Luận án Tiến sĩ: Thơ Việt Nam đầu thế kỷ 21 – Trần Thị Minh Tâm, ĐHQG Hà Nội

Nghiên cứu chuyên sâu về thơ Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI. Phân tích các khuynh hướng, nội dung và cách tân nghệ thuật đa dạng.

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2019

188
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

0.4. Phương pháp nghiên cứu

0.5. Đóng góp của luận án

0.6. Cấu trúc của luận án

1. Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Những đánh giá chung về thơ Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI

1.2. Những nhận định về đặc điểm thơ Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI

1.3. Những nhận định về tác giả, tác phẩm tiêu biểu

2. Chương 2: KHÁI QUÁT THƠ VIỆT NAM NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI

2.1. Lực lượng sáng tác

2.1.1. Các thế hệ nhà thơ

2.1.2. Các hoạt động thơ của lực lượng sáng tác

2.2. Quan niệm thơ những năm đầu thế kỷ XXI

2.2.1. Cách tân là vấn đề cấp thiết của thơ

2.2.2. Sự vận động và đổi mới quan niệm nghệ thuật về thơ

2.3. Các khuynh hướng sáng tạo tiêu biểu

2.3.1. Khuynh hướng bảo tồn các giá trị thơ truyền thống

2.3.2. Khuynh hướng cách tân trên cơ sở truyền thống

2.3.3. Khuynh hướng cách tân thơ triệt để

3. Chương 3: NHỮNG CHUYỂN ĐỘNG CỦA NỘI DUNG THƠ VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XXI

3.1. Cảm hứng dân tộc lịch sử

3.1.1. Biển đảo quê hương, chủ đề nổi bật nhất trong cảm hứng lịch sử dân tộc đầu thế kỉ XXI

3.1.2. Lịch sử và truyền thống dân tộc

3.2. Dòng thơ thế sự ngày càng chiếm vị trí chủ đạo

3.2.1. Thơ phản ánh hiện trạng xã hội trong thời đại kỹ trị và toàn cầu hóa

3.2.2. Trở về với các giá trị truyền thống như một giải pháp chống lại sự tha hóa

3.2.3. Niềm tin và hy vọng

3.3. Tình yêu và khát khao nhục cảm

3.3.1. Tình yêu - chủ đề vĩnh cửu

3.3.2. Khát khao nhục cảm

3.4. Cái tôi bản thể

3.4.1. Đi vào vùng mờ tâm linh, vô thức, đậm chất siêu thực

4. Chương 4: ĐA DẠNG HÓA NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN

4.1. Mở rộng đường biên thể loại

4.1.1. Cách tân thể thơ truyền thống

4.1.2. Tự do hóa hình thức thơ

4.2. Hệ thống ngôn ngữ

4.2.1. Ngôn ngữ giản dị, trong sáng, hàm súc

4.2.2. Xu hướng gia tăng ngôn ngữ đời thường, trần tục

4.2.3. Thử nghiệm chất liệu biểu đạt ngoài ngôn ngữ

4.3. Hệ thống hình ảnh

4.3.1. Hình ảnh đời thường, trần tục

4.3.2. Hình ảnh lạ hóa mang màu sắc siêu thực

4.4. Hướng tới đa giọng điệu

4.4.1. Giọng độc thoại – giãi bày chiếm vị trí chủ đạo

4.4.2. Các giọng điệu khác

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Luận văn Tổng quan về Thơ Việt Nam Đầu Thế Kỷ 21 55 ký tự

Thơ là một thể loại văn học lâu đời, quen thuộc với hầu hết mọi người. Mặc dù trong những năm gần đây, thơ không đạt được thành tựu nổi bật như tiểu thuyết và không nhận được sự đón nhận nồng nhiệt từ độc giả như trước, nhưng nó vẫn là phương tiện hiệu quả nhất để biểu lộ đời sống tâm hồn của con người hiện đại. Thơ vẫn là một thể loại không thể bỏ qua trong nghiên cứu và phê bình văn học. Những năm cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, đất nước mở cửa và hội nhập với thế giới, các lý thuyết và trường phái thơ từ nước ngoài tràn vào, khuấy động nền thơ trong nước và tạo tiền đề cho sự phát triển của một giai đoạn thơ mới. Bước vào thế kỷ XXI, bắt đầu từ năm 2000, một không gian văn học mới mở ra: không gian văn học mạng với nhiều website và blog văn học ra đời, giúp việc truyền bá và tiếp cận tác phẩm trở nên dễ dàng hơn. Môi trường mạng còn là nơi gặp gỡ và giao lưu giữa văn học trong nước và quốc tế, là diễn đàn trao đổi học thuật sôi nổi. Môi trường văn hóa như vậy làm nảy sinh những cách cảm, cách nghĩ và cách thể hiện mới. Nhiều người làm thơ ấp ủ hoài bão sáng tạo và thử nghiệm những lối thơ khác lạ. Vậy sau gần hai thập kỷ, thơ Việt đã có bước phát triển như thế nào, liệu có thể làm nên một cuộc cách mạng thơ như đầu thế kỷ trước? Đó là câu hỏi cần lời giải đáp. Có một điều không thể phủ nhận: thơ Việt Nam đầu thế kỷ XXI phát triển trong sự đa dạng và phức tạp. Một mặt, lối thơ trữ tình giàu nhạc tính vẫn được ưa dùng như một quán tính, mặt khác là những cách tân thơ quyết liệt từ thể tài đến ngôn ngữ, hình ảnh, giọng điệu. Các cuộc tranh luận thơ cách tân hay không cách tân cũng gay gắt chẳng kém tranh luận thơ cũ, thơ mới ở đầu thế kỷ trước. Ngay cả giới phê bình cũng có những đánh giá trái chiều về sự phát triển của thơ giai đoạn này. Một giai đoạn thơ đa dạng và phức tạp như vậy đáng được quan tâm nghiên cứu. Mỗi chặng đường thơ cần được tổng kết và đánh giá kịp thời để có cái nhìn toàn cảnh và khách quan về những thành tựu và hạn chế của nó. Gần hai thập kỷ của thế kỷ mới đã trôi qua, cần có cái nhìn khái quát về sự vận động của thơ giai đoạn này, từ đó có cơ sở so sánh và đánh giá nó với các giai đoạn thơ khác. Tuy nhiên nhận định về một nền thơ đang lưu chuyển là một việc mạo hiểm và nhiều thử thách. Mạo hiểm là bởi có nhiều thứ chưa được định hình, nhiều đặc điểm chưa được ổn định và còn tiềm tàng nhiều bất ngờ mà người nghiên cứu chưa lường đến. Thử thách là bởi phạm vi quá rộng, nhất là trong thời kỳ bung nở ồ ạt tác phẩm thơ với rất nhiều khuynh hướng và thử nghiệm. Việc đi sâu vào biện giải từng trào lưu, khuynh hướng, đánh giá thành tựu và hạn chế của giai đoạn thơ vẫn còn đang vận động và lưu chuyển này là việc làm rất khó, cần phải có thêm độ lùi thời gian. Chúng tôi chỉ đặt ra mục tiêu bằng cái nhìn khách quan và bao quát, vẽ lên những nét cơ bản về diện mạo cũng như khái quát một số đặc điểm về nội dung và nghệ thuật biểu hiện của thơ Việt Nam đầu thế kỷ XXI (tính từ năm 2000 đến năm 2015).

1.1. Lý do chọn đề tài Phân tích bối cảnh và sự cần thiết

Thơ là một thể loại có lịch sử lâu dài, trở thành hình thức nghệ thuật hầu như ai cũng biết đến. Cho dù những năm gần đây thơ không đạt được thành tựu như tiểu thuyết và cũng không được độc giả chào đón mặn nồng như trước nhưng thơ vẫn là phương tiện hữu hiệu nhất bộc lộ đời sống tâm hồn của con người thời nay, vẫn là một thể loại không thể không quan tâm trong nghiên cứu, phê bình văn học. Những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, đất nước mở cửa hòa nhập với thế giới; các lý thuyết, trường phái thơ từ thế giới bên ngoài tràn vào khuấy động nền thơ trong nước tạo tiền đề cho sự phát triển một giai đoạn thơ mới. Bước vào thế kỷ XXI, bắt đầu từ năm bản lề năm 2000, một không gian văn học mới được mở ra: không gian văn học mạng với nhiều website, blog văn học ra đời, việc truyền bá cũng như tiếp cận tác phẩm trở nên dễ dàng. Môi trường mạng còn là nơi gặp gỡ giao lưu giữa văn học trong nước và ngoài nước, là diễn đàn trao đổi học thuật sôi nổi. Môi trường văn hóa như vậy làm nảy sinh cách cảm, cách nghĩ, cách thể hiện mới. Nhiều người làm thơ ấp ủ hoài bão sáng tạo và thử nghiệm những lối thơ khác lạ. Vậy sau gần hai thập kỷ (tính từ năm 2000) thơ Việt đã có bước phát triển như thế nào, liệu có thể làm nên một cuộc cách mạng thơ như đầu thế kỉ trước? Đó là câu hỏi cần lời giải đáp.

1.2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu Xác định phạm vi hướng đi

Thơ Việt Nam những năm đầu thế kỷ là một dòng thơ còn đang chuyển động, do đó chưa có nhiều đánh giá khách quan khái quát cũng như những nghiên cứu chuyên sâu. Người viết đã khảo sát và bao quát một thực tiễn sáng tác rộng lớn để phác thảo diện mạo cũng như đặc điểm của giai đoạn thơ này để bổ sung phần nào vào chỗ trống trong nghiên cứu về thơ đương đại trong tiến trình văn học sử. Qua việc khảo sát, nghiên cứu diện mạo, đặc điểm thơ những năm đầu thế kỷ XXI, chúng tôi có cơ sở so sánh thơ giai đoạn này với thơ các giai đoạn trước đặc biệt là giai đoạn đổi mới thơ cuối thế kỷ XX, để xem thơ những năm đầu thế kỷ XXI chỉ là một vệt kéo dài của thơ cuối thế kỷ XX hay là đã có được những sự thay đổi đột phá của một nền thơ mới. Nhiệm vụ nghiên cứu Từ mục đích nghiên cứu trên, luận án đặt ra những nhiệm vụ cụ thể như sau: Khái quát những nét chung của thơ Việt Nam đầu thế kỷ XXI qua việc khảo sát lực lượng sáng tác và sự vận động của quan niệm nghệ thuật; tình hình đổi mới thơ và những khuynh hướng sáng tạo chính của thơ giai đoạn này. Tìm hiểu những đặc điểm nổi bật về nội dung cũng như nghệ thuật của thơ Việt Nam đầu thế kỷ XXI. Từ đó đưa ra những đánh giá khách quan những thành tựu cũng như những hạn chế của thơ giai đoạn này.

II. Thách thức của Thơ Đương Đại Việt Nam Cách tân và hội nhập 58 ký tự

Đánh giá thơ đầu thế kỷ XXI cho đến nay còn có nhiều ý kiến trái chiều. Trong kỷ yếu hội thảo Thơ Việt hiện đại nhìn từ miền Trung, nhiều ý kiến tỏ ra bi quan "thơ đang có vấn đề và cần đổi mới nó" (Hữu Thỉnh), "tình trạng vè hóa thơ, cũ hóa, văn xuôi hóa thơ" (Nguyễn Trọng Tạo), "thơ của chúng ta èo uột, làng nhàng, thiếu bứt phá, thiếu thăng hoa" (Nguyễn Hoàng Đức), "Cái khó mà thơ lâm phải hiện nay là thời kỳ giáp hạt tư tưởng, sự khủng hoảng của nó cũng do đó mà ra. Nghĩa là diện mạo thơ nhợt nhạt, cũ kỹ, không có gì đáng để bàn. Như ở chiều ngược lại, Đông Hà lại cho rằng thơ nói riêng và văn chương đầu thế kỷ XXI nói chung có diện mạo đa màu sắc: "nhìn một cách khái quát, văn chương Việt đang mang một diện mạo đa màu sắc. Có thứ văn chương giải trí, văn chương giãi bày, văn chương dưỡng già, văn chương phô diễn và văn chương nghề nghiệp" [dẫn theo Lê Minh Phong, 150]. Đồng quan điểm, nhà thơ, nhà nghiên cứu văn hóa Inrasara còn cho rằng thơ đương đại đang vận động và phát triển không ngừng, nhưng phê bình hiện đại thì không theo kịp sự phát triển của thơ để làm nhiệm vụ cầu nối giữa thơ và công chúng: “Các nhà thơ đương đại không viết khi đã xác định con đường, hay nói theo giọng thời thượng - khi đã "tìm thấy mình", mà vừa viết vừa tự khám phá chính mình… Họ viết - thế thôi. Liên tục chuyển động và thay đổi. Không nhiều nhà phê bình nhận ra điều đó. Rất ít nhà phê bình theo kịp sự chuyển động của họ. Không theo kịp, nhà phê bình mãi ở lại căn chòi mĩ học cũ để nhìn về thơ đương đại, nhận định và phán xét nó.

2.1. Các khuynh hướng vận động của thơ Bảo tồn cách tân và kế thừa

Về xu hướng phát triển thơ Việt Nam đầu thế kỷ XXI, nhiều người cho rằng, thơ đang vận động với nhiều xu hướng, khuynh hướng với nhiều trào lưu và trường phái. Trong bài viết Ba khuynh hướng vận động của thơ Việt Nam đương đại, Nguyễn Thanh Tâm căn cứ trên những biểu hiện về mặt quan niệm thơ, cách kiến tạo thi ảnh, các phương tiện cấu trúc thi giới, những ứng xử với ngôn ngữ, những động hình của tư duy và mỹ cảm. nhận định thơ Việt Nam sau 1975 vận hành theo ba khuynh hướng lớn: Khuynh hướng bảo tồn những giá trị thơ truyền thống/ Khuynh hướng cách tân/ Khuynh hướng cách tân trên cơ sở kế thừa truyền thống. Khuynh hướng cách tân lại có thể chia ra hai hướng chuyển động - cách tân về nội dung thể tài, thi hứng và cách tân về hình thức ngôn ngữ thi ca. Nhưng đồng thời Nguyễn Thanh Tâm cũng nhận thấy việc chia thành ba khuynh hướng như vậy chỉ có tính chất tương đối vì “tác giả của khuynh hướng này có lúc, có chỗ lại giao thoa, thâm nhập vào khuynh hướng khác, không phải là những khuôn hình cố định, bất biến”. Ngoài cách chia này, theo tác giả còn có thể chia khuynh hướng phát triển của thơ theo nhiều tiêu chí khác nữa. Từ góc độ thể loại, có thể thấy thơ Việt sau 1975 rẽ làm hai nhánh: phát huy thế mạnh của các thể loại đã có/ sáng tạo hình thức thể loại mới.

2.2. Tranh cãi về Thơ Hậu Hiện Đại Phản đối ca ngợi và cái nhìn toàn diện

Sự xuất hiện của thơ hậu hiện đại vào cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI khiến cho phê bình văn học sôi động hẳn lên. Cuộc trao đổi - đối thoại về chủ nghĩa hậu hiện đại trên phương diện lý thuyết và biểu hiện thực tế của nó trong văn học Việt Nam tạo thành một sự kiện đáng chú ý trên một số diễn đàn, gồm cả báo mạng internet và báo viết. Báo điện tử Tổ quốc có các bài viết: “Câu chuyện về một kiểu cắt nghĩa xã hội” (Lã Nguyên), “Văn chương Hậu hiện đại, nhìn từ góc độ sáng tác” (Lê Anh Hoài), “Đối thoại về con đường đi vào văn chương hậu hiện đại Việt Nam” (Inrasara), “Một cái nhìn về thực tiễn văn chương hậu hiện đại” (Phùng Gia Thế). Tạp chí Hồng Lĩnh cũng đăng loạt bài: “Tiếp nhận những cách tân của chủ nghĩa hiện đại và hậu hiện đại” (Hoàng Ngọc Hiến), “Về lối viết hậu hiện đại trong văn học ta” (Hà Quảng). Bản tin Lý luận phê bình văn học nghệ thuật số 10/2009 có bài: “Nhận biết về chủ nghĩa hậu hiện đại trong nghệ thuật” (Hồ Sĩ Vịnh). Đến cuối thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI, nhận diện phê bình văn học hậu hiện đại (trong đó có nhận diện, phê bình thơ hậu hiện đại) ở nước ta tạo thành một vệt đậm và gây chú ý cả các tác giả ở hải ngoại. Nhìn chung các ý kiến đánh giá về thơ hậu hiện đại có thể quy về ba nhóm. Nhóm thứ nhất kịch liệt phản đối loại thơ này. Nhà nghiên cứu Nguyễn Hoà thì cho rằng: “hậu hiện đại là một cái áo quá rộng cho một cơ thể còm” và đề xuất “hãy đi hết hiện đại đã rồi hãy nghĩ đến hậu hiện đại” [58].

III. Lực Lượng Sáng Tác Thơ Việt Nam Đầu Thế Kỷ 21 56 ký tự

Giữa lực lượng sáng tác và số lượng tác phẩm có mối quan hệ tỷ lệ thuận. Cứ nhìn vào lượng tác phẩm đồ sộ trên thi đàn trong những năm gần đây cũng có thể nghĩ đến một lực lượng những nhà sáng tác vô cùng đông đảo. Chu Văn Sơn cho rằng: “Một thế hệ văn học thực sự phải là chủ thể cốt lõi của một chặng đường văn học. Đó là một lớp người cầm bút được kết nối bởi cùng một hệ giá trị chung của thời mình. Họ vừa là kẻ sản sinh lại vừa là con đẻ của hệ giá trị đó” [165, tr. Nhà nghiên cứu cũng cho rằng, trong mỗi chặng đường văn học lớn, lực lượng sáng tác có cơ cấu gồm “ba lớp người được phân vai khá rõ, tạm gọi là lớp trước, lớp giữa và lớp sau”. Trong đó, lớp trước, vốn là chủ lực của chặng trước. Họ là đại diện cho một hệ giá trị đã lên ngôi và ngự trị giai đoạn trước đó. Có thể có người đến lúc này vẫn còn tỏa sáng hoặc, có người mãi khi này mới bừng sáng nhưng về căn bản, độ sung sức nhất trong ngòi bút của cả thế hệ đã ở sau lưng. Có thể có cá nhân tinh anh nào đó của lớp ấy còn tự phủ định, tự lột xác, tự dò đường để tiếp tục thắp sáng trong hệ giá trị mới nhưng rất hiếm.

3.1. Thế hệ trưởng thành từ kháng chiến chống Mỹ Di sản và ảnh hưởng

Đây là những nhà thơ phần lớn thuộc thế hệ 3X, 4X, (có những người thuộc thế hệ 2X) đã bắt đầu sáng tác và phần lớn là thành danh từ thời kỳ chống Mỹ, thậm chí là từ chống Pháp trước đó như Nguyễn Đình Thi, Lê Đạt, Gia Ninh. Trong thế hệ những nhà thơ này có thể kể đến các tên tuổi như: Thanh Thảo, Nguyễn Khoa Điềm, Ý Nhi, Hữu Thỉnh, Nguyễn Duy, Y Phương, Bằng Việt, Trần Nhuận Minh; Thi Hoàng; Vũ Quần Phương, Nguyễn Đức Mậu, Mã Giang Lân; Nguyễn Xuân Thâm; Vũ Từ Trang; Hoàng Trần Cương, Vân Long, Chử Văn Long, Lê Văn Ngăn, Nguyễn Trọng Tạo, Thanh Tùng, Bùi Minh Quốc, Trần Nhật Lam… Thế hệ các nhà thơ này còn lại không nhiều nhưng không thể phủ nhận những đóng góp của họ cho thơ Việt những năm đầu thế kỷ XXI. Giống như ánh hoàng hôn rực rỡ trước khi nhường bước cho một bình minh khác sẽ ló rạng, thế hệ nhà thơ này vẫn trình làng những thi phẩm xôn xao thi đàn như: Tìm trầm – Nguyễn Xuân Thâm, Một ngọn đèn xanh – Trúc Thông; Sóng và khoảng lặng – Từ Quốc Hoài; Cõi lặng – Nguyễn Khoa Điềm, Trường ca Chân đất – Thanh Thảo, Những lớp sóng ngôn từ - Mã Giang Lân, Nheo mắt nhìn thế giới – Bằng Việt, Bản Xô-nat hoang dã, Miền dân gian mây trắng – Trần Nhuận Minh, Thương lượng với thời gian – Hữu Thỉnh, U75. Từ tình, Đường chữ - Lê Đạt, Trường ca Long mạch – Hoàng Trần Cương,… Qua thống kê, trong danh sách 65 tác giả có tác phẩm đạt giải thưởng, tặng thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Nhà văn Hà Nội, Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh và một số giải thưởng tư nhân như giải Bách Việt, Lá Trầu từ năm 2000 đến năm 2015 thì có tới 25 nhà thơ thuộc thế hệ 4X (chiếm 38,5% số tác giả đạt giải). Con số đó đã khẳng định vị thế không nhỏ của các nhà thơ thế hệ 4X trên thi đàn đầu thế kỷ XXI.

3.2. Thế hệ 5X 6X trưởng thành sau 1975 Chủ lực của thi đàn

Thế hệ này có các tên tuổi như: Mai Văn Phấn, Dương Kiều Minh, Nguyễn Quang Thiều, Mai Quỳnh Nam, Đặng Thị Thanh Hương, Trần Tiến Dũng, Inrasara, Trần Quang Quý, Nguyễn Bình Phương, Trần Anh Thái, Thảo Phương, Mai Linh, Nguyễn Linh Khiếu, Phạm Công Trứ, Đặng Huy Giang, Trần Tuấn, Giáng Vân, Tuyết Nga, Lê Thị Kim, Thu Nguyệt, Phạm Thị Ngọc Liên, Nguyễn Thị Ánh Huỳnh, Lê Thị Mây, Nguyễn Huy Hoàng, Nguyễn Đức Tùng, Phan Nhiên Hạo, Trương Đăng Dung, Đỗ Minh Tuấn, Lê Vĩnh Tài, Đinh Thị Như Thúy, Thu Nguyệt, Đỗ Bạch Mai, Phan Hoàng, Bùi Hoàng Tám, Đỗ Trọng Khơi, Lãng Thanh, Lê Khánh Mai, Lương Ngọc An, Nguyễn Hữu Quý, Nguyễn Trọng Văn, Nông Thị Ngọc Hòa, Trần Thị Huyền Trang, Trịnh Bửu Hoài, Trang Thanh, Hoàng Việt Hằng, Nguyễn Thị Ngọc Hà, Bùi Tuấn Anh, Trần Kim Anh,… Ngoài ra, cũng có thể kể đến những nhà thơ sinh trước đó một chút (thuộc thế hệ 4X) nhưng bước vào con đường sáng tác muộn và thơ họ chỉ được biết đến từ sau 1975 như Đồng Đức Bốn, Trần Quốc Thực, Lê Thành Nghị, Hoàng Vũ Thuật,…. Đây là thế hệ các nhà thơ chủ đạo trên thi đàn hiện nay và có những đóng góp đáng kể cho nền thơ đầu thế kỷ XXI. Có thể thấy rõ điều này qua bảng thống kê các tác phẩm thơ đạt giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam, Hội nhà văn Hà Nội, Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh và một số giải thưởng tư nhân khác (xem Phụ lục). Trong số 65 nhà thơ đạt giải thưởng, tặng thưởng uy tín từ năm 2000 đến nay thì có 25 nhà thơ thuộc thế hệ 4X trở về trước; 31 nhà thơ thuộc thế hệ 5X, 6X; 09 nhà thơ thuộc thế hệ 7X, 8X, qua đó có thể thấy phần lớn các tác phẩm đạt được giải thưởng là của các nhà thơ thế hệ 5X, 6X. Điều này không có gì ngạc nhiên bởi thế hệ các nhà thơ này đang ở độ chín của tài năng cũng như độ từng trải.

IV. Đa Dạng Hoạt Động Thơ Hội nhập Mạng Xã Hội 51 ký tự

Khi nói đến lực lượng sáng tác của một giai đoạn thơ, không thể không đề cập đến cách thức sinh hoạt thơ của họ. Môi trường sinh hoạt thơ hiện nay được mở rộng, đa dạng, sinh động và dân chủ hơn rất nhiều so với trước. Các hình thức sinh hoạt thơ cũ như tổ chức các trại sáng tác, các cuộc thi thơ của một số tờ báo uy tín như Văn nghệ, các hội thảo văn học, hay giải thưởng thơ hàng năm của Hội Nhà văn vẫn được duy trì. Bên cạnh đó, sự ra đời một số giải thưởng tư nhân như Lá trầu, Bách Việt (tuy không tồn tại được lâu dài) nhằm tôn vinh những sáng tạo mới cũng tạo động lực cho sáng tác thơ, đặc biệt là thơ cách tân. Bàn tròn văn chương là hình thức sinh hoạt văn học dân chủ rộ lên trong những năm gần đây thu hút được nhiều nhà văn, nhà thơ (cả trong và ngoài Hội Nhà văn Việt Nam, có tên tuổi hay chưa tên tuổi), nhà nghiên cứu, nhà báo trong toàn quốc. Ở đây không có sự phân biệt xu hướng sáng tác, miễn các thành viên đều đọc tác phẩm của nhau và tuân thủ một số quy ước của Bàn tròn văn chương.

4.1. Các hình thức sinh hoạt thơ truyền thống Trại sáng tác cuộc thi...

Môi trường sinh hoạt thơ hiện nay được mở rộng, đa dạng, sinh động và dân chủ hơn rất nhiều so với trước. Các hình thức sinh hoạt thơ cũ như tổ chức các trại sáng tác, các cuộc thi thơ của một số tờ báo uy tín như Văn nghệ, các hội thảo văn học, hay giải thưởng thơ hàng năm của Hội Nhà văn vẫn được duy trì. Bên cạnh đó, sự ra đời một số giải thưởng tư nhân như Lá trầu, Bách Việt (tuy không tồn tại được lâu dài) nhằm tôn vinh những sáng tạo mới cũng tạo động lực cho sáng tác thơ, đặc biệt là thơ cách tân. Bàn tròn văn chương là hình thức sinh hoạt văn học dân chủ rộ lên trong những năm gần đây thu hút được nhiều nhà văn, nhà thơ (cả trong và ngoài Hội Nhà văn Việt Nam, có tên tuổi hay chưa tên tuổi), nhà nghiên cứu, nhà báo trong toàn quốc. Ở đây không có sự phân biệt xu hướng sáng tác, miễn các thành viên đều đọc tác phẩm của nhau và tuân thủ một số quy ước của Bàn tròn văn chương.

4.2. Ảnh hưởng của Internet Không gian sáng tạo và quảng bá mới

Yếu tố làm thay đổi căn bản cách thức sinh hoạt thơ trong những năm đầu thế kỷ XXI đó chính là Internet. Internet với khả năng cho phép tiếp cận với kho tri thức phong phú của nhân loại, khả năng tương tác rộng lớn và ngay lập tức đã tác động to lớn đến nhận thức và sáng tác của người làm thơ hiện nay (trừ một bộ phận nhà thơ thuộc thế hệ 4X trở về trước do tuổi tác và hạn chế hiểu biết về công nghệ mà ít chịu ảnh hưởng từ môi trường mạng). Trước hết, môi trường mạng đã đem đến cho người viết một không gian sáng tạo và quảng bá tác phẩm mới. Nhiều nhà thơ đã tận dụng tính chất tự do, tính chất không bị chi phối bởi sự kiểm duyệt để triển khai những thực hành nghệ thuật của mình trên cả hai phương diện tư tưởng và thi pháp. Qua một số trang web văn học như tanhinhthuc.com, hoặc các blog chuyên về hậu hiện đại trên nền tảng blog.com, một số khuynh hướng, trào lưu văn học Việt Nam đang dần hình thành và được cổ vũ bởi các trang mạng. Một số khuynh hướng, trào lưu mới có tính chất cách tân quyết liệt nền văn học nước nhà như thơ tân hình thức, thơ đọc, thơ kể, thơ trình diễn, thơ hậu hiện đại. Một số khuynh hướng, trào lưu khác lại ra sức phục hưng và nhuận sắc cách tân cho các thể thơ truyền thống như thơ lục bát.

V. Đánh giá thành tựu và Hạn chế của Thơ Đương Đại 53 ký tự

Từ việc nghiên cứu tổng quan về thơ Việt Nam đầu thế kỷ XXI, chúng tôi nhận thấy: Thứ nhất, thơ Việt Nam đài thế kỷ XXI chưa thực sự được nghiên cứu như một giai đoạn thơ với những đặc điểm và diện mạo riêng đáng chú ý. Các nhà nghiên cứu, phê bình phần lớn ghép giai đoạn thơ này vào giai đoạn thơ Việt Nam sau 1975 hoặc sau 1986 và gọi chung là thơ đương đại; bởi vậy chưa thấy được nét riêng của thơ giai đoạn này. Thứ hai, chưa có công trình khảo cứu chuyên sâu về thơ Việt Nam đầu thế kỷ XXI (về tổng quan cũng như về một khía cạnh cụ thể của nội dung và nghệ thuật). Mới chỉ có một số bài viết nhỏ và cũng chỉ dừng lại ở việc nêu những nhận định chủ quan, chưa có những khảo cứu chuyên sâu để chứng minh cho nhận định; do đó, tất yếu dẫn đến những ý kiến đánh giá trái chiều về thơ giai đoạn này.

5.1. Thiếu nghiên cứu chuyên sâu Đánh giá còn tản mát chủ quan

Từ việc nghiên cứu tổng quan về thơ Việt Nam đầu thế kỷ XXI, chúng tôi nhận thấy: Thứ nhất, thơ Việt Nam đài thế kỷ XXI chưa thực sự được nghiên cứu như một giai đoạn thơ với những đặc điểm và diện mạo riêng đáng chú ý. Các nhà nghiên cứu, phê bình phần lớn ghép giai đoạn thơ này vào giai đoạn thơ Việt Nam sau 1975 hoặc sau 1986 và gọi chung là thơ đương đại; bởi vậy chưa thấy được nét riêng của thơ giai đoạn này. Thứ hai, chưa có công trình khảo cứu chuyên sâu về thơ Việt Nam đầu thế kỷ XXI (về tổng quan cũng như về một khía cạnh cụ thể của nội dung và nghệ thuật). Mới chỉ có một số bài viết nhỏ và cũng chỉ dừng lại ở việc nêu những nhận định chủ quan, chưa có những khảo cứu chuyên sâu để chứng minh cho nhận định; do đó, tất yếu dẫn đến những ý kiến đánh giá trái chiều về thơ giai đoạn này.

5.2. Tác giả và Tác phẩm tiêu biểu Nguồn tư liệu quan trọng

Phần nhiều các bài viết liên quan đến thơ Việt Nam đầu thế kỷ XXI là bàn về tác giả tiêu biểu và tác phẩm tiêu biểu. Đó là các nguồn tư liệu quan trọng giúp chúng tôi hình dung về diện mạo và đặc điểm của cả giai đoạn thơ. Từ thực tế trên, một khảo cứu chuyên sâu về thơ Việt Nam đầu thế kỷ XXI là rất cần thiết để phác họa những nét chung nhất về diện mạo và đặc điểm của giai đoạn thơ. Và đó cũng chính là nhiệm vụ của luận án.

02/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của luận án đƣợc triển khai qua bốn chƣơng: - Chƣơng 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu - Chƣơng 2: Khái quát thơ Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI - Chƣơng 3. Những chuyển động của nội dung thơ Việt Nam đầu thế kỷ XXI. Đa dạng hóa nghệ thuật biểu hiện 7 download by : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Thơ đầu thế kỷ XXI đang vận động, do đó hầu nhƣ chƣa có công trình khảo cứu chuyên sâu về nó. Có chăng, nó chỉ xuất hiện thoáng qua trong các công trình nghiên cứu về thơ sau 1975 hoặc thơ sau đổi mới 1986.

Tuy nhiên các tiểu luận, các bài viết nhỏ bàn về thơ đầu thế kỷ XXI đăng trên tạp chí chuyên ngành, diễn đàn văn nghệ, blog, website văn học lại vô cùng phong phú. Qua nghiên cứu tƣ liệu chúng tôi thấy có 3 xu hƣớng nghiên cứu: thứ nhất là những đánh giá chung về thơ giai đoạn này; thứ hai là những nhận định về một số đặc điểm nội dung, nghệ thuật của giai đoạn thơ, và thứ ba là những nghiên cứu về tác giả hoặc tác phẩm cụ thể. Những đánh giá chung về thơ Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI Đánh giá thơ đầu thế kỷ XXI cho đến nay còn có nhiều ý kiến trái chiều. Trong kỷ yếu hội thảo Thơ Việt hiện đại nhìn từ miền Trung [124], nhiều ý kiến tỏ ra bi quan “thơ đang có vấn đề và cần đổi mới nó” (Hữu Thỉnh), “tình trạng vè hóa thơ, cũ hóa, văn xuôi hóa thơ” (Nguyễn Trọng Tạo), “thơ của chúng ta èo uột, làng nhàng, thiếu bứt phá, thiếu thăng hoa” (Nguyễn Hoàng Đức), “Cái khó mà thơ lâm phải hiện nay là thời kỳ giáp hạt tƣ tƣởng, sự khủng hoảng của nó cũng do đó mà ra.

Nghĩa là diện mạo thơ nhợt nhạt, cũ kỹ, không có gì đáng để bàn. Nhƣng ở chiều ngƣợc lại, Đông Hà lại cho rằng thơ nói riêng và văn chƣơng đầu thế kỷ XXI nói chung có diện mạo đa màu sắc: “nhìn một cách khái quát, văn chƣơng Việt đang mang một diện mạo đa màu sắc. Có thứ văn chƣơng giải trí, văn chƣơng giãi bày, văn chƣơng dƣỡng già, văn chƣơng phô diễn và văn chƣơng nghề nghiệp” [dẫn theo Lê Minh Phong, 150]. Đồng quan điểm, nhà thơ, nhà nghiên cứu văn hóa Inrasara còn cho rằng thơ đƣơng đại đang vận động và phát triển không 8 download by : skknchat@gmail.com ngừng, nhƣng phê bình hiện đại thì không theo kịp sự phát triển của thơ để làm nhiệm vụ cầu nối giữa thơ và công chúng: “Các nhà thơ đƣơng đại không viết khi đã xác định con đƣờng, hay nói theo giọng thời thƣợng - khi đã "tìm thấy mình", mà vừa viết vừa tự khám phá chính mình… Họ viết - thế thôi.

Liên tục chuyển động và thay đổi. Không nhiều nhà phê bình nhận ra điều đó. Rất ít nhà phê bình theo kịp sự chuyển động của họ. Không theo kịp, nhà phê bình mãi ở lại căn chòi mĩ học cũ để nhìn về thơ đƣơng đại, nhận định và phán xét nó.

Về xu hướng phát triển thơ Việt Nam đầu thế kỷ XXI, nhiều ngƣời cho rằng, thơ đang vận động với nhiều xu hƣớng, khuynh hƣớng với nhiều trào lƣu và trƣờng phái. Trong bài viết Ba khuynh hướng vận động của thơ Việt Nam đương đại, Nguyễn Thanh Tâm căn cứ trên những biểu hiện về mặt quan niệm thơ, cách kiến tạo thi ảnh, các phƣơng tiện cấu trúc thi giới, những ứng xử với ngôn ngữ, những động hình của tƣ duy và mỹ cảm. nhận định thơ Việt Nam sau 1975 vận hành theo ba khuynh hƣớng lớn: Khuynh hƣớng bảo tồn những giá trị thơ truyền thống/ Khuynh hƣớng cách tân/ Khuynh hƣớng cách tân trên cơ sở kế thừa truyền thống. Khuynh hƣớng cách tân lại có thể chia ra hai hƣớng chuyển động - cách tân về nội dung thể tài, thi hứng và cách tân về hình thức ngôn ngữ thi ca.

Nhƣng đồng thời Nguyễn Thanh Tâm cũng nhận thấy việc chia thành ba khuynh hƣớng nhƣ vậy chỉ có tính chất tƣơng đối vì “tác giả của khuynh hƣớng này có lúc, có chỗ lại giao thoa, thâm nhập vào khuynh hƣớng khác, không phải là những khuôn hình cố định, bất biến”. Ngoài cách chia này, theo tác giả còn có thể chia khuynh hƣớng phát triển của thơ theo nhiều tiêu chí khác nữa. Từ góc độ thể loại, có thể thấy thơ Việt sau 1975 rẽ làm hai nhánh: phát huy thế mạnh của các thể loại đã có/ sáng tạo hình thức thể loại mới. Từ phƣơng pháp sáng tác, thi pháp có thể thấy sự hiện diện của thơ cổ điển, lãng mạn, tƣợng trƣng, siêu thực, tân cổ điển,.

Từ góc độ ngƣời tiếp nhận lại có thể nhận thấy hai hiện trạng: thơ dành cho đại chúng (văn học phổ thông) và thơ chỉ dành cho những tầng lớp tinh tuyển - thơ khó. Từ lý thuyết hệ hình lại có thể nhận ra dấu vết của kiểu thơ thuộc hệ hình Tiền hiện đại/ Hiện đại/ Hậu hiện đại [174]. Inrasara nhìn ở góc độ các trào lƣu văn học thì chia thơ Việt đầu thế kỷ XXI ra 5 trào lƣu chính: Thơ “cổ truyền”, thơ tân hình thức (new formalism poetry, thơ 9 download by : skknchat@gmail.com nữ quyền luận, thơ thị giác (visual poetry) trong đó thơ trình diễn (poetry performance) là một nhánh nổi bật, trào lƣu thơ hậu hiện đại” [70]. Trong các trào lƣu thơ đó, trào lƣu hậu hiện đại nhận đƣợc sự quan tâm của đông đảo giới phê bình cũng nhƣ bản thân các nhà thơ.

Sự xuất hiện của thơ hậu hiện đại vào cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI khiến cho phê bình văn học sôi động hẳn lên. Cuộc trao đổi - đối thoại về chủ nghĩa hậu hiện đại trên phƣơng diện lý thuyết và biểu hiện thực tế của nó trong văn học Việt Nam tạo thành một sự kiện đáng chú ý trên một số diễn đàn, gồm cả báo mạng internet và báo viết. Báo điện tử Tổ quốc có các bài viết: “Câu chuyện về một kiểu cắt nghĩa xã hội” (Lã Nguyên), “Văn chƣơng Hậu hiện đại, nhìn từ góc độ sáng tác” (Lê Anh Hoài), “Đối thoại về con đƣờng đi vào văn chƣơng hậu hiện đại Việt Nam” (Inrasara), “Một cái nhìn về thực tiễn văn chƣơng hậu hiện đại” (Phùng Gia Thế). Tạp chí Hồng Lĩnh cũng đăng loạt bài: “Tiếp nhận những cách tân của chủ nghĩa hiện đại và hậu hiện đại” (Hoàng Ngọc Hiến), “Về lối viết hậu hiện đại trong văn học ta” (Hà Quảng).

Bản tin Lý luận phê bình văn học nghệ thuật số 10/2009 có bài: “Nhận biết về chủ nghĩa hậu hiện đại trong nghệ thuật” (Hồ Sĩ Vịnh). Đến cuối thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI, nhận diện phê bình văn học hậu hiện đại (trong đó có nhận diện, phê bình thơ hậu hiện đại) ở nƣớc ta tạo thành một vệt đậm và gây chú ý cả các tác giả ở hải ngoại. Nhìn chung các ý kiến đánh giá về thơ hậu hiện đại có thể quy về ba nhóm. Nhóm thứ nhất kịch liệt phản đối loại thơ này.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Hoà thì cho rằng: “hậu hiện đại là một cái áo quá rộng cho một cơ thể còm” và đề xuất “hãy đi hết hiện đại đã rồi hãy nghĩ đến hậu hiện đại” [58]. Nhà phê bình Đỗ Ngọc Yên thì cho thơ cách tân (hiện đại, hậu hiện đại) chỉ là một mớ hỗn độn “nhân danh cách tân nhiều ngƣời đã cho ra đời một thứ chẳng biết gọi là gì: văn nói, ghi chép, nhật ký,. chỉ biết rằng nó giống nhƣ món “óc sống” khiến công chúng không thể nào tiêu hóa nổi” [216]. Ở phía bên kia, Inrasara là ngƣời nhiệt thành ca ngợi thơ hậu hiện đại: “Thơ hậu hiện đại là trò chơi địa phƣơng của những kẻ tự nguyện sáng tác ngoài lề trong thời đại toàn cầu hóa.

Với tinh thần phá chấp triệt để qua tầm nhìn rộng mở và thái độ dân chủ tuyệt đối, thế hệ nhà thơ hậu hiện đại hôm nay là kẻ sáng tạo tiền vệ đang đổi mới thơ Việt, đổi mới cách viết và cách đọc, qua đó thúc đẩy công cuộc 10 download by : skknchat@gmail.com giải lãnh thổ hoá deterritorialize, giải quốc gia hoá denationalize và giải địa phƣơng hóa delocalize văn học. Họ đang có đó, nhƣ một hiện tƣợng” [71]. Thậm chí Inrasara còn kỳ vọng thơ hậu hiện đại có thể “làm một cuộc cách mạng cho thơ Việt” [71]. Một số nhà nghiên cứu thì có cái nhìn toàn diện hơn, một mặt họ thừa nhận những sáng tạo thơ theo lối hiện đại và hậu hiện đại là những nỗ lực đáng đƣợc trân trọng trong hành trình cách tân thơ Việt, có những tác phẩm thực sự giá trị; mặt khác họ phê phán những sáng tạo cực đoan đang phá hoại giá trị thẩm mĩ của thơ ca.

Nguyễn Thanh Tâm trong bài viết Bắt mạch thơ hiện nay một mặt “quả quyết rằng thơ hiện nay có nhiều sự cách tân, và sự thật có nhiều cách tân có giá trị, có không ít bài thơ, tập thơ hay đƣợc công chúng đánh giá cao” nhƣng mặt khác tác giả cũng chỉ ra hiện trạng cũng còn nhiều ngƣời nhân danh sáng tạo, cách tân đẩy thơ đến cực đoan, bế tắc “Có bài thơ nhƣ là tiếng chửi, tục tĩu không chịu đƣợc. Có bài thơ ù lì, tăm tối nhƣ hũ nút, tịnh không một tín hiệu dẫn đƣờng nào đến ánh sáng nghệ thuật. Nhân danh vô thức, tiềm thức, nhân danh sự tạo nghĩa của ngôn từ trong những ngẫu hợp bất định, những tác giả này cho ra đời những văn bản “vô nghĩa lý”, siêu hình hết mức. Lại có những bài thơ đầy tính hận thù, hậm hực với tƣ tƣởng chính trị, văng đủ thứ trong thơ, lôi tuột tất cả ra vỉa hè, xuống lòng đƣờng để tung hô thứ triết lý sống hết sức tầm thƣờng” [172].

Về lực lượng sáng tác, nhiều nhà nghiên cứu ghi nhận vai trò của các nhà thơ trẻ. Trong bài viết Cách tân nghệ thuật và thơ trẻ đương đại, Lƣu Khánh Thơ nhận thấy nỗ lực làm mới của thơ trẻ: “Có thể thấy rằng thơ trẻ đang cố gắng để khác các thế hệ đi trƣớc. Cái mạnh của lớp trẻ hôm nay là họ đang tạo ra một không khí dân chủ trên thi đàn với nhiều giọng điệu, nhiều khuynh hƣớng. Họ đƣợc tự do trong cảm xúc, trong các cách thể hiện.

Hầu nhƣ đối với họ không có điều gì là cấm kỵ, không có điều gì phải né tránh. Dễ nhận thấy một điều rằng, những ngƣời làm thơ trẻ hôm nay hƣớng sự chú ý của mình vào việc khai thác tâm trạng cá nhân. Họ tinh tế, nhạy bén với những cảm xúc riêng tƣ, đơn lẻ nhƣng ít khi mở ra, vƣơn tới những vấn đề xã hội rộng lớn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ