Đặt vấn đề Ngành sản xuất và chế biến gỗ đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam nói chung và kinh tế tỉnh Bình Phước nói riêng. Theo thống kê, cả nước hiện có trên 2.500 doanh nghiệp chế biến đồ gỗ, trong đó có 970 doanh nghiệp chuyên chế biến đồ gỗ xuất khẩu, hơn 400 doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài và nhiều doanh nghiệp đã phát triển thành các tập đoàn lớn. Năm 2013, giá trị kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ cả nước ước đạt 5,37 tỉ USD, tăng hơn 15% so với năm 2012. Theo Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu của ngành chế biến đồ gỗ năm 2014 đạt khoảng 6,2 tỷ USD, tăng trên 9% so với năm 2013 và dự kiến phấn đấu đến năm 2020 ngành gỗ Việt Nam sẽ đạt mốc 7 tỷ USD.
Xuất khẩu đồ gỗ, đặc biệt là đồ gỗ ngoài trời của Việt Nam trong thập niên vừa qua tăng rất mạnh, đã đưa Việt Nam vào nhóm 10 nước xuất khẩu đồ gỗ lớn nhất trên thế giới (FAO). Thị trường chính của đồ gỗ Việt Nam là Hoa Kỳ (39%); EU (14%); Nhật Bản (14%); Trung Quốc (15%); các thị trường khác 13% và năm 2013 còn có thêm thị trường mới nổi là Hàn Quốc chiếm 5%. Mặc dù thị trường khá rộng nhưng mức độ cạnh tranh trong ngành càng tăng, nhất là với các công ty chế biến gỗ Đài Loan. Sự cạnh tranh giữa các công ty trong nước và nước ngoài chủ yếu là cạnh tranh về giá cả.
Hơn nữa, ngành sản xuất đồ gỗ xuất khẩu phụ thuộc rất lớn vào yếu tố mùa vụ nên ngoài mẫu mã, chất lượng thì giá cả trở thành một yếu tố quan trọng trong việc mở rộng thị trường kinh doanh. Chính vì vậy, thông tin về chi phí trong các doanh nghiệp chế biến gỗ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc giúp nhà quản trị kiểm soát chi phí và đưa ra các quyết định sách lược với các sản phẩm có giá cả cạnh tranh. Từ đó, doanh nghiệp có thể có nhiều khách hàng, tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm tạo ra nhiều lợi nhuận. Tính cấp thiết của đề tài Đóng vai trò không thể thiếu trong việc cung cấp thông tin về chi phí là hệ thống kế toán chi phí.
Kế toán chi phí tồn tại hầu hết trong các công ty, tuy nhiên chỉ mới tập trung vào công tác kế toán tài chính, chưa hướng vào việc cung cấp thông tin phục vụ cho việc lập kế hoạch, kiểm soát và đánh giá việc lập kế hoạch trong nội bộ công ty. Kế toán quản trị chi phí của các công ty chủ yếu là công tác kế toán tài chính, phục vụ lập các báo cáo tài chính. Hệ thống kế toán chi phí của các công ty chưa thực hiện phân loại chi phí theo mức độ hoạt động, chưa tính giá thành theo phương pháp trực tiếp, chưa lập dự toán chi phí và phân tích biến động chi phí phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh. Với hệ thống kế toán chi phí này, thông tin chi phí của các công ty khó có thể phù hợp, kịp thời và tin cậy cho việc ra các quyết định kinh doanh của các nhà quản trị, làm giảm sức cạnh tranh của công ty.
Trong môi trường kinh doanh cạnh tranh, các doanh nghiệp sản xuất, chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh Bình Phước cần khẩn trương xây dựng hệ thống kế toán quản trị chi phí để phục vụ cho việc quản lý công ty. Đó là lý do tôi chọn đề tài luận văn nghiên cứu: “Xây dưng mô hình kế toán quản trị chi phí cho các doanh nghiệp sản xuất, chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh Bình Phước” 1. MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Mục tiêu của đề tài Cùng với việc hệ thống hóa lý thuyết về kế toán quản trị chi phí phục vụ cho quản trị nội bộ, luận văn phân tích thực trạng vận dụng kế toán quản trị tại các doanh nghiệp chế biến gỗ nhằm phục vụ cho quản trị chi phí tại doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh trong môi trường kinh doanh đầy cạnh tranh.
Nội dung nghiên cứu Cơ sở lý luận về kế toán quản trị chi phí Nghiên cứu kế toán quản trị chi phí phục vụ cho quản trị nội bộ trong các doanh nghiệp chế biến gỗ. Phương pháp nghiên cứu 1. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài kết hợp định tính và định lượng. - Nghiên cứu các vấn đề lý luận bằng phương pháp nghiên cứu định tính.
Thu thập thông tin qua các nguồn dữ liệu thứ cấp từ giáo trình, báo, tạp chí, luận văn, luận án, nghiên cứu khoa học, chế độ kế toán,… từ đó tổng hợp và phân tích nhằm hệ thống lý luận về các vấn đề liên quan đến KTQT chi phí. - Nghiên cứu các vấn đề thực tiễn thông quan phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng. Được thực hiện thông qua việc khảo sát phỏng vấn trực tiếp với các kế toán trưởng, nhân viên kế toán, giám đốc đang làm việc tại các DN sản xuất , chế biến gỗ thông qua bảng câu hỏi được thiết kế sẵn. Từ đó thống kê, tổng hợp, so sánh, phân tích, đánh giá những ưu điểm cũng như hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân của những hạn chế này để có thể đưa ra các giải pháp xây dựng mô hình KTQT phù hợp hơn cho các DN chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh Bình Phước.
Phương pháp nghiên cứu chung của luận văn là kết hợp giữa nghiên cứu lý luận với tổng kết thực tiễn. Trên cơ sở đó luận văn sử dụng các phương pháp phân tích và tổng hợp các số liệu thực tế của doanh nghiệp để làm rõ vấn đề cần nghiên cứu và đưa ra các giải pháp thực hiện. Do vậy, các phân tích của luận văn sẽ dựa trên cơ sở các lý luận chung và so sánh với tình hình thực tế của các doanh nghiệp. TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU Đặc điểm ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam CBG là quá trình chuyển hóa gỗ nguyên liệu dưới tác dụng của thiết bị, máy móc hoặc công cụ hóa chất để tạo thành các SP có hình dạng, kích thước, thành phần hóa học làm thay đổi hẳn so với nguyên liệu ban đầu.
Kỹ thuật chế biến theo phương pháp cơ giới chủ yếu là kỹ thuật xẻ gỗ, sấy gỗ và bảo quản gỗ. Riêng công đoạn bảo quản gỗ là phần sử dụng nhiều chất hóa học để c 4 ngâm tẩm, xử lý và bảo quản gỗ. Gỗ mới khai thác có độ ẩm cao, công đoạn sấy chỉ là bước làm khô, muốn giữ gỗ có độ bền và đảm bảo chất lượng cho vòng đời SP gỗ phải có công đoạn ngâm tẩm để bảo quản và gìn giữ chất lượng SP sau khi SX. Kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp đã được rất nhiều tác giả nghiên cứu, cụ thể tiêu biểu là luận tiến sĩ chuyên ngành kế toán, tài vụ và phân tích hoạt động kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc Dân; tác giả Phạm Thị Thủy (2007) “Xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất dược phẩm Việt Nam”.
Tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận kế toán quản trị chi phí, sử dụng phương pháp điều tra thống kê để nghiên cứu thực trạng kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất dược phẩm Việt Nam và xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất dược phẩm Việt Nam. Mô hình này bao gồm: phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo mối quan hệ với mức độ hoạt động, lập dự toán chi phí, xác định khối lượng sản xuất hợp lý cho từng lô, tính giá thành cho từng lô sản phẩm theo phương pháp chi phí thông thường, chi phí sản xuất chung được tách thành hai nhóm, theo cấp lô sản phẩm và theo cấp phân xưởng, phân tích biến động chi phí, lập báo cáo kết quả kinh doanh theo sản phẩm, theo bộ phận sản xuất và xây dựng giá chuyển nhượng giữa bộ phận sản xuất và các chi nhánh tiêu thụ để tăng cường trách nhiệm của các chi nhánh tiêu thụ đối với hoạt động của toàn doanh nghiệp. Tuy nhiên, các nghiên cứu vẫn chưa có nghiên cứu về hệ thống kế toán quản trị chi phí áp dụng cho các doanh nghiệp hoạt động sản xuất các sản phẩm từ gỗ trong nước nói chung và tại tỉnh Bình Phước nói riêng. Do đó, vấn đề luận văn nghiên cứu là “Xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí cho các doanh nghiệp sản xuất, chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh Bình Phước”.
Vì vậy, để đạt được mục tiêu trên, tác giả nghiên cứu cơ sở lý thuyết kế toán quản trị chi phí, tìm hiểu thực trạng kế toán quản trị chi phí tại các doanh c 5 nghiệp và vận dụng kế toán quản trị chi phí vào hoạt động sản xuất – kinh doanh của các doanh nghiệp sx, chế biến gỗ. c 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP 2. BẢN CHẤT CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ 2. Khái niệm kế toán quản trị chi phí Kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của hệ thống kế toán, chính vì vậy, bản chất của kế toán quản trị chi phí trước hết thể hiện ở bản chất của kế toán.
Trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu đời, có rất nhiều định nghĩa về kế toán dưới các góc độ khác nhau, tuy nhiên trong phần này tác giả chỉ phân tích hai định nghĩa cơ bản dưới góc độ bản chất và nội dung của kế toán. Thứ nhất, kế toán được định nghĩa là một bộ phận của hoạt động quản lý, với chức năng xử lý và cung cấp thông tin thực hiện về khách thể quản lý cho chủ thể quản lý. Định nghĩa này hướng về bản chất của kế toán. Quá trình sản xuất ra của cải vật chất là yêu cầu tất yếu khách quan cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người.
Để quá trình sản xuất được thực hiện một cách có hiệu quả, nhất thiết phải có hoạt động quản lý, tức là hoạt động định hướng cho quá trình sản xuất và tổ chức thực hiện theo những hướng đã định. Trong hoạt động quản lý này, kế toán đóng vai trò là cầu nối thông tin giữa khách thể quản lý (quá trình sản xuất) và chủ thể quản lý (các cơ quan quản lý). Thứ hai, kế toán được định nghĩa là một quá trình định dạng, đo lường, ghi chép và cung cấp các thông tin về hoạt động kinh tế của một tổ chức. Định nghĩa này hướng về nội dung của kế toán.