ĐẶT VẤN ĐỀ Lương thực, thực phẩm, đặc biệt là các nông sản chính như thóc, gạo, ngô, khoai, sắn, đậu, đỗ và lạc là nguồn năng lượng chính nuôi sống loài người, và còn cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp để tạo ra các sản phẩm có giá trị cao như dầu thực vật, dầu khô, bánh kẹo, và sản xuất cây thức ăn và phát triển công nghiệp chế biến thức ăn cho chăn nuôi. Bên cạnh đó cây họ đậu là những cây trồng có khả năng cải tạo đất, tăng độ phì nhiêu của đất góp phần làm tăng năng suất của các cây trồng khác. Việc nâng cao chất lượng nông sản cần các kĩ thuật bảo quản, giữ các giá trị dinh dưỡng , ngăn chặn các chất độc hại nhiễm trên các nông sản đó đồng thời chế biến chúng thành những thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao. Sản lượng các mặt hàng nông sản ngày càng nhiều, các sản phẩm nông nghiệp đã ngày một đa dạng hơn, phong phú hơn cả về chủng loại, mẫu mã và ngày càng hoàn thiện hơn về chất lượng.
Nhà nước đã xác định nông sản là mặt hàng xuất khẩu quan trọng tạo ra nguồn thu ban đầu cực kỳ cần thiết cho phát triển kinh tế đất nước. Việt Nam đã vươn lên thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới, hàng nông sản của Việt Nam đã có mặt ở 150 nước và nhiều thị trường trên thế giới. Ở Việt Nam qua kết quả điều tra từ năm 1995 đến năm 2006 cho thấy tất cả các nấm gây bệnh và hầu hết các bệnh gây hại đến năng suất chất lượng lúa trên đồng ruộng đều là các bệnh có khả năng tồn tại và truyền qua hạt giống. flavus gây hại phổ biến trên hạt giống lúa, ngô, đậu đỗ, lạc.
không những làm ảnh hưởng trực tiếp đến sức nảy mầm mà còn sinh ra độc tố aflatoxin gây ảnh hưởng nguy hại đến đời sống con người. Ngoài lúa, đậu đỗ, lạc, rau và cây thực phẩm, bệnh hại trên hạt giống các loại cây trồng khác cũng rất đa dạng và gây thiệt hại lớn trong sản xuất. Bệnh hạt giống là một trong những nguyên nhân chính gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng hạt và làm giảm đáng kể giá trị xuất khẩu của một số nông sản ở nước ta (Nguyễn Kim Vân & cs. Tại Hà Nội và phụ cận, hàng năm có nhiều diện tích trồng ngô, lạc, đậu tương; cây ngô là cây trồng chính để phục vụ chăn nuôi và thực phẩm cho con người.
trong những năm gần đây, việc gia tăng về diện tích trồng và việc áp dụng 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các biện pháp kỹ thuật thâm canh làm phát sinh ngày càng nhiều dịch hại nguy hiểm, đặc biệt là nhóm nấm gây bệnh mốc hồng và mốc vàng hạt ngô gây ra. Nhóm nấm này phát sinh và gây hại trong cả khi cây trên đồng ruộng và trong kho bảo quản, ảnh hưởng đến chất lượng hạt giống. Đây cũng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự giảm sút về năng suất và phẩm chất hạt ngô, lạc, đậu tương. Xuất phát từ thực tiễn trên, được sự phân công của Khoa Nông học-Học viện Nông nghiệp Việt Nam, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Đỗ Tấn Dũng, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu bệnh nấm hại hạt giống ngô, lạc, đậu tương vùng Hà Nội và phụ cận”.
MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU 1. Mục đích Xác định thành phần, mức độ phổ biến của các loài nấm hại hạt giống ngô, lạc, đậu tương vùng Hà Nội và phụ cận năm 2019 và khảo sát một số biện pháp xử lý nhằm phòng trừ bệnh nấm hại hạt. Yêu cầu - Nghiên cứu, xác định thành phần và mức độ nhiễm của các loài nấm hại hạt giống ngô, đậu tương, lạc vùng Hà Nội và phụ cận năm 2019. - Nghiên cứu đặc điểm hình thái của một số loài nấm phổ biến gây hại trên các mẫu hạt giống ngô, lạc, đậu tương.
- Đánh giá hiệu lực ức chế của nấm Trichoderma viride với một số loài nấm phổ biến hại hạt giống ngô, lạc, đậu tương trên môi trường nhân tạo. - Khảo sát một số biện pháp xử lý nhằm phòng trừ một số loài nấm hại trên các mẫu hạt giống ngô, lạc, đậu tương. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC Trên cây ngô có tất cả 85 bệnh gây hại trong đó có 31 bệnh do nấm. Trong số các loài nấm gây bệnh trên cây ngô có khá nhiều nấm hại và truyền được qua hạt giống ngô (Anderegg and Guthrie,1981). Kim et al. (1984), đã kiểm tra 7 mẫu hạt giống ngô được lấy từ tỉnh Kangweon, Hàn Quốc.
Kết quả cho thấy rằng tất cả các mẫu hạt ngô đều bị nhiễm nấm F.moniliforme với tỉ lệ nhiễm bệnh dao động từ 6,0 ̶ 79,5 %. Tác giả Nyvall (1989),đã phát hiện được 10 bệnh hại trên hạt giống ngô và trên cây ngô ngoài đồng ruộng bao gồm: colletotrichum graminicola; Cephalosporium acremonium; Botryodiplodia theobromae; Claviceps gigantean; Fusarium moniliforme; Fusarium subglutinan; Pythium spp.; Diplodia maydis; Gibberella zea; Rhizoctonia solani. Tất cả những loài nấm này đều có khả năng truyền qua hạt giống. Basak và Lee (2002), tiến hành thu thập các mẫu hạt giống ngô tại ruộng thí nghiệm của trường đại học Dongguk, Hàn Quốc và tiến hành giám định xác định thành phần bệnh nấm trên hạt.
Kết quả xác định được 6 loài nấm là Alternaria alternate, Aspergillus niger, F.moniliforme, Fusarium sp. và Ustilago zeae. Tỉ lệ phần trăm hạt nhiễm nấm F.moniliforme là cao nhất và tỉ lệ thấp nhất là penicillium sp. Sự lan truyền của tất cả các loài nấm này từ hạt giống sang cây con đã được kiểm tra.Trong số các nấm hại hạt giống ngô trên thì các loại nấm A.moniliforme và Fusarium sp.
gây thối rễ và tạo triệu chứng bệnh trên cấy con. Kết quả nghiên cứu của Somda. Sanon (2008), trên 22 mẫu hạt giống ngô thu thập từ 14 khu vực tại Burkina Faso và khả năng lan truyền của chúng sang cây non, đã phát hiện được 10 loài nấm kí sinh và 5 loài nấm hoại sinh trên hạt ngô. Trong số 10 loài nấm kí sinh thì nấm Acremonium strictum và F.
moniliforme có tần suất xuất hiện trên hạt cao nhất (100% các mẫu đều nhiễm 2 loại nấm này) sau đó lần lượt đến các loài nấm Phoma sp., Fusarium equiseti, Fusarium palidoroseum, Botryodiplodia theobromae và Curvularia sp. những nấm có tần suất xuất hiện ít nhất là Colletrichum graminicola, Exserohilum rostratum và Bipolaris maydis. Còn đối với các nấm hoại sinh thì hai loài nấm A.niger và Penicillium sp. đều xuất hiện ở tất cả những mẫu kiểm tra.
3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Niaza và Dawar (2009), đã tiến hành thu thập và giám định thành phần nấm hại hạt ngô từ 100 mẫu hạt giống ngô tại nhiều khu vực khác nhau thuộc Pakistan. Kết quả đã phân lập và giám định được 56 loài nấm thuộc 23 họ nấm khác nhau. Khoảng 70% tất cả các mẫu kiểm tra đều bị nhiễm nấm A. wentii and Penicillium spp.
Trong số 3 phương án dùng để giám định thành phần nấm thì phương pháp làm lạnh sâu là phương pháp tốt nhất để giám định các loài nấm như Drechslera spp., and Penicillium spp., trong khi đó phương pháp đặt hạt trên đĩa agar rất thích hợp để giám định một số loài nấm là Aspergillus spp., Curvularia clavata and Rhizopus spp. Trong số 56 loài nấm được phát hiện thì những loài nấm Arthrinium phaeospermum, A.tubingensis, Curvularia clavata, C. pallescens, Bipolaris maydis, Drechslera carbonum, Diplodia zea, Fusaium crockwellense, F. funiculosum, Phoma hebarum, Rhizopus oligosporum, Rhizoctonia solani, Syncephalastrum racemosum và Trichoderma harzianum là những loài đầu tiên được công bố là gây hại trên hạt giống ngô ở Pakistan.
Ở Indiana (2017), phổ biến nhất là bệnh Phomopsis (Phomopsis spp.), Vết hạt màu tím của đốm hồng hạt, đốm lá Cercospora (Cercospora kikuchii); Bệnh đốm mắt cua (Cercospora sojina); Bệnh thán thư (Colletotrichum spp.); Bệnh sương mai (Pernospora manshurica); và nhiều loại nấm xâm lấn thứ cấp khác của vỏ bị thương bao gồm Alternaria, Fusarium, Cladosporium và Penicillium. Từ năm 1995 – 1997, ở Brazil người ta đã điều tra, nghiên cứu về bệnh nấm hại đậu tương. Qua phân tích trên 985 mẫu bằng phương pháp giấy thấm cho thấy trên hạt đậu tương nấm Fusarium semitectum là phổ biến nhất sau đó đến nấm Phomopsis sp., Collectotrichum truncatum và Cercospora kikuchii trên các mẫu kiểm tra. Khả năng nấm nảy mầm, phát triển và sinh bào tử trên hạt phụ thuộc vào nguồn nước và nhiệt độ cũng như thành phần khí giữa các hạt (Zhang và cộng sự, 2014), và những yếu tố này ảnh hưởng đến sự hư hỏng của hạt.
Điều kiện môi trường khác nhau dẫn đến thành phần cộng đồng nấm khác nhau. Chẳng hạn, nấm mốc lưu trữ trên Zea mays là do A. flavus và Penicillium spp. Cho đến nay, đã có nhiều nghiên cứu chuyên sâu về sinh thái nấm sau thu hoạch, đặc biệt là liên quan đến tác động của sự phát triển của nấm 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đối với ngũ cốc được lưu trữ.
ochraceus, Penicillium verrucosum và Fusarium phần Liseola, cũng như độc tố nấm được giải phóng của chúng, là nguồn gây ô nhiễm trong các hạt ngũ cốc được lưu trữ (Magan et al. Hạt và cây giống lạc rất dễ bị một số mầm bệnh gây hại. Bệnh thối quả lạc là một bệnh truyền qua đất trên toàn thế giới và là yếu tố hạn chế trong sản xuất lạc. Vỏ bị nhiễm bệnh cho thấy nhiều mức độ đổi màu khác nhau, từ màu nâu đỏ bề mặt đến màu đen hoàn toàn của thân tàu, cộng với các giai đoạn khác nhau của vỏ tàu và phân rã hạt nhân.
Chốt có thể bị nhiễm bệnh và mối nối giữa chốt và vỏ bị suy yếu đến mức mất vỏ đáng kể khi đào. Một số tác giả đã phân lập các loại nấm sau từ vỏ, vỏ và hạt lạc: Rhizoctonia spp., Botryodiplodia theobromae, Chaetomium sp. (Abou-Talib, 1970; El-Khadem et al., 1974; El-Akkad, 1982; Porter et al., 1990; Richardson, 1990; Baird et al., 1993; Dharmaputra và Retnowati, 1996; Shim et al. Elwakil và Mohamed A.
El-Metwally, (2001), năm mươi mẫu hạt giống lạc được thu thập từ các thị trường Ai Cập đã được thử nghiệm cho sự hiện diện của nấm hạt giống. Hai mươi bảy loài nấm đã được phân lập và xác định. Việc sử dụng phương pháp kiểm tra sức khỏe hạt giống blotter dẫn đến sự cô lập số lượng hạt giống lớn hơn so với phương pháp đông lạnh sâu. Phương pháp đông lạnh sâu có hiệu quả hơn đối với việc phân lập Aspergillus nidulans, A.
carneus, trong khi blotter có hiệu quả hơn trong việc phân lập Alternaria Alternata, Mucor sp. và Rootphylium sp. Phân lập Cephalosporium sp. là kỷ lục đầu tiên về loại nấm trên hạt lạc ở Ai Cập.
Không có báo cáo trước đây về loại nấm này trên đậu phộng được tìm thấy.