CHƯƠNG 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cở sở lí luận 1. Khái niệm về dạy học đọc hiểu.
Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ của nước ta thì đọc là quá trình phức tạp bao gồm sự kết hợp của các khả năng cảm nhận, tâm lí ngôn ngữ và nhận thức. Mục đích chính của việc đọc là thu nhận và kiến tạo ý nghĩa từ văn bản. Còn đọc hiểu là năng lực nhận thức phức tạp yêu cầu khả năng tích hợp thông tin trong văn bản với tri thức có trước của người đọc [5] Khác với quan niêm trên, tác giả Trần Đình Sử đã chỉ ra một số nội dung quan trọng về việc đọc: “Đọc là hoạt động cơ bản của con người để chiếm lĩnh văn hóa” [27]. Chính vì vậy mà ngay sau Cách mạng tháng 8 một trong những công việc đầu tiên mà Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi toàn dân làm đó là xóa nạn mù chữ.
Ngày nay mọi người đều biết chặng đường từ xóa xong nạn mù chữ đến đọc hiểu được các văn bản là một chặng đường rất dài. Tác giả Lê Phương Nga cũng đưa ra: “Đọc đã trở thành một đòi hỏi đầu tiên đối với mỗi người đi học”[22, trang 8]. Bản thân việc đọc đã có nhiều mức độ. Ở từng độ tuổi, các mức độ đọc ngày một được hoàn thiện hơn.
Bước đầu là đọc thông, đọc thuộc, không vấp váp về ngữ âm, nghĩa từ, biết ngắt nghỉ đúng. Bước hai là đọc kỹ, đọc sâu. Bước thứ ba là đọc hiểu, đọc để rút ra thông điệp, nội dung mà văn bản gửi gắm đến với đọc giả. Vì vậy, đọc hiểu là mức độ cao nhất của đọc để phát huy các năng lực khác.
Đọc văn là sự cảm nhận, là sự nghiền ngẫm tác phẩm cho nên đọc sáng tạo và đọc sử dụng là khâu cao nhất. “Đọc không chỉ là công việc giải một bộ mã gồm hai phần chữ viết và phát âm, nghĩa là nó không phải chỉ là sự “đánh vần” lên thành tiếng theo đúng như các kí hiệu chữ viết mà còn là một quá trình nhận thức để có khả năng thông hiểu những gì đã đọc. Đọc là tìm ra ý nghĩa trong một thông điệp. Nhưng ý nghĩa là cả một vấn đề rất khó của khoa học nhân văn hiện đại.
Người ta phân biệt nghĩa và ý nghĩa. Nghĩa là quan hệ văn bản với cái mà nó biểu đạt, còn ý nghĩa là quan hệ văn bản với người tiếp nhận. Người đọc trước hết phải 17 hiểu nghĩa rồi mới phát hiện ra ý nghĩa của văn bản. Nghĩa của văn bản văn học khác với văn bản phi văn học.
Nghĩa trong văn bản văn học là một thực tại đã được cải tạo một cách đặc thù gắn liền với chính văn bản ấy, chứ không gắn với cái gì khác. Bản thân ngữ cảnh của văn bản văn học cũng đã tạo ra tính đa nghĩa. Tác giả Nguyễn Thanh Hùng - người nghiên cứu nhiều về đọc hiểu, khi bàn về những khái niệm then chốt về đọc hiểu, cho rằng “… đọc - hiểu là khái niệm bao trùm có nội dung quan trọng trong quá trình dạy học văn”; “Đọc - hiểu là một khái niệm khoa học chỉ ra mức độ cao nhất của hoạt động đọc; đọc - hiểu đồng thời cũng chỉ ra năng lực văn của người đọc” [13, trang 72] “Đọc hiểu là phạm trù khoa học trong nghiên cứu và giảng dạy văn học. Bản thân nó là khái niệm có quan hệ với năng lực đọc, hoạt động đọc, kĩ năng đọc để nắm vững ý nghĩa của văn bản nghệ thuật ngôn từ.
Đọc chính xác thì hiểu đúng. Đọc kĩ, đọc phân tích thì hiểu sâu. Đọc trải nghiệm thẩm mĩ thì hiểu được vẻ đẹp nhân tình. Đọc sâu, đọc sáng tạo thì hiểu được cái mới” [13, trang 76].
Tác giả đã đi vào lí giải nội hàm của “hiểu”: “Hiểu là phát hiện và nắm vững mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng, đối tượng nào đó và ý nghĩa của các mối quan hệ đó. Hiểu là bao quát hết nội dung và có thể vận dụng vào đời sống. Hiểu tức là phải trả lời được câu hỏi Cái gì? Như thế nào? Vì sao? Làm như thế nào? Đó là biết và làm trong đọc hiểu” [13, trang 72], “Hiểu là quá trình nhận thức văn bản toàn vẹn” [13, trang 76]. Trong Dạy học đọc hiểu ở Tiểu học của tác giả Nguyễn Thị Hạnh đã khẳng định đọc hiểu là một hoạt động giao tiếp ở đó người đọc lĩnh hội lời nói đã được viết thành văn bản nhằm làm thay đổi những hiểu biết, tình cảm hoặc hành vi của chính mình, đọc hiểu là hoạt động đọc cho mình (người đọc).“Đọc hiểu làm mục tiêu rất được coi trọng trong chương trình 2018” [42,trang 106] Như vậy, trong mỗi quan niệm trên đây, dù đứng ở góc độ nào cũng thấy “đọc” được coi là một quá trình tổng hợp, đòi hỏi cần sử dụng nhiều kĩ năng; “hiểu” là mục đích của “đọc”; để đọc hiểu, người đọc phải tích cực, chủ động khám phá văn bản.
Dạy đọc hiểu là việc giáo viên hướng dẫn học sinh sử dụng 18 những kỹ năng để đọc hiểu VB thông qua các hoạt động, thao tác và theo một quy trình nhất định nào đó. Đọc hiểu VB đề cao vai trò của chủ thể tích cực, sáng tạo của học sinh trong hoạt động đọc. Khái niệm phát triển năng lực đọc hiểu Theo từ điển Tiếng Việt “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó. Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [27] Theo sách “Gốc và nghĩa từ Việt thông dụng”, năng lực là một từ Hán- Việt, trong đó “năng là làm nổi việc; lực là sức mạnh; lực là sức mạnh làm nổi việc nào đó” [26, tr 576] Từ bình diện Triết học, năng lực “hiểu theo nghĩa rộng là những đặc tính tâm lý của cá thể điều tiết hành vi của cá thể và là điều kiện sống của cá thể […] Hiểu theo nghĩa đặc biệt thì năng lực là toàn bộ những đặc tính tâm lý của con người khiến cho nó thích hợp với một hình thức hoạt động nghề nghiệp nhất định đã hình thành trong lịch sử”.
Cũng theo quan điểm này, “Năng lực của con người là sản phẩm của sự phát triển xã hội”, nó “không những do hoạt động của bộ não quyết định mà trước hết là do trình độ phát triển lịch sử mà loài người đã đạt được. Theo ý nghĩa đó thì của con người không thể tách rời với tổ chức lao động xã hội và với hệ thống giáo dục thích ứng với tổ chức đó” [38, trang 379] Từ bình diện Tâm lý học, năng lực “là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định” Đó là “tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt”. Năng lực “không phải là một thuộc tính tâm lý xuất sắc nào đó mà là tổ hợp các thuộc tính tâm lý của cá nhân” [6. Tr 499] Từ bình diện Giáo dục học, “Năng lực là khả năng được hình thành và phát triển cho phép con người đạt được thành công trong một hoạt động thể lực, 19 trí lực hoặc nghề nghiệp”, năng lực được thể hiện ở khả năng thi hành một hoạt động, thực thi một nhiệm vụ.
[37] Trong Lý luận dạy học hiện đại, năng lực được quan niệm là “điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm đạo đức” [4] Website của Phòng giáo dục bang Ohio (Mỹ) đề cập đến khái niệm năng lực đọc ở cấp Tiểu học, năng lực đọc bao gồm những hiểu biết về ý thức ngữ âm (phonic) đọc trôi chảy từ vựng, hiểu và đánh giá. Xuất phát từ quan điểm đánh giá nhận thức, tổ chức Rand reading study group (RRSG) xác định ba khía cạnh quan trọng của đọc hiểu, bao gồm người đọc, văn bản và hoạt động đọc. Đặc điểm của người đọc bao gồm các quy trình nhận thức, kĩ năng, chiến lược và kiến thức cho phép người đọc trích xuất ý nghĩa từ văn bản. Đặc điểm của văn bản bao gồm tập hợp các tính năng ngôn ngữ và nội dung góp phần vào sự dễ dàng hoặc khó khăn trong việc trích xuất ý nghĩa từ văn bản.
Các đặc điểm của hoạt động bao gồm mục đích, nhiệm vụ và kết quả mong đợi của việc đọc. Sự tương tác giữa người đọc, văn bản và hoạt động diễn ra trong bối cảnh môi trường văn hóa xã hội lớn hơn. Và xuất phát từ quan niệm đọc là một quá trình phức hợp, người ta cho rằng năng lực đọc gồm ba thành phần chính là các kĩ năng đọc cần thiết, chiến thuật đọc và hiểu biết về văn bản. Trên cơ sở xem đọc hiểu là một hoạt động giao tiếp mà ở đó người đọc lĩnh hội lời nói đã được viết thành văn bản nhằm làm thay đổi hiểu biết, tình cảm, hoặc hành vi của chính mình.
Trong bài viết "Giải quyết vấn đề dạy đọc hiểu ở Tiểu học trong chiến lược dạy đọc ở trường phổ thông Việt Nam giai đoạn sau 2015", tác giả Nguyễn Thị Hạnh cũng chỉ ra, năng lực đọc hiểu thuộc cả hai loại năng lực chung cốt lõi và năng lực chuyên biệt. Đó là những năng lực cần thiết mà một học sinh cần phải được hình thành và phát triển ở nhà trường phổ thông và tác giả cũng cho 20 rằng năng lực đọc hiểu cũng được cấu thành như các loại năng lực khác. Theo đó nó gồm ba yếu tố sau: - Tri thức về văn bản, về chiến lược đọc hiểu. - Kĩ năng thực hiện các hành động, thao tác đọc hiểu.
- Sự sẵn sàng thực hiện các nhiêm vụ học tập, các nhiệm vụ đời sống cần đến đọc hiểu. Tri thức về văn bản là sự hiểu biết của người đọc về văn bản, thể loại văn bản, cấu trúc văn bản, còn chiến lược đọc hiểu là các thao tác, hành động đọc ghi nhớ, nhận biết, hiểu, phản hồi và vận dụng các tri thức đọc vào trong thực tiễn. Tuy nhiên, năng lực đọc hiểu được xem như năng lực chuyên biệt, bởi năng lực đọc hiểu được bắt đầu hình thành từ môn học Tiếng Việt. Việc đọc hiểu không chỉ bắt đầu và dừng lại ở riêng môn Tiếng Việt bởi lẽ ở bất kì môn học nào, bất kì lúc nào thì cũng cần đọc để hiểu.