng - khi đã "tìm thấy mình", mà vừa viết vừa tự khám phá chính mình… Họ viết - thế thôi.
Liên tục chuyển động và thay đổi. Không nhiều nhà phê bình nhận ra điều đó. Rất ít nhà phê bình theo kịp sự chuyển động của họ. Không theo kịp, nhà phê bình mãi ở lại căn chòi mĩ học cũ để nhìn về thơ đƣơng đại, nhận định và phán xét nó.
Về xu hướng phát triển thơ Việt Nam đầu thế kỷ XXI, nhiều ngƣời cho rằng, thơ đang vận động với nhiều xu hƣớng, khuynh hƣớng với nhiều trào lƣu và trƣờng phái. Trong bài viết Ba khuynh hướng vận động của thơ Việt Nam đương đại, Nguyễn Thanh Tâm căn cứ trên những biểu hiện về mặt quan niệm thơ, cách kiến tạo thi ảnh, các phƣơng tiện cấu trúc thi giới, những ứng xử với ngôn ngữ, những động hình của tƣ duy và mỹ cảm. nhận định thơ Việt Nam sau 1975 vận hành theo ba khuynh hƣớng lớn: Khuynh hƣớng bảo tồn những giá trị thơ truyền thống/ Khuynh hƣớng cách tân/ Khuynh hƣớng cách tân trên cơ sở kế thừa truyền thống. Khuynh hƣớng cách tân lại có thể chia ra hai hƣớng chuyển động - cách tân về nội dung thể tài, thi hứng và cách tân về hình thức ngôn ngữ thi ca.
Nhƣng đồng thời Nguyễn Thanh Tâm cũng nhận thấy việc chia thành ba khuynh hƣớng nhƣ vậy chỉ có tính chất tƣơng đối vì “tác giả của khuynh hƣớng này có lúc, có chỗ lại giao thoa, thâm nhập vào khuynh hƣớng khác, không phải là những khuôn hình cố định, bất biến”. Ngoài cách chia này, theo tác giả còn có thể chia khuynh hƣớng phát triển của thơ theo nhiều tiêu chí khác nữa. Từ góc độ thể loại, có thể thấy thơ Việt sau 1975 rẽ làm hai nhánh: phát huy thế mạnh của các thể loại đã có/ sáng tạo hình thức thể loại mới. Từ phƣơng pháp sáng tác, thi pháp có thể thấy sự hiện diện của thơ cổ điển, lãng mạn, tƣợng trƣng, siêu thực, tân cổ điển,.
Từ góc độ ngƣời tiếp nhận lại có thể nhận thấy hai hiện trạng: thơ dành cho đại chúng (văn học phổ thông) và thơ chỉ dành cho những tầng lớp tinh tuyển - thơ khó. Từ lý thuyết hệ hình lại có thể nhận ra dấu vết của kiểu thơ thuộc hệ hình Tiền hiện đại/ Hiện đại/ Hậu hiện đại [174]. Inrasara nhìn ở góc độ các trào lƣu văn học thì chia thơ Việt đầu thế kỷ XXI ra 5 trào lƣu chính: Thơ “cổ truyền”, thơ tân hình thức (new formalism poetry, thơ 9 download by : skknchat@gmail.com nữ quyền luận, thơ thị giác (visual poetry) trong đó thơ trình diễn (poetry performance) là một nhánh nổi bật, trào lƣu thơ hậu hiện đại” [70]. Trong các trào lƣu thơ đó, trào lƣu hậu hiện đại nhận đƣợc sự quan tâm của đông đảo giới phê bình cũng nhƣ bản thân các nhà thơ.
Sự xuất hiện của thơ hậu hiện đại vào cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI khiến cho phê bình văn học sôi động hẳn lên. Cuộc trao đổi - đối thoại về chủ nghĩa hậu hiện đại trên phƣơng diện lý thuyết và biểu hiện thực tế của nó trong văn học Việt Nam tạo thành một sự kiện đáng chú ý trên một số diễn đàn, gồm cả báo mạng internet và báo viết. Báo điện tử Tổ quốc có các bài viết: “Câu chuyện về một kiểu cắt nghĩa xã hội” (Lã Nguyên), “Văn chƣơng Hậu hiện đại, nhìn từ góc độ sáng tác” (Lê Anh Hoài), “Đối thoại về con đƣờng đi vào văn chƣơng hậu hiện đại Việt Nam” (Inrasara), “Một cái nhìn về thực tiễn văn chƣơng hậu hiện đại” (Phùng Gia Thế). Tạp chí Hồng Lĩnh cũng đăng loạt bài: “Tiếp nhận những cách tân của chủ nghĩa hiện đại và hậu hiện đại” (Hoàng Ngọc Hiến), “Về lối viết hậu hiện đại trong văn học ta” (Hà Quảng).
Bản tin Lý luận phê bình văn học nghệ thuật số 10/2009 có bài: “Nhận biết về chủ nghĩa hậu hiện đại trong nghệ thuật” (Hồ Sĩ Vịnh). Đến cuối thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI, nhận diện phê bình văn học hậu hiện đại (trong đó có nhận diện, phê bình thơ hậu hiện đại) ở nƣớc ta tạo thành một vệt đậm và gây chú ý cả các tác giả ở hải ngoại. Nhìn chung các ý kiến đánh giá về thơ hậu hiện đại có thể quy về ba nhóm. Nhóm thứ nhất kịch liệt phản đối loại thơ này.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Hoà thì cho rằng: “hậu hiện đại là một cái áo quá rộng cho một cơ thể còm” và đề xuất “hãy đi hết hiện đại đã rồi hãy nghĩ đến hậu hiện đại” [58]. Nhà phê bình Đỗ Ngọc Yên thì cho thơ cách tân (hiện đại, hậu hiện đại) chỉ là một mớ hỗn độn “nhân danh cách tân nhiều ngƣời đã cho ra đời một thứ chẳng biết gọi là gì: văn nói, ghi chép, nhật ký,. chỉ biết rằng nó giống nhƣ món “óc sống” khiến công chúng không thể nào tiêu hóa nổi” [216]. Ở phía bên kia, Inrasara là ngƣời nhiệt thành ca ngợi thơ hậu hiện đại: “Thơ hậu hiện đại là trò chơi địa phƣơng của những kẻ tự nguyện sáng tác ngoài lề trong thời đại toàn cầu hóa.
Với tinh thần phá chấp triệt để qua tầm nhìn rộng mở và thái độ dân chủ tuyệt đối, thế hệ nhà thơ hậu hiện đại hôm nay là kẻ sáng tạo tiền vệ đang đổi mới thơ Việt, đổi mới cách viết và cách đọc, qua đó thúc đẩy công cuộc 10 download by : skknchat@gmail.com giải lãnh thổ hoá deterritorialize, giải quốc gia hoá denationalize và giải địa phƣơng hóa delocalize văn học. Họ đang có đó, nhƣ một hiện tƣợng” [71]. Thậm chí Inrasara còn kỳ vọng thơ hậu hiện đại có thể “làm một cuộc cách mạng cho thơ Việt” [71]. Một số nhà nghiên cứu thì có cái nhìn toàn diện hơn, một mặt họ thừa nhận những sáng tạo thơ theo lối hiện đại và hậu hiện đại là những nỗ lực đáng đƣợc trân trọng trong hành trình cách tân thơ Việt, có những tác phẩm thực sự giá trị; mặt khác họ phê phán những sáng tạo cực đoan đang phá hoại giá trị thẩm mĩ của thơ ca.
Nguyễn Thanh Tâm trong bài viết Bắt mạch thơ hiện nay một mặt “quả quyết rằng thơ hiện nay có nhiều sự cách tân, và sự thật có nhiều cách tân có giá trị, có không ít bài thơ, tập thơ hay đƣợc công chúng đánh giá cao” nhƣng mặt khác tác giả cũng chỉ ra hiện trạng cũng còn nhiều ngƣời nhân danh sáng tạo, cách tân đẩy thơ đến cực đoan, bế tắc “Có bài thơ nhƣ là tiếng chửi, tục tĩu không chịu đƣợc. Có bài thơ ù lì, tăm tối nhƣ hũ nút, tịnh không một tín hiệu dẫn đƣờng nào đến ánh sáng nghệ thuật. Nhân danh vô thức, tiềm thức, nhân danh sự tạo nghĩa của ngôn từ trong những ngẫu hợp bất định, những tác giả này cho ra đời những văn bản “vô nghĩa lý”, siêu hình hết mức. Lại có những bài thơ đầy tính hận thù, hậm hực với tƣ tƣởng chính trị, văng đủ thứ trong thơ, lôi tuột tất cả ra vỉa hè, xuống lòng đƣờng để tung hô thứ triết lý sống hết sức tầm thƣờng” [172].
Về lực lượng sáng tác, nhiều nhà nghiên cứu ghi nhận vai trò của các nhà thơ trẻ. Trong bài viết Cách tân nghệ thuật và thơ trẻ đương đại, Lƣu Khánh Thơ nhận thấy nỗ lực làm mới của thơ trẻ: “Có thể thấy rằng thơ trẻ đang cố gắng để khác các thế hệ đi trƣớc. Cái mạnh của lớp trẻ hôm nay là họ đang tạo ra một không khí dân chủ trên thi đàn với nhiều giọng điệu, nhiều khuynh hƣớng. Họ đƣợc tự do trong cảm xúc, trong các cách thể hiện.
Hầu nhƣ đối với họ không có điều gì là cấm kỵ, không có điều gì phải né tránh. Dễ nhận thấy một điều rằng, những ngƣời làm thơ trẻ hôm nay hƣớng sự chú ý của mình vào việc khai thác tâm trạng cá nhân. Họ tinh tế, nhạy bén với những cảm xúc riêng tƣ, đơn lẻ nhƣng ít khi mở ra, vƣơn tới những vấn đề xã hội rộng lớn.