Tổng quan nghiên cứu

Trong quản trị công hiện đại và phát triển xã hội bền vững, sự tham gia chủ động của người dân đóng vai trò then chốt đối với sự thành bại của các chính sách an sinh cơ sở. Tại địa bàn đô thị trung tâm như Phường 5, Quận 3, TP. Hồ Chí Minh với 4 khu phố và 65 tổ dân phố, các báo cáo hành chính năm 2017 ghi nhận hơn 90% hộ gia đình đăng ký tham gia Cuộc vận động "Xây dựng gia đình 5 không 3 sạch" do Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phát động. Mặc dù địa phương đã phát hành hơn 3.313 tờ bướm tuyên truyền, kết quả khảo sát thực tế vào Quý 1 năm 2019 lại chỉ ra một khoảng cách đáng kể khi có đến 71,9% phụ nữ hoàn toàn không nắm rõ nội dung 8 tiêu chí của phong trào.

Thực trạng đối lập giữa số liệu thành tích hành chính và mức độ can dự thực chất của cộng đồng đặt ra bài toán cấp thiết về hiệu quả quản lý nhà nước tại cơ sở. Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý công của tác giả Nguyễn Thị Luyến, dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Tiến Khai tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, tập trung đánh giá toàn diện mức độ tham gia, làm rõ các rào cản xã hội và xác định các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi của phụ nữ trên địa bàn. Nghiên cứu được triển khai trên cỡ mẫu 160 phụ nữ tại 40 tổ dân phố trong Quý 1/2019. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện qua việc cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác, hỗ trợ chính quyền địa phương tái cấu trúc quy trình huy động quần chúng từ phương thức mệnh lệnh hành chính sang mô hình đồng quản trị, hướng đến mục tiêu nâng tỷ lệ phụ nữ chủ động đóng góp ý kiến từ dưới 10% lên trên 50% trong các chương trình phát triển cộng đồng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu tích hợp các mô hình lý thuyết kinh điển về sự can dự công dân để thiết lập khung phân tích toàn diện. Trọng tâm là Thang đo sự tham gia của Sherry Arnstein năm 1969, bao gồm 8 nấc thang được phân chia thành 3 cấp độ phát triển quyền lực: Không tham gia (gồm hai nấc thang Bị điều khiển và Liệu pháp), Tham gia hình thức (gồm Chia sẻ thông tin, Tham vấn và Động viên), và Người dân kiểm soát (gồm Hợp tác, Ủy quyền và Người dân quản lý). Khung lý thuyết này giúp định vị chính xác mức độ can dự của phụ nữ cơ sở đang ở bậc thang thụ động hay chủ động.

Bên cạnh đó, luận văn ứng dụng Mô hình Tam giác can dự của Amy Hubbard năm 2015 với 3 trụ cột chiến lược là thông báo quyết định, xây dựng năng lực và tăng cường mối quan hệ, kết hợp cùng khung 4 cấp độ tham gia của Samuel Paul năm 1987 và thang 5 cấp độ của David Wilcox năm 1994. Hệ thống khái niệm cốt lõi được vận dụng gồm: "Sự tham gia cộng đồng" (chu trình chủ động cùng hoạch định, thực hiện và giám sát), "Bình đẳng giới trong quản lý nhà nước", và "Cuộc vận động gia đình 5 không 3 sạch" (gồm 8 tiêu chí cụ thể: không đói nghèo, không vi phạm pháp luật và tệ nạn, không bạo lực gia đình, không vi phạm chính sách dân số, không có trẻ suy dinh dưỡng và bỏ học; sạch nhà, sạch bếp, sạch ngõ theo Hướng dẫn số 06/HD-ĐCT của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo định kỳ năm 2017 của Ủy ban nhân dân và Hội Liên hiệp Phụ nữ Phường 5, kết hợp các văn bản quy phạm pháp luật như Nghị định số 136/2013/NĐ-CP và Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg về chuẩn nghèo đa chiều. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua 160 bảng hỏi khảo sát trực tiếp và các cuộc phỏng vấn sâu đại diện các nhóm phụ nữ cùng cán bộ phụ trách phong trào trong Quý 1 năm 2019.

Về phương pháp chọn mẫu, tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất hạn ngạch theo tỷ lệ thay vì chọn mẫu ngẫu nhiên xác suất, nhằm khắc phục rào cản người dân vắng nhà hoặc từ chối hợp tác trong điều kiện thời gian và nguồn lực nghiên cứu có hạn. Từ tổng số 65 tổ dân phố thuộc 4 khu phố của Phường 5, nghiên cứu chọn ra 40 tổ dân phố (chiếm tỷ lệ 60%), phân bổ cụ thể gồm: Khu phố 1 chọn 13 tổ, Khu phố 2 chọn 11 tổ, Khu phố 3 chọn 5 tổ và Khu phố 4 chọn 11 tổ. Tại mỗi tổ dân phố, tác giả tiến hành điều tra 4 quan sát (2 người có tham gia và 2 người không tham gia phong trào), hình thành cỡ mẫu chuẩn 160 đối tượng. Phương pháp thống kê mô tả và so sánh tỷ lệ phần trăm được lựa chọn để phản ánh khách quan mức độ nhận thức, đồng thời phương pháp phân tích định tính từ phỏng vấn sâu giúp làm rõ căn nguyên tâm lý của các hành vi xã hội.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực nghiệm trên 160 phụ nữ tại Phường 5 đã chỉ ra những khoảng cách đáng kể giữa công tác triển khai và mức độ tiếp nhận thực tế của người dân:

Thứ nhất, mức độ hiểu biết về nội dung phong trào còn ở mức rất thấp. Dù Hội Liên hiệp Phụ nữ Phường 5 đã phát hành 3.313 tờ bướm tuyên truyền trong năm 2017 và có 55,0% (88 người) biết đây là phong trào của Hội, nhưng có tới 71,9% (115 người) không nắm được 8 tiêu chí cốt lõi và 76,9% (123 người) không hề biết thời gian bắt đầu cuộc vận động. Đặc biệt, có 21,9% người tham gia khảo sát khẳng định chưa từng nghe nói đến cuộc vận động qua bất kỳ kênh thông tin nào.

Thứ hai, trình độ học vấn và điều kiện thời gian tạo ra sự phân hóa sâu sắc trong hành vi tham gia. Trong nhóm phụ nữ không tham gia phong trào, 60,0% khẳng định trình độ học vấn ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức xã hội của họ, và có gần 80,0% (63 người) có trình độ từ trung học phổ thông trở xuống. Khi được hỏi về lý do không tham gia, 65,0% (52 người) đưa ra câu trả lời "tôi không biết lý do", 47,5% (38 người) nêu lý do "không có thời gian", và 36,3% (29 người) cảm thấy "phiền phức".

Thứ ba, rào cản truyền thông và tâm lý ỷ lại vào chính quyền còn rất phổ biến. Có tới 43,8% phụ nữ phản ánh thông tin chỉ được chuyển tải đến đội ngũ cán bộ hội viên hoặc ban điều hành khu phố và tổ dân phố, trong khi 33,7% nhận xét công tác tuyên truyền còn rất sơ sài. Về nhận thức vai trò, 54,4% đối tượng cho rằng Hội Liên hiệp Phụ nữ Phường là chủ thể chịu trách nhiệm chính và 9,5% cho là trách nhiệm của Ủy ban nhân dân Phường, chỉ có 36,2% phụ nữ nhận thức được vai trò trung tâm của chính bản thân mình.

Thảo luận kết quả

Khi đối chiếu với Thang đo sự tham gia của Sherry Arnstein, thực trạng tại Phường 5 cho thấy mức độ can dự của phụ nữ mới chỉ dừng lại ở nấc thang thứ 3 (Chia sẻ thông tin một chiều) và nấc thang thứ 4 (Tham vấn mang tính thủ tục). Phụ nữ hầu như chưa bước lên được các nấc thang của quyền lực thực chất như Hợp tác hay Người dân quản lý. Dữ liệu khảo sát có thể được trình bày sinh động thông qua biểu đồ tròn thể hiện mức độ nhận biết thông tin và bảng phân tích chéo giữa trình độ học vấn với tỷ lệ tham gia phong trào.

Nguyên nhân cốt lõi của sự tham gia mờ nhạt nằm ở việc các chương trình thiếu tính thiết thực đối với đời sống kinh tế hàng ngày của phụ nữ đô thị. Mặc dù địa phương đã nỗ lực hỗ trợ 18 thẻ bảo hiểm y tế, 45 suất quà lễ và 42 suất học bổng Nguyễn Thị Minh Khai trong năm 2017, Hội Liên hiệp Phụ nữ cơ sở vẫn thiếu nguồn quỹ vận động độc lập để duy trì các hoạt động trợ giúp thường xuyên cho nhóm 9,4% hộ cận nghèo. Lời chia sẻ từ các cuộc phỏng vấn sâu của chị A (48 tuổi tại Khu phố 2) và cô C (34 tuổi) đã minh chứng rõ ràng: phụ nữ chưa nhìn thấy lợi ích thiết thực và tiếng nói phản ánh của họ chưa nhận được phản hồi thỏa đáng từ cán bộ quản lý, dẫn đến tâm lý thờ ơ và thụ động kéo dài.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực nghiệm, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm nâng cao chất lượng tham gia của phụ nữ tại cơ sở:

Thứ nhất, đổi mới căn bản công tác truyền thông đa kênh và cá nhân hóa nội dung tuyên truyền (Chủ thể: Hội Liên hiệp Phụ nữ Phường 5; Thời gian: Quý 2/2019 - 2020). Thay vì chỉ dựa vào 3.313 tờ bướm truyền thống, Hội cần ứng dụng mạng xã hội, các nhóm thông tin tổ dân phố trực tuyến và lồng ghép nội dung ngắn gọn vào các buổi họp cụm dân cư; mục tiêu đặt ra là nâng tỷ lệ phụ nữ hiểu đúng 8 tiêu chí từ 28,1% lên trên 85,0% vào cuối năm 2020.

Thứ hai, thiết lập cơ chế đồng quản trị và đối thoại chính sách định kỳ (Chủ thể: Ủy ban nhân dân và Hội Liên hiệp Phụ nữ Phường 5; Thời gian: Giai đoạn 2020 - 2022). Định kỳ tổ chức các diễn đàn lắng nghe ý kiến tại 4 khu phố để phụ nữ trực tiếp tham gia thảo luận và bỏ phiếu lựa chọn các hoạt động ưu tiên; phấn đấu nâng tỷ lệ phụ nữ tham gia nấc thang hợp tác và giám sát cộng đồng đạt trên 60,0%.

Thứ ba, xây dựng Quỹ an sinh xã hội vi mô gắn tiêu chí phong trào với đòn bẩy kinh tế (Chủ thể: Ban Thường vụ Hội Liên hiệp Phụ nữ Quận 3 và Phường 5; Thời gian: Triển khai thường niên từ năm 2020). Vận động các nguồn lực xã hội hóa để mở rộng quy mô hỗ trợ vượt mốc 18 thẻ bảo hiểm y tế và 42 suất học bổng hiện tại, tạo vốn vay ưu đãi cho các hộ cận nghèo (chiếm 9,4% mẫu khảo sát) nhằm giải quyết dứt điểm tiêu chí không đói nghèo.

Thứ tư, chuẩn hóa năng lực điều hành và kỹ năng can dự cộng đồng cho cán bộ Hội cơ sở (Chủ thể: Hội Liên hiệp Phụ nữ Quận 3; Thời gian: Giai đoạn 2020 - 2023). Tổ chức 100% các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ về kỹ năng lắng nghe, điều phối tương tác và quản lý dự án có sự tham gia cho toàn bộ cán bộ tại 65 tổ dân phố, xóa bỏ hoàn toàn lối làm việc hành chính hóa một chiều.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

Nhóm cán bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp (Phường, Quận, Thành phố): Tài liệu cung cấp góc nhìn thực chứng sâu sắc, giúp các nhà quản lý đoàn thể đánh giá lại tính hiệu quả của 3.313 tài liệu tuyên truyền và nhận diện nguyên nhân khiến 65,0% phụ nữ không rõ lý do tham gia phong trào, từ đó đổi mới toàn diện phương thức vận động tại 65 tổ dân phố đô thị.

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền cơ sở: Luận văn là cơ sở tham chiếu quan trọng để Ủy ban nhân dân các cấp hoàn thiện quy chế dân chủ cơ sở, chuyển dịch từ quản lý hành chính áp đặt sang mô hình hợp tác công dân, nâng cao hiệu quả thực thi các chính sách an sinh xã hội và giảm nghèo đa chiều.

Nhóm giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Quản lý công, Xã hội học: Nghiên cứu cung cấp một trường hợp điển hình về cách thức vận dụng Thang đo Arnstein và Mô hình Hubbard, đồng thời minh họa quy trình chọn mẫu phi xác suất hạn ngạch chuẩn mực với 160 quan sát tại 40 tổ dân phố trong phân tích chính sách công.

Nhóm các tổ chức phi chính phủ và các mạng lưới phát triển xã hội: Nguồn dữ liệu thực nghiệm giúp các điều phối viên dự án thiết kế các can thiệp bình đẳng giới và hỗ trợ sinh kế sát sườn cho phụ nữ yếu thế, tối ưu hóa các nguồn lực phát triển cộng đồng tại các khu vực đô thị hóa nhanh.

Câu hỏi thường gặp

Thang đo sự tham gia của Sherry Arnstein được áp dụng như thế nào trong luận văn? Tác giả sử dụng 8 nấc thang của Arnstein để phân tích thực trạng tại Phường 5. Kết quả cho thấy mức độ can dự của phụ nữ mới dừng ở bậc 3 và 4 thuộc nhóm tham gia hình thức (chỉ nhận thông tin và tham vấn thụ động), chưa đạt đến các nấc thang Hợp tác và Người dân quản lý.

Tại sao báo cáo địa phương ghi nhận hơn 90% hộ đăng ký nhưng khảo sát thực tế lại có tỷ lệ nhận biết thấp? Sự chênh lệch bắt nguồn từ việc chạy theo chỉ tiêu hình thức; các báo cáo ghi nhận việc ký cam kết đại trà sau khi phát 3.313 tờ bướm, trong khi khảo sát 160 mẫu thực tế cho thấy có tới 71,9% phụ nữ hoàn toàn không hiểu rõ 8 tiêu chí của phong trào.

Trình độ học vấn ảnh hưởng như thế nào đến quyết định tham gia của phụ nữ? Nghiên cứu chỉ ra tương quan thuận rõ nét giữa học vấn và sự tham gia; có gần 80,0% phụ nữ không tham gia sở hữu trình độ từ trung học phổ thông trở xuống, và 60,0% khẳng định sự hạn chế về trình độ khiến họ chưa nhận thức đầy đủ quyền lợi lâu dài.

Những rào cản lớn nhất khiến phụ nữ đô thị không tham gia phong trào là gì? Khảo sát chỉ ra 3 rào cản hàng đầu: sự thiếu hụt thông tin đa chiều (65,0% trả lời không biết lý do), áp lực gánh nặng thời gian giữa công việc và gia đình (47,5%), cùng tâm lý e ngại phiền phức do hoạt động thiếu tính thiết thực (36,3%).

Giải pháp mang tính đột phá nhất mà luận văn đề xuất cho Hội Phụ nữ cơ sở là gì? Giải pháp đột phá là chuyển đổi phương thức vận động sang cơ chế đồng kiến tạo chính sách, thành lập Quỹ an sinh xã hội vi mô vượt trên quy mô 18 thẻ bảo hiểm y tế hiện tại và số hóa 100% kênh tương tác đến từng hộ dân.

Kết luận

Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Luyến đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu với 5 đóng góp học thuật và thực tiễn nổi bật:

  • Khảo sát và lượng hóa thành công mức độ tham gia thực tế của 160 phụ nữ tại 40 tổ dân phố thuộc Phường 5, Quận 3 đối với Cuộc vận động "Xây dựng gia đình 5 không 3 sạch".
  • Phản ánh trung thực khoảng cách giữa con số báo cáo hành chính (trên 90% hộ đăng ký) và thực tế nhận thức cộng đồng (71,9% không nắm rõ 8 tiêu chí).
  • Nhận diện chính xác hệ thống rào cản cốt lõi gồm trình độ học vấn (60,0%), quỹ thời gian hạn hẹp (47,5%) và phương thức truyền thông khép kín trong ban điều hành (43,8%).
  • Kiểm chứng và làm phong phú thêm giá trị ứng dụng của Thang đo Arnstein và Mô hình Hubbard trong bối cảnh quản lý nhà nước tại đô thị Việt Nam.
  • Kiến tạo hệ thống 4 nhóm giải pháp toàn diện gắn liền với lộ trình triển khai từ năm 2020 đến 2025 nhằm trao quyền thực chất cho phụ nữ cơ sở.

Trong giai đoạn tiếp theo, các cơ quan quản lý và tổ chức đoàn thể cần khẩn trương thể chế hóa các kênh đối thoại trực tiếp tại 4 khu phố. Hãy áp dụng ngay những phát hiện và khuyến nghị giá trị từ công trình nghiên cứu này để đổi mới căn bản tư duy quản trị công, nâng cao hiệu quả các phong trào xã hội và thúc đẩy bình đẳng giới thực chất tại cộng đồng.