CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TẠI CÁC KHU KINH TẾ CỬA KHẨU 1.1 Khái niệm và những vấn đề cơ bản về khu kinh tế cửa khẩu Trong những năm gần đây thuật ngữ khu kinh tế cửa khẩu (KKTCK) được sử dụng khá phổ biến, đặc biệt khi quan hệ thương mại 2 chiều giữa Việt Nam và các quốc gia láng giềng trở lên phát triển mạnh mẽ. Chính sự phát triển đó đặt ra nhu cầu cho một mô hình phủ hợp nhằm tổ chức các hoạt động kinh tế vùng biên. Trong xu hướng chung về hội nhập kinh tế Quốc tế, khi các rào cản đối với thương mại được tháo bỏ, hoạt động kinh tế cửa khẩu có những cơ hội phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết và các quốc gia chung đường biên giới cũng xác định rõ phát triển KKTCK cần được coi là một trong những ưu tiên trong chính sách phát triển, đặc biệt của các địa phương giáp biên nhằm khai thác các tiềm năng, lợi thế và tận dụng nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội địa phương. [2] Để hiểu rõ khái niệm về KKTCK, chúng ta cần nắm được một số khái niệm liên quan sau: Khu kinh tế: khu vực có không gian kinh tế riêng biệt với môi trường đầu tư và kinh doanh đặc biệt thuận lợi cho các nhà đầu tư, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định.
Khu kinh tế được tổ chức thành các khu chức năng gồm: khu phi thuế quan, khu bảo thuế, KCX, KCN, khu giải trí, khu du lịch, khu đô thị, khu dân cư, khu hành chính và các khu chức năng khác phù hợp với đặc điểm của từng khu KKT. [8] Khu kinh tế tự do: các KKT đặc biệt được thành lập trong một hay nhiều quốc gia nhằm thu hút đầu tư trong và ngoài nước bằng các biện pháp ưu đãi. [8] Khu phi thuế quan: khu vực địa lý có ranh giới xác định, được ngăn cách với lãnh thổ bên ngoài bằng hàng rào, có cổng và cửa ra vào bảo đảm điều kiện cho sự kiểm soát của cơ quan Hải quan và các cơ quan chức năng có liên quan, có Hải quan giám sát, kiểm tra hàng hóa và phương tiện ra vào khu. [8] 6 Khu hợp tác kinh tế biên giới: đây là mô hình KKTCK đặc biệt, liên kết hai quốc gia, tạo ra vùng lãnh thổ đặc thù, hai bên có thể thỏa thuận bằng một hiệp ước, theo đó chỉ ra vùng lãnh thổ hợp lý, có hàng rào, không có dân cư sinh sống.
[8] Trên góc độ quản lý nhà nước: KKTCK là khu vực giới hạn bởi địa giới hành chính nhất định, gắn với cửa khẩu tạo một không gian kinh tế xác định, được áp dụng những cơ chế, chính sách phát triển riểng, phù hợp với đặc điểm của khu vực nhằm thu hút đầu tư, vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh, giao lưu kinh tế, thương mại, dịch vụ, du lịch, công nghiệp giữa hai nước và trên địa bàn. Trên góc độ nghiên cứu: KKTCK là một không gian kinh tế, gắn với cửa khẩu, có dân cư hoặc không có dân cư sinh sống và được thực hiện dựa trên cơ chế chính sách phát triển riêng, phù hợp với đặc điểm nhằm mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội hướng tới mục đích chính là ưu tiên phát triển thương mại hàng hóa và dịch vụ [4]. KKTCK là địa bàn bao gồm một cửa khẩu biên giới (quốc tế hoặc quốc gia) và một khu vực liền kề bao quanh khu vực cửa khẩu biên giới, được tổ chức, khai thác, sử dụng vào các hoạt động giao lưu kinh tế qua biên giới, được áp dụng các chính sách riêng về thương mại, XNK, XNC, du lịch, thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, xây dựng kết cấu hạ tầng, quản lý tài chính, tiền tệ và phát triển xã hội. Tuy có sự khác biệt trong quan niệm về KKTCK như đề cập ở trên nhưng về cơ bản các nhà nghiên cứu và người làm chính sách đều thống nhất ở một số nội dung cơ bản sau: - KKTCK được xác định là một không gian kinh tế, tại các cửa khẩu đều diễn ra các hoạt động kinh tế với quốc gia cũng chung biên giới và nội địa phía sau.
- KKTCK được coi là trung tâm giao lưu kinh tế quốc tế, là động lực thúc đẩy quan hệ 7 kinh tế đối ngoại. - Đặc trưng hoạt động kinh tế của các KKTCK là thương mại, XNK, dịch vụ, đầu tư, xây dựng, gia công chế biến. - KKTCK được cấp có thẩm quyền thành lập và quản lý bằng cơ chế, chính sách riêng phù hợp với điều kiện cụ thể.2 Nội dung cơ bản về quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản 1.1 Khái niệm vốn đầu tư XDCB [17] Vốn đầu tư xây dựng cơ bản là toàn bộ chi phí để đạt được mục đích đầu tư, bao gồm chi phí cho việc chuẩn bị đầu tư; chi phí về thiết kế và xây dựng; chi phí mua sắm và lắp đặt thiết bị và các chi phí kiến thiết cơ bản khác ghi trong tổng dự toán được duyệt. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản được hình thành từ các nguồn sau: - Vốn ngân sách nhà nước: vốn ngân sách nhà nước được hình thành từ tích lũy của nền kinh tế và được nhà nước bố trí trong kế hoạch ngân sách để cấp cho chủ đầu tư thực hiện các công trình theo kế hoạch hàng năm.
- Vốn tín dụng đầu tư bao gồm: vốn của NSNN dùng để cho vay, vốn huy động của các đơn vị trong nước và các tầng lớp dân cư. Vốn vay dài hạn của các tổ chức tài chính, tín dụng quốc tế… - Vốn tự có của các đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch vụ thuộc mọi thành phần kinh tế, đối với doanh nghiệp quốc doanh, vốn này hình thành tự lợi nhuận (sau khi nộp thuế cho Nhà nước), vốn khấu hao cơ bản để lại, tiền thanh lý tài sản và các nguồn thu khác theo quy định của Nhà nước. - Vốn hợp tác liên doanh với nước ngoài: vốn này của các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được Chính phủ Việt Nam chấp nhận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp tác kinh doanh hoặc thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. - Vốn vay nước ngoài bao gồm: vốn do Chính phủ vay theo hiệp định ký kết với nước 8 ngoài, vốn do các đơn vị sản xuất kinh doanh dịch vụ trực tiếp vay của các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài và vốn do Ngân hàng Đầu tư & Phát triển đi vay.
- Vốn viện trợ của các tổ chức nước ngoài (ODA). - Vốn huy động của dân cư bằng tiền, vật liệu hoặc công cụ lao động.2 Khái niệm vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước [10] Vốn đầu tư XDCB từ NSNN là việc sử dụng một phần vốn tiền tệ đã tập trung vào NSNN để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, kinh tế - xã hội, phát triển sản xuất nhằm đạt mục tiêu ổn định và tăng trưởng kinh tế. Vốn đầu tư XDCB từ NSNN đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển nền kinh tế, là một trong những yếu tố cần thiết để xây dựng cơ sở vật chất cho nền kinh tế. Vốn đầu tư XDCB gồm: - Vốn cho xây lắp: Là chi phí để xây dựng mới, mở rộng và khôi phục các loại nhà cửa, vật kiến trúc (có thể sử dụng lâu dài hoặc tạm thời) được ghi trong dự toán xây dựng và chi phí cho việc lắp đặt máy móc vào nền, bệ cố định (gắn liền với công dụng của tài sản cố định mới tái tạo); - Vốn đầu tư cho thiết bị: là phần vốn để mua sắm, vận chuyển và bốc dỡ các máy móc thiết bị, các công cụ sản xuất của công trình từ nơi mua đến công trình; - Vốn cho chi phí XDCB khác: là những phần vốn chi cho các công việc có liên quan đến xây dựng công trình như chi phí thăm dò khảo sát, thiết kế công trình, chi phí thuê mua hoặc thiết kế, bồi thường GPMB, di chuyển vật kiến trúc, chi phí chuẩn bị khu đất để xây dựng, chi phí cho các công trình tạm phục vụ cho thi công (lán trại, kho tàn, điện và nước), chi phí đào tạo cán bộ công nhân vận hành sản xuất sau này, chi phí lương chuyên gia (nếu có), chi phí chạy thử máy, thử nghiệm và khánh thành.
Do đó, vốn đầu tư XDCB từ NSNN là khoản vốn ngân sách, được nhà nước dành phần lớn cho việc đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả năng thu hồi vốn, cũng như các khoản chi đầu tư khác theo quy định của Luật NSNN.3 Phân loại nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước [17] a. Theo cấp ngân sách Theo Luật ngân sách, vốn đầu tư XDCB được phân theo cấp ngân sách, gồm vốn ngân sách Trung ương và vốn ngân sách địa phương. - Vốn đầu tư XDCB từ ngân sách Trung ương do các Bộ, Cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước quản lý. - Vốn đầu tư XDCB từ ngân sách địa phương do các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh và các phường, xã, thị trấn quản lý.
Theo tính chất nguồn vốn - Vốn đầu tư XDCB tập trung: là vốn đầu tư cho các dự án bằng nguồn vốn đầu tư phát triển thuộc NSNN do ngân sách các cấp quản lý. - Vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư: Là vốn NSNN thuộc nhiệm vụ chi thường xuyên, các hoạt động sự nghiệp mang tính chất đầu tư XDCB như: duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa các công trình giao thông, nông nghiệp, thủy lợi, ngư nghiệp, lâm nghiệp và các Chương trình quốc gia, dự án Nhà nước.4 Đặc điểm của vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước [17] Là một loại vốn đầu tư nên nó có các điểm giống với nguồn vốn đầu tư thông thường, ngoài ra vốn đầu tư XDCB từ NSNN còn có những đặc điểm khác như sau: - Vốn đầu tư xây dựng cở bản từ NSNN về cơ bản không vì mục tiêu lợi nhuận, được sử dụng vì mục đích chung của mọi người, lợi ích lâu dài cho một ngành, địa phương và cả nền kinh tế.