CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở VIỆT NAM 1. Khái quát chung về thi hành án dân sự 1.1 Khái niệm thi hành án dân sự Theo giải thích của Từ điển Luật học, THADS bao gồm các hoạt động như cấp, chuyển giao bản án, quyết định dân sự, giải thích bản án, quyết định dân sự, tự thi hành án của người phải thi hành án, gửi đơn yêu cầu thi hành án, ra quyết định trả lại đơn yêu cầu thi hành án, quyết định áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án.[4] Theo các khái niệm như trên, hoạt động thi hành án dân sự là chuỗi hoạt động của các nhóm chủ thể: các chủ thể có liên quan trực tiếp đến phán quyết trong bản án, quyết định đó là sự đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; nhóm chủ thể đại diện cho quyền lực nhà nước, có trách nhiệm, nghĩa vụ bảo đảm hiệu lực thực tế của các bản án, quyết định, đó là cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên. Ngoài ra, còn liên quan tới cá nhân, cơ quan, tổ chức khác như các cơ quan, tổ chức trong việc phối hợp thi hành biện pháp cưỡng chế, các cá nhân, tổ chức nắm giữ thông tin về tài sản, thu thập của người thi hành án,… Hiện nay, trong khoa học pháp lý vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau khi bàn về thực chất của hoạt động thi hành án dân sự, trong đó có hai nhóm quan điểm chính của các nhà nghiên cứu Luật học của nước ta, cụ thể: Quan điểm thứ nhất: “Thi hành án dân sự là hoạt động tư pháp”[2] Quan điểm thứ hai: “Thi hành án dân sự là hoạt động hành chính – tư pháp”[10] Theo quan điểm thứ nhất thì: 6 Một là, THA là một giai đoạn tố tụng, theo quan điểm này thì nếu tách ra thì sẽ không thực hiện được mục tiêu chung của toàn bộ quá trình tố tụng. Việc làm sáng tỏ thể hiện trong bản án quyết định của TA mới dừng lại ở việc làm rõ đúng/sai, phải hay trái từ quyết định của TA.
Để thực hiện được việc phải chờ ở hiệu quả của công tác THA là tất nhiên, do đó, THA được cho là bước kế tiếp trong hoạt động xét xử. Như vậy, trong bước này, cơ quan THA áp dụng các biện pháp được PL quy định để đưa chân lý trở thành hiện thực ở thực tiễn. Hai là, theo quan điểm này thì THA là hoạt động bảo vệ pháp luật khác với bản chất của hoạt động hành chính là tổ chức và quản lý; Ba là, quyền định đoạt của đương sự luôn được pháp luật thừa nhận, bảo vệ trong quá trình THA. Đương sự có quyền tự nguyện thi hành án, có quyền thỏa thuận thi hành án ngay cả khi CHV đã áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án.
Do vậy, theo các quan điểm trên thì không thể tách giai đoạn thi hành án ra khỏi quá trình tố tụng mà phải coi là giai đoạn tố tụng. Theo quan điểm thứ hai thì: Thứ nhất, ở giai đoạn THA, tính chất tố tụng đã chấm dứt, chân lý đã được làm sáng tỏ, đúng/sai đã được phân xử rõ ràng. Cho dù, THA là quá trình tiến hành các hoạt động nhằm để các bản án, quyết định của TA đã có hiệu lực pháp luật phát sinh hiệu lực trên thực tế, song ở quá trình này, các chủ thể phải THA có thể tự thỏa thuận với người được thi hành án có thể tự thỏa thuận với người được thi hành án để tự thi hành hoặc thi hành dưới sự giám sát của cơ quan thi hành án; Hai là, thi hành án là giai đoạn diễn ra ngay sau giai đoạn xét xử và các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của TA, là cơ sở để tiến hành các hoạt động THA. Tuy nhiên, không thể coi đây là cơ sở pháp lý duy nhất mà mới chỉ là “điều kiện cần”, ngoài ra, để tiến hành thi hành án có hiệu quả cần phải có 7 thêm “điều kiện đủ” là các nguyên tắc, cách thức, thủ tục dựa trên các quy định cụ thể của pháp luật về thi hành án nữa.
Ba là, hoạt động THA là hoạt động của cơ quan nhà nước. Dẫu vậy, để tiếp cận với thế giới, hoạt động THA của một số lĩnh vực nào đó, thì Nhà nước có thể thực hiện qua hình thức xã hội hóa một số lĩnh vực này bằng các xây dựng hành lang pháp lý để thực hiện. Bốn là, hoạt động thi hành án là hoạt động có tính tố tụng đặc thù, mà chủ thể thực thi không phải là cơ quan TA. Năm là, pháp luật tố tụng dân sự không quy định chủ thể thi hành án là chủ thể tiến hành tố tụng dân sự.
Tính chất tố tụng dân sự trong thi hành án dân sự chiếm tỷ trọng rất nhỏ so với tính hành chính – tư pháp. Khi thực hiện thi hành án, tính chấp hành được đề cao có ý nghĩa chủ đạo và có tính chất như thủ tục THA chứ không mang tính chất tố tụng như trong thủ tục xét xử. Tóm lại, THA xét về bản chất không được coi là hoạt động tư pháp thuần tuý, mà mang tính chất hành chính tư pháp. Đối với hoạt động của THA còn là giai đoạn sau của xét xử, không có sứ mệnh xác định sự thật của vụ án mà chỉ thực thi phán quyết của TA.
Do đó, việc không nên coi hoạt động THA thuộc phạm vi của quyền tư pháp và cơ quan thi hành án, không phải là cơ quan tư pháp.[17] Có những quan điểm khác nhau như hai quan điểm trên vì xuất phát từ đặc thù của hoạt động thi hành án dân sự. Đây là hoạt động diễn ra sau hoạt động xét xử, nếu không có hoạt động xét xử thì cũng không có hoạt động thi hành án. Lý thuyết và thực tiễn qua việc thực hiện THA đã cho thấy, hoạt động của THA trước hết nhằm đảm bảo quyền lợi cho chủ thể có quyền trong bản án, quyết định THA, do đó, quyền định đoạt của đương sự trong các khâu của THA luôn được PL thừa nhận bảo vệ. Cơ quan có nhiệm vụ, quyền hạn tổ chức thực hiện việc thi hành án là cơ quan tư pháp, nhưng lại trực thuộc Chính phủ, 8 khi tổ chức việc thi hành án, cơ quan thi hành án không xem xét lại nội dung vụ việc, không có thẩm quyền để phán xét đúng sai, mà phải chấp hành đầy đủ các nội dung đã được phán quyết trong bản án, quyết định.
Do chưa xác định rõ thực chất của hoạt động thi hành án dân sự, chính vì vậy, vị trí và vai trò của cơ quan thi hành án dân sự cũng như cơ chế kiểm tra giám sát hoạt động thi hành án dân sự vẫn chưa có sự xác định rõ ràng, nhiều quy định chưa phù hợp với thông lệ chung trên thế giới. Ngày 14/11/2008, tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XII đã thông qua luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự, trong quá trình dự thảo cũng như qua các buổi hội thảo, tọa đàm, vấn đề cơ quan nào có thẩm quyền ra các quyết định về thi hành án là một trong những vấn đề còn tranh luận. Chính vì vậy, để nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự, về mặt pháp luật, cần thiết phải xác định rõ ràng thực chất của hoạt động thi hành án dân sự. Trong nghiên cứu này của mình, tác giả xin đưa ra khái niệm về thi hành án, khái niệm này chỉ phục vụ cho nghiên cứu trong khuôn khổ luận văn này, theo đó: “Thi hành án dân sự là hoạt động hành chính – tư pháp của cơ quan Nhà nước thực hiện, thi hành án tiến hành theo một trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật nhằm đảm bảo thi hành các bản án, quyết định về dân sự của Tòa án” Như vậy, việc thi hành án dân sự sẽ được thực hiện bởi cơ quan Nhà nước thực hiện, theo quy định của khoản 2.
Điều 13 Luật THADS 2008 (sửa đổi 2014, 2022 trong nghiên cứu này được trình bày là Luật THADS 2022 theo văn bản hợp nhất số 09/VBHN - VPQH), cơ quan THADS bao gồm: Thứ nhất, cơ quan THADS tỉnh, thành phố trực thuộc TW (cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh); Thứ hai, cơ quan THADS huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (cơ quan THADS sự cấp huyện); 9 Thứ ba, cơ quan THA quân khu và tương đương (cơ quan thi hành án cấp quân khu). Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, việc nghiên cứu THADS sự qua thực tiễn ở Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng thuộc trường hợp thứ nhất của quy định Điều 13, Luật THADS 20221.2 Đặc trưng của thi hành án dân sự Thi hành án dân sự có những đặc trưng cơ bản sau đây: Thứ nhất, THADS là một dạng hoạt động mang tính chất hành chính – tư pháp của Nhà nước nhằm thực hiện quyền lực Nhà nước trong hoạt động thuộc lĩnh vực tư pháp. Việc thực hiện các hoạt động trong THADS phải đảm bảo hiệu lực, quyết định quy định của Bản án. Ngoài ra, hoạt động THADS được thực hiện bởi cơ quan quản lý/cơ quan thực hiện của Nhà nước có nhiệm vụ, thẩm quyền được phân công thực thi pháp luật THADS theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, THADS là hoạt động có tính tài sản. Trong quan hệ dân sự, chủ yếu được điều chỉnh quan hệ có tính tài sản, do đó, quá trình thực hiện THADS cũng có tính tài sản, việc này thể hiện trong quá trình nhằm khôi phục lại trạng thái ban đầu về quyền, nghĩa vụ của các chủ thể. Có thể được hiểu là khôi phục lại quyền, lợi ích về tài sản của đối tượng thi hành án. Thứ ba, quy định về thủ tục THADS có liên quan mật thiết tới quyền con người.
Hoạt động THA trực tiếp tác động đến nhiều tổ chức, cá nhân khác nhau trong xã hội, và chủ yếu liên quan tới quyền về tài sản. Chính vì vậy, trong quá trình thực thi dễ dẫn đến việc xâm phạm tới quyền con người, do cần phải có các quy định thống nhất trong việc thực hiện bản án, quyết định của TA, cơ 1 Xem: Điều 13, Luật Thi hành án dân sự 2022. 10 quan có thẩm quyền khác.