Chương 1: Cơ sở khoa học của việc xây dựng bài tập bổ trợ nhằm củng cố và làm giàu vốn từ tiếng Việt cho lưu học sinh Lào Chương 2: Đề xuất hệ thống bài tập nhằm củng cố và làm giàu vốn từ tiếng Việt cho lưu học sinh Lào Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP NHẰM CỦNG CỐ VÀ LÀM GIÀU VỐN TỪ TIẾNG VIỆT CHO LƢU HỌC SINH LÀO 1. Cơ sở tâm lí – giáo dục học 1. Những con đường tiếp nhận và tích lũy từ ngữ Có hai con đường để học sinh tiếp nhận và tích lũy từ ngữ, làm phong phú vốn từ của mình. Theo các nhà tâm lí học, con đường thứ nhất dựa trên quy luật tiếp nhận từ ngữ của con người.
Lưu học sinh sang học ở Việt Nam thì phần lớn phải giao tiếp bằng tiếng Việt. Vì vậy dưới áp lực nhu cầu giao tiếp xã hội, khi nghe được từ, học sinh tiếp nhận được vỏ âm thanh và đồng thời luận giải được một số ý nghĩa của từ qua hoàn cảnh thực tế sử dụng từ ngữ. Qua đó, học sinh bắt chước để dùng vào hoạt động giao tiếp. Cách học như vậy có tính tự nhiên, các nhà khoa học gọi là cách học vô thức.
Vận dụng con đường như vậy, người giáo viên nên biến con đường vô thức thành hữu thức, tạo ra các bài tập làm theo mẫu để học sinh có thể bắt chước để học sinh có thể tiếp nhận và tích lũy từ ngữ cho mình. Con đường thứ hai là dựa trên các quan hệ liên tưởng của con người, cụ thể là dựa trên quan hệ liên tưởng giữa các từ trong đầu óc con người. Khi ta nghĩ hay nói đến một từ nào đó thì có nhiều từ khác cũng xuất hiện trong đầu óc của người đó. Các nhà khoa học gọi đó là từ “phản xạ”, từ “phản xạ” được gợi lên từ một từ ban đầu gọi là từ “kích thích”.
Hai từ này có thể có mối quan hệ theo hàng dọc (quan hệ trực tuyến) hay có mối quan hệ theo hàng ngang (quan hệ hình tuyến). Vì vậy, khi có từ kích thích thì từ phản xạ sẽ xuất hiện có thể theo liên tưởng hàng dọc hoặc theo liên tưởng hàng ngang. Trong dạy học, vận dụng quan hệ liên tưởng có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Giáo viên 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhất thiết phải dựa trên quan hệ liên tưởng để củng cố và mở rộng vốn từ cho học sinh, giúp các em tích lũy được nhiều từ ngữ và sử dụng linh hoạt các từ đó.
Kĩ năng và việc rèn luyện kĩ năng sử dụng từ cho học sinh Mỗi hoạt động giao tiếp gồm hai quá trình là tạo lập và tiếp nhận ngôn bản. Để tạo lập một ngôn bản trong đầu óc của người phát diễn ra hai thao tác lựa chọn và kết hợp. Thao tác lựa chọn ứng với việc huy động một vốn từ để tìm ra từ vốn từ đó những từ ngữ thích hợp cho ngôn bản. Từ những từ tìm được phải kết hợp chúng lại theo quy tắc, chuẩn mực nhất định để tạo thành câu, thành ngôn bản biểu đạt nội dung, tư tưởng, tình cảm của người phát.
Người nhận, muốn lĩnh hội được ngôn bản này phải có thao tác tương ứng, huy động hiểu biết về từ ngữ để phân tích và giải mã ngôn ngữ. Điều kiện tốt nhất để người tiếp nhận và lĩnh hội được đầy đủ ngôn bản là các từ mà người tạo lập dùng phải có trong ngôn ngữ của người tiếp nhận cũng có thể cảm nhận được thái độ tình cảm của người phát. Trong dạy học, việc rèn cho học sinh các kĩ năng nói, viết chính là giúp học sinh thực hiện thành thục các thao tác lựa chọn và kết hợp, rèn kĩ năng nghe, đọc là giúp học sinh phân tích và giải mã ngôn bản. Nhưng muốn rèn được các thao tác trên điều kiện không thể thiếu đó là học sinh phải có vốn từ phong phú và phải có kĩ năng về từ vựng.
Nhà trường cũng là nơi đảm bảo cho học sinh hai điều kiện này. Đặc điểm nhận thức của lưu học sinh Lào Học sinh Lào khi sang học tập và nghiên cứu ở Việt Nam chủ yếu tập trung ở độ tuổi từ 18 – 25 tuổi. Ở độ tuổi này, học sinh đã có sự phát triển tương đối hoàn thiện về tri giác, sự chú ý, nhận thức và tưởng tượng. Tuy nhiên, do học tiếng Việt là học ngôn ngữ hai, học sinh phải tiếp xúc từ đầu với một ngôn ngữ hoàn toàn mới, khác xa với tiếng mẹ đẻ của mình nên nhìn chung nhận thức của học sinh là nhận thức cảm tính.
16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bắt đầu học một ngôn ngữ mới nên vốn từ của học sinh về ngôn ngữ đó gần như không có, hoặc có nhưng rất ít. Do đó, khi học tiếng Việt, tư duy của học sinh Lào vẫn mang tính cụ thể, hình tượng. Vì vậy, khi dạy từ cho học sinh rất cần thiết phải dùng tranh ảnh hay hình vẽ để học sinh nắm bắt từ dễ dàng và hiểu nghĩa tiếng Việt một cách đơn giản hơn. Nội dung bài học không phải chỉ được các em tiếp thu bằng cách nghe qua lời giảng của giáo viên mà còn thông qua việc trực quan một cách tường minh mối quan hệ giữa các nội dung lí thuyết.
Đồ dùng trực quan rất đa dạng, đó có thể là tranh ảnh, vật thật, thậm chí chúng ta có thể coi các từ tiếng Lào khi được giáo viên lấy làm ví dụ để giảng bài cũng là đồ dùng trực quan. Ở độ tuổi từ 18 – 25, con người đã hoàn toàn làm chủ được chú ý của mình, hay nói cách khác, sự chú ý là có chủ định. Tuy nhiên, với học sinh Lào khi học ngôn ngữ hai là tiếng Việt thì sự chú ý không chủ định lại là đặc điểm cơ bản. Bởi vì, môi trường sống và những khó khăn mà học sinh gặp phải khi học ngôn ngữ hai làm cho khả năng chú ý của các em bị hạn chế.
Vì thế, trong quá trình dạy học, giáo viên phải tạo được những bài tập kích thích sự chú ý của học sinh bằng những dạng bài tập có nhiệm vụ làm cho học sinh thích thú, có ngữ liệu gần gũi để các em thấy tiếng Việt không quá xa lạ và không quá khó. Khi học tiếng Việt như một ngôn ngữ hai, tư duy và tưởng tượng của lưu học sinh Lào bị chi phối rất nhiều bởi tiếng mẹ đẻ. Khi gặp khó khăn trong quá trình tìm từ, học từ, trong quá trình tư duy bằng tiếng Việt, ngay lập tức học sinh sẽ tư duy bằng tiếng mẹ đẻ của mình. Đó cũng là một trong những hạn chế trong đặc điểm nhận thức của lưu học sinh Lào.
Tuy nhiên, trong quá trình dạy, giáo viên nên biến hạn chế này thành phương thức để dạy từ cho học sinh có hiệu quả. Giáo viên nên sử dụng các bài tập đối chiếu giữa tiếng Việt với tiếng mẹ đẻ để kích thích từ duy, trí tưởng tượng của học sinh, giúp học sinh học tiếng Việt tốt hơn. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Lưu học sinh Lào khi học tiếng Việt mang theo những nét chung của dân tộc do hoàn cảnh kinh tế tạo nên, đồng thời từng em lại có những đặc điểm tâm lí riêng. Vì vậy, trong giáo dục, nhà sư phạm cần phải chú ý những đặc điểm tâm lí chung và riêng của các em để có thể điều chỉnh nội dung và phương pháp dạy cho phù hợp với tâm lí của các em, tạo cho các em sự tự tin thoải mái khi học tiếng Việt.
Cơ sở tâm lí ngôn ngữ học Tâm lí ngôn ngữ học là một khoa học liên ngành, nghiên cứu hoạt động trong quá trình sử dụng ngôn ngữ và hình thành ngôn ngữ ở con người. Xem xét quá trình tích lũy vốn từ, phát triển và mở rộng vốn từ là một phần nội dung của tâm lí ngôn ngữ học. Nó làm tiền đề quan trọng cho việc dạy mở rộng vốn từ. Muốn sử dụng từ ngữ trong hoạt động giao tiếp thì đầu tiên người sử dụng phải có năng lực từ ngữ, nghĩa là phải có một vốn từ phong phú và đa dạng, được sắp xếp một cách khoa học.
Theo tác giả Phan Thiều “Con người học từ, trước hết là phải học trong thực tiễn giao tiếp. Khi sử dụng trong quá trình giao tiếp, từ ngữ không đứng riêng rẽ mà tồn tại trong câu, trong một văn bản nhất định (là câu, là bài) gắn liền với những hoàn cảnh thực tại nhất định. Chính văn cảnh, hoàn cảnh trong đó, từ ngữ mới xuất hiện sẽ thúc đẩy người nghe, người đọc tìm hiểu từ ngữ mới đó. Đồng thời là cơ sở dựa vào đó mà người nghe, người đọc dần dần đoán nhận ra nội dung từ ngữ, qua đó mà tiếp nhận, mà chiếm lĩnh từ ngữ mới của riêng mình” [23, tr 26 - 30].
Nhà nghiên cứu Đỗ Hữu Châu cũng khẳng định: “Nếu từ tách khỏi hoạt động giao tiếp thì sẽ mất sức sống” [6]. Vì vậy, để có được vốn từ phong phú thì người dạy và người học phải gắn liền với hoạt động giao tiếp. Về quá trình lĩnh hội từ ngữ của con người, theo LS. Vygotski, ông cho rằng, tư tưởng của con người ta không phải được thể hiện trong từ mà nó 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com được hoàn thiện trong bản thân từ.
Nghĩa của nó là đơn vị được tư duy bằng ngôn ngữ. Chúng ta thực sự nắm được nghĩa của từ khi chúng ta nắm được hệ thống các mối quan hệ, nắm được sự đối lập trong quá trình sử dụng chúng trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ. Cấu trúc nghĩa của từ chỉ được xác định bởi các từ bên cạnh và ngôn cảnh giao tiếp. Việc tích lũy vốn từ trong đầu óc con người ta không cô lập, đơn lẻ mà là sự sắp xếp thành một hệ thống liên tưởng nhất định.
Hệ thống liên tưởng là một tập hợp các từ ngữ có những điểm chung nào đó về nội dung hoặc hình thức, khiến cho người ta có thể từ một từ này dễ dàng liên tưởng đến một từ khác cùng một hệ thống. Qua thí nghiệm của các nhà tâm lí – ngôn ngữ học thì các từ được tích lũy và tồn tại trong đầu óc chúng ta theo một sự liên tưởng về mặt ngữ nghĩa. Nếu đưa ra một từ kích thích người ta sẽ thu được nhiều từ khác có liên quan về nghĩa.